
Phòng trừ sâu bệnh
trên cây Bưởi
Sâu hại
1. Sâu vẽ bùa (Phyllocnistis citrella)
Hình thái và cách gây hại: Thành trùng là loại bướm rất nhỏ, dài
khoảng 2mm, cánh rộng 4-5mm, toàn thân có màu vàng nhạt. Trứng rất nhỏ
dài khoảng 0.2-0.3mm, thường được đẻ ở mặt dưới gần gân chính của lá, ấu
trùng màu xanh nhạt, trong suốt, dài khoảng 0,4mm và đục thành những
đường ngoằn ngoèo trên lá tạo nên những ánh bạc rất dễ nhận diện. Vòng
đời sâu vẽ bùa khoảng 2 tuần. Lá non bị tấn công sẽ không phát triển và co
rúm lại, giảm khả năng quang hợp, do đó cây sinh trưởng và phát triển kém,
hoa trái dễ bị rụng, nhất là cây con mới trồng (Hình 19 và 20).
phòng trị:

Trong tự nhiên có nhiều loài ong ký sinh thuộc họ Encyrtidae và
Enlophidae ký sinh trên nhộng.
Nên chú ý phòng trị sâu vẽ bùa ngay trong giai đoạn ra lá non như vào
đầu mùa mưa, tỉa cành cho ra lộc tập trung, chóng thành thục để hạn chế sự
phá hại của sâu. Phun thuốc ngay khi lá non vừa có triệu chứng đầu tiên như
Saliphos 35 EC liều lượng 25 –30 cc/8lít, Sherzol 205 EC liều lượng 25-
30cc/8lít,Confidor 5-10 ml/ bình 8 lít, dầu khoáng DC-Tron Plus 50 ml/ bình
8 lít.Selecron 10-15g/bình 8 lít.
3. Rầy mềm (Toxoptera citricidus)
Hình thái và cách gây hại: Rầy mềm màu đen, dài khoảng 2mm
thường sống tập trung trên các đọt non. Chúng chích hút nhựa làm các đọt
non không phát triển và co rúm lại, phân chúng thải ra nhiều chất đường mật
kích thích nấm bồ hóng phát triển trên lá làm giảm khả năng quang hợp. Rầy
mềm là môi giới truyền virus gây bệnh Tristeza trên cây bưởi (Hình 23).

Phòng trị:
Tỉa cành để cây ra đọt non tập trung
Trong tự nhiên có những loài ong ký sinh thiên địch tấn công rầy
mềm như: bọ rùa, green lacwing, ruồi ăn rệp (Syrphidae) và ong ký sinh
thuộc họ Aphididae.
Rầy mềm thường trong giai đoạn ra đọt non của cây nên chú ý phòng
trị trong giai đoạn nầy bằng các loạI thuốc như Lancer 75 WP 15g/ 8 lít,
Butyl 10 WP 25g/8 lít, Applaud 10WP 10-15g/ 8 lít, Basa 50ND 20ml/8lít.
4. Nhóm Nhện
Hình thái và cách gây hại: Chúng thường tập trung tấn công trên
lá non hay trái non từ khi đậu trái đến 2 tháng tuổi. Nhóm nhện tập trung
trên bề mặt của lá và trái cạp lớp biểu bì tạo thành những chấm nhỏ li ti màu
vàng và rụng sớm,trên trái gây da cám da lu . (Hình 24 và 25).

Phòng trị:
Phát hiện thật sớm khi vừa đậu trái và phun các loại thuốc trừ nhện
cho đến khi trái lớn như Comite 73 EC 5-10cc/8lít, Sulox 80WP 50g/8lít,
Pegasus 500DD 10 ml/ 8 lít, Ortus 10-15 ml/ 8 lít.
5.Bù lạch:
Hình thái và cách gây hại: Rất phổ biến trên cây họ cam quýt với
nhiều loại khác nhau, tuy nhiên có một loại quan trọng là loại có màu vàng
nhạt, dài khoảng 1mm. Bù lạch tấn công trên bông cây cam quýt và cũng tấn
công trên trái.(Hình 26 và 27).
Phòng trị: Dùng bẫy màu vàng đặt khi cây ra hoa để phát hiện .
Khi hoa vừa rụng cánh và khi thấy có triệu chứng đầu tiên trên trái,
tiến hành phun các loại thuốc như Fenbis 25 EC 30 –35 cc/8lít , Malate 73
EC 25-30cc/8lít, Confidor.
6. Nhóm rệp sáp
Hình thái và cách gây hại: Đặc điểm chung của nhóm rệp sáp là
cơ thể tiết ra lớp sáp trắng để bảo vệ cơ thể hay tạo ra một lớp vỏ cứng trên

thân còn gọi là rệp dính. Chúng thường trên cành non, trái để chích hút
nhựa, ngoài ra chúng còn kích thích nấm bò hóng phát triển trên lá và trái
nơi chúng thải phân ra. (Hình 28).
Phòng trị: Trong điều kiện tự nhiên cả vùng ĐBSCL nhóm nầy chưa
thấy thiệt hại đang kể, tuy nhiên khi mật số cao cần phun thuốc để phòng trị
như Pyrinex 20 EC, Fenbis 25 EC, Admire liều lượng theo khuyến cáo, Dầu
khoáng DC-Tron Plus 50ml/bình 8lít.
B. Bệnh hại
1. Bệnh Tristeza
Triệu chứng: Bệnh Tristeza là một bệnh gây hại quan trọng trên
cây có múi ở các nước trồng cây cam quýt trên thế giới. ở ĐBSCL bệnh xuất
hiện nhiều trên chanh giấy. Bệnh Tristeza do virus làm hỏng mạch dẫn nhựa
từ trong thân cây xuống rễ, làm rụng lá, chết đọt, lùn cây và làm cho bộ rễ bị
thoái hóa.
Bệnh lây lan qua mắt ghép, hoặc do các loài rầy mềm như :rầy mềm
nâu (Toxoptera citricidus), rầy mềm đen (Toxoptera aurantii) hoặc rầy mềm
trên bông (Aphis gossipii) chích hút nhựa cây và lan truyền bệnh.(Hình 29).

