
BAN QUẢN LÝ KHU NÔNG NGHIỆP CÔNG NGHỆ CAO TP.HCM
TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU VÀ PHÁT TRIÊN NÔNG NGHIỆP CÔNG NGHỆ CAO
QUY TRÌNH SẢN XUẤT
NẤM NHỘNG TRÙNG THẢO
Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2018

QUY TRÌNH SẢN XUẤT NẤM
NHỘNG TRÙNG THẢO
I. Giới thiệu tổng quan
1.1. Phạm vi áp dụng: Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Nông nghiệp
Công nghệ cao - Ấp 1, xã Phạm Văn Cội, Huyện Củ Chi TP.HCM
1.2. Đối tượng áp dụng: nấm dược liệu Nhộng trùng thảo (Cordyceps
militaris)
1.3. Đặc điểm, đặc tính: Giới thiệu về Cordyceps militaris
1.3.1. Phân loại nấm Cordyceps militaris
Giới: Fungi
Ngành: Ascomycota
Lớp: Sordariomycetes
Bộ: Hypocreales
Họ: Clavicipitaceae
Chi: Cordyceps
Loài: Cordyceps militaris
Chi nấm Cordyceps thuộc ngành nấm túi, là loại nấm ký sinh trên côn
trùng và một số động vật chân khớp. Cordyceps đã được thu mẫu và miêu tả trên
400 loài khác nhau ở các vùng khác nhau trên thế giới. Trong đó có nhiều loài
được chú ý nhiều đến dược lý và dùng làm thuốc chữa bệnh với 2 loài chính là
Cordyceps sinensis và Cordyceps militaris.
1.3.2. Đặc điểm sinh học nấm Cordyceps militaris
Loài nấm Cordyceps militaris phân bố rộng rãi ở độ cao từ 0 đến hơn
2000m so với mực nước biển. Loài này thường được biết đến là loài nấm màu
cam ký sinh trên sâu bướm. Cordyceps militaris được nghiên cứu nhiều như một
nguồn thay thế cho C. sinensis do thành phần hóa học và dược tính của chúng

tương tự nhau. Quả thể của C. sinensis và C. militaris rất có giá trị và có chứa
những chất chuyển hóa khác với sợi nấm sinh dưỡng.
Cordyceps militaris là loài được biết đến nhiều nhất trong chi Cordyceps.
Sự đa dạng về hình thái và ký chủ giúp cho C. militaris có mặt ở nhiều vùng địa
lý và vùng sinh thái khác nhau trên thế giới, (Mains, 1958; Sung và Spatafora,
2004). Các ký chủ phổ biến nhất trong tự nhiên bao gồm ấu trùng và nhộng cánh
vẩy, các ký chủ hiếm gặp khác là côn trùng cánh cứng, cánh màng và hai cánh.
1.3.3. Một số hoạt chất sinh học của Cordyceps
Các hoạt chất sinh học có trong nấm Cordyceps, quan trọng nhất là nhóm
chất cordycepic acid, cordycepin và polysaccharide có tác dụng rất tốt trong
điều trị bệnh ung thư và các bệnh do virus. Ngoài ba thành phần trên khi phân
tích nấm người ta còn phát hiện rất nhiều hợp chất có giá trị N-
acetylgalactosamine, và exopolysaccharide, chitinase, cicadapeptins và
myriocin, các chất có hoạt tính sinh học là saccharide (trehalose), nucleosides
(adenosine, inosine), strerols (ergosterol).
Nucleotides
Nucleotides (gồm có adenosine, uridine và guanosine) là các thành phần
khá đa dạng trong nấm Cordyceps. Nhiều nghiên cứu cho rằng guanosine có
hàm lượng cao nhất trong tất cả các mẫu tự nhiên và khi nuôi cấy trong điều
nhân tạo hàm lượng của nucleotide thường cao hơn Cordyceps spp. tự nhiên.
Nucleotide trong Cordyceps tự nhiên bắt nguồn từ sự phân rã của nucleoside
trong suốt quy trình bảo quản, tiếp đó các nhà nghiên cứu cũng tìm ra rằng độ
ẩm có thể làm tăng đáng kể hàm lượng nucleotide trong Cordyceps khi nuôi trên
môi trường rắn.
Adenosine được cho là có tác dụng điều hòa miễn dịch, bảo vệ tim mạch.
Trong hệ sợi và quả thể của hầu hết các loài Cordyceps có hàm lượng adenosine
cao và dao động từ 0,28 tới 14,15 mg/g. Hàm lượng adenosine trong nấm của C.
militaris là 2,45 ± 0,03 mg/g và được chứng minh là cao hơn hàm lượng
adenosine trong quả thể của C. sinensis tự nhiên (1,643 ± 0,03 mg/g). Trong khi

hệ sợi lên men của C. militaris và C. sinensis có hàm lượng adenosine tương tự
nhau.
Cordycepin lần đầu tiên được tách ra từ C. militaris năm 1950 do
Cunningham và ctv thực hiện, sau đó chúng cũng được tìm thấy ở C. sinensis và
C. kyushuensis. Cordycepin từ C.militaris có hoạt tính sinh học như ức chế tổng
hợp RNA và DNA và ngăn chặn sự nhân lên của virus. Cordycepin có khả năng
kháng nấm, kháng ung thư và kháng virus. Gần đây, cordycepin cũng cho thấy
khả năng điều hòa sản phẩm của interleukins trong tế bào lympho T. Cordycepin
phát huy tác dụng gây độc tế bào thông qua methyl hóa nucleic acid, ức chế sự
phát triển của Clostridium paraputrificum và Clostridium perfingens, nhưng
không tác động nào tới Bifidobacterium spp. và Lactobacillus spp..
Cordyceps tự nhiên có hàm lượng cordycepin khoảng 0,006 – 6,36 mg/g.
Các nhà khoa học cho biết khi thu nhận trong tự nhiên, nồng độ cordycepin
trong quả thể C. militaris cao hơn C. sinensis với hàm lượng lần lượt là 2,65 và
1,64 mg/g.
Trong quả thể và hệ sợi nấm C. militaris có sự khác nhau về hàm lượng
adenosine và cordycepin. Hàm lượng adenosine trong quả thể là 0,18% và trong
hệ sợi nấm là 0,06%. Và hàm lượng cordycepin trong quả thể là 0,97% và trong
hệ sợi nấm là 0,36% .
Sterol
Ergosterol là sterol duy nhất của nấm và là tiền chất thiết yếu của vitamin
D2, có giá trị dược liệu quan trọng. Hàm lượng ergosterol trong quả thể nhân tạo
của Cordyceps rất cao (10,68 mg/g) cao hơn nhiều so với hệ sợi nấm (1,44
mg/g).
Protein và các amino acid
Hàm lượng amino acid tổng của C. militaris trong quả thể cao hơn trong
hệ sợi nấm. Các amino acid nhiều nhất của C. militaris là lysine, glutamic acid,
proline và threonine trong quả thể, proline và lysine trong hệ sợi nấm. Chang và

ctv (2001) đã báo cáo rằng những amino acid nhiều nhất trong hệ sợi C.
militaris là aspartic acid (2,66 mg/g), valine (2,21 mg/g) and tyrosine (1,57
mg/g). Những kết quả này cho thấy rằng có sự khác nhau về thành phần amino
acid trong sợi nấm được lên men và quả thể.
Nấm Cordyceps có hàm lượng protein thô trong khoảng 29,1 – 33%.
Protein này bao gồm 18 loại amino acid, gồm có aspartic, threonine, serine,
glutamate, proline, glycine, valine, methionine, isoleucine, leucine, tyrosine,
phenylalanien, lysine, histidien, cystine, cysteine và tryptophan. Hàm lượng
amino acid sau khi thủy phân hầu hết là 20 – 25%, lượng thấp nhất là 5,53%,
cao nhất là 39,22%. Hàm lượng cao nhất là glutamate, arginine và aspartic acid.
Các thành phần có tác dụng dược lý chính là arginine, glutamate, tryptophan và
tyrosine. Các chủng Cordyceps spp. cũng chứa các loại protein, peptide,
polyamine và tất cả các amino acid thiết yếu. Thêm nữa, Cordyceps spp. cũng
chứa các loại dipeptide vòng hiếm gặp gồm có cyclo-[Gly-Pro], cyclo-[Leu-
Pro], cyclo-[Val-Pro], cyclo-[Ala-Leu], cyclo-[Ala-Val] và cyclo-[Thr-Leu].
Một lượng nhỏ polyamines như 1,3-diamino propane, cadavarine spermidine và
putrescine cũng được tìm thấy.
Acid béo
Ở Cordyceps có chứa nhiều acid béo không no (57,84%) gồm có C16:1,
C17:1, C18:1, C18:2. Trong đó có chất béo cần thiết như linoleic acid (C18:2)
chiếm hàm lượng cao nhất (38,44%), tiếp đó là oleic acid 17,94%. Các acid béo
no chiếm 42,16% bao gồm: C14, C15, C16, C17, C18, C20 và C22. Acid
palmitic và acid octadecanoic chiếm hàm lượng cao nhất lần lượt là 21,86% và
15,78%. Các acid béo không no có chức năng giảm lipid máu và phòng ngừa
bệnh tim mạch.
Polysaccharide
Nấm Cordyceps spp. được đánh giá cao về giá trị dinh dưỡng trong sản
xuất thực phẩm chức năng và sản xuất thuốc trong phòng và trị bệnh. Chúng
chứa rất nhiều loại đường, bao gồm mono-, di- và các oligosaccharide và nhiều

