
Phòng trừ sâu bệnh hại cây hồ tiêu
Việt Nam hiện nay đã là một
trong những nước có sản lượng
tiêu xuất khẩu đứng vào tốp dẫn
đầu của các nước có xuất khẩu
hồ tiêu trên thế giới. Điều tra tại
nhiều địa phương có trồng tiêu
như ở Quảng Trị, Bà Rịa Vũng
Tàu, Bình Phước, Đắk Nông, Gia
Lai, Đắk Lắk đã có nhiều điển hình trên qui mô lớn (nông trường) và kinh
tế hộ tư nhân đã đạt năng xuất từ 3- 4 tấn tiêu khô/ha. Đây là mức năng
xuất cao và đáng tự hào đối với nghề trồng tiêu ở Việt nam so với các nước
có truyền thống trồng hồ tiêu lâu đời trên thế giới. Điển hình là ở đảo Phú
Quốc nơi có 400 ha cây hồ tiêu trong độ tuổi kinh doanh đã thu mỗi năm
gần 2.000 tấn tiêu khô. Nông trường Sơn Thành Phú Yên đã đạt năng xuất
bình quân 3 tấn/ha trên diện tích 200 ha và cho tiêu leo lên cây choái sống.
Tại huyện Chư Xê Gia Lai, Đắk Lấp Đắk Nông có nhiều gia đình đạt năng
xuất từ 4- 5 tấn /ha. Điều trở ngại và thách thức lớn nhất đối với những
người trồng tiêu là tác hại của sâu bệnh. Một số loại sâu bệnh đã làm hủy
diệt các vườn tiêu ở một số địa phương như Phú Yên, Quảng Trị, ĐắkLắk ,
Đắk Nông, Bình Phước, Bình Dương, Phú Quốc . . . ngay cả trong thời kỳ
kinh doanh thậm chí chỉ trong một thời gian rất ngắn đã làm cho vườn tiêu
bị chết. Hiện tượng này không những xảy ra ở nước ta mà còn ở nhiều nước
trên thế giới cũng như vậy. Mới đây thiệt hại do sâu bệnh gây ra ở tỉnh Đắk
Nông đã làm thất thu tới 400 tỷ đồng. Bài viết này chỉ xin giới thiệu một số

loại sâu bệnh nguy hiểm nhất và cách phòng trừ để những người trồng tiêu
có thêm những hiểu biết cần thiết và vận dụng vào trong việc chăm sóc, bảo
vệ các vườn tiêu của mình nhằm tránh những thiệt hại đáng tiếc có thể xảy
ra mà mình không lường trước được.
1- Bệnh chết nhanh (còn gọi là bệnh chết ẻo, bệnh chết đột tử
(Sdently dead) bệnh này do một loại nấm thường có mặt ở trong đất gây
nên. Khi gốc tiêu bị ngập nước thì nấm xâm nhập vào hủy hoại các mô
của bộ rễ, làm cho rễ thâm đen, bị nặng có mùi hôi thối. Loại nấm gây nên
bệnh này có tên khoa học là Phytophthora spp gây ra. Biện pháp phòng trừ
tốt nhất ta chọn đất trồng hồ tiêu ở những nơi thoát nước. Tuyệt đối không
để cho cây hồ tiêu bị ngập úng trong mùa mưa. Nước là thủ phạm để cho
nguồn bệnh di chuyển và xâm nhập hủy hoại bộ rễ làm cho cây bị chết rất
nhanh chỉ sau từ một đến hai tuần lễ khi cây đã bị bệnh thì không thể cứu
chữa được vì vậy phương châm phòng bệnh là chính.
2 - Bệnh vàng lá:
Gây nên hiện tượng vàng lá thì có nhiều loại vi sinh vật trong đất.
Những loại chủ yếu cần phải kể đến là:
+ Bệnh vàng lá chết chậm (còn gọi là bệnh tiêu sầu) do một số loại
tuyến trùng gây hại trong đó phải kể đến loại tuyến trùng gây nốt sần sưng
u ở trên rễ có tên khoa học là Meloidogyne incognita là phổ biến nhất.
Tuyến trùng xâm nhập vào sinh sống ở trong các mô của bộ rễ, làm cho
bộ rễ hư hỏng, ngăn cản quá trình hút nước và các chất dinh dưỡng đưa
lên nuôi cây làm cho cây vàng héo và nếu bị nặng làm cho cây chết, đặc
biệt là vào mùa khô hạn. Kết quả nghiên cứu của bộ môn bảo vệ thực vật
thuộc Viện KHKT Nông lâm nghiệp Tây Nguyên cho thấy trong 5gam rễ
cây bị bệnh có nơi lên tới 12.744 con tuyến trùng ký sinh sinh sống. Về

biện pháp phòng trừ phải đặc biệt coi trọng các biện pháp canh tác, khi
trồng mới phải bón đủ phân hữu cơ. Phân hữu cơ giúp cho bộ rễ phát triển
tốt và giúp cho quá trình cân bằng sinh học ở trong đất như tạo điều kiện
cho các sinh vật có lợi phát triển để tiêu diệt tuyến trùng gây hại. Cứ 2- 3
năm bón phân hữu cơ một lần. Chú ý tủ gốc dày bằng các tàn dư hữu cơ
như vỏ cà phê, vỏ đậu đỗ các loại, rơm rạ, thân cây phân xanh đậu đỗ.
Trồng cây cúc vạn thọ giữa 2 hàng tiêu hoặc xung quanh gốc tiêu. Khi cây
cúc bắt đầu ra hoa thì chặt cây đem băm nhỏ vùi vào lớp đất ở tầng mặt
của gốc tiêu để diệt tuyến trùng ở trong đất. Khi trồng mới cần trộn 30g -
50g thuốc Mocap 10G vào phân chuồng bón lót cho mỗi hố trồng trên.
Khi đã để cho tuyến trùng xâm nhập vào trong rễ thì việc phòng trừ bằng
thuốc hóa học rất khó khăn, tốn kém và gây ô nhiễm môi trường. Nếu ở
nơi đã bị bệnh tuyến trùng gây hại ở mức độ nhẹ thì có thể dùng một trong
các loại thuốc như Mocap 10G, Nokaphlog với lượng 30g/ gốc để xử lý
đất 2 lần/ năm vào đầu và cuối mùa mưa vùng có bộ rễ tập trung với độ
sâu từ 10 - 20cm nhưng tránh không làm đứt rễ.
+ Bệnh vàng lá do nấm:
Thông thường ở trong đất đã có sẵn những loại nấm khi có bộ rễ cây
hồ tiêu phát triển thì chúng dễ dàng tấn công gây hại. Những loại nấm chủ
yếu gồm: Fusarium spp, Pythium spp, Phytophthora spp, Rhijoctonia sp.
Các loại nấm này xâm nhập vào hại bộ rễ thông qua các vết thương do côn
trùng như rệp sáp trích hút nhựa, tuyến trùng xâm nhập vào rễ, các vết
thương làm đứt rễ khi xới xáo bón phân. Do vậy để ngăn ngừa các loại
nấm hại trước hết phải lo diệt tuyến trùng là kẻ đã mở đường để cho nấm
xâm nhập vào bộ rễ. Biện pháp phòng ngừa có ý nghĩa nhất là không tạo
ra các vết thương ở rễ đặc biệt là những giai đoạn đất có độ ẩm cao, nhất
là trong mùa mưa. Nếu bón phân hữu cơ thì chỉ tiến hành vào giai đoạn

mới chớm vào mùa mưa. Bón phân hóa học chỉ xăm một lớp đất mặt
mỏng để không làm đứt rễ. Thực hiện tốt biện pháp tủ gốc dày giữ ẩm để
hạn chế sự mất nước làm cho cây dễ vàng héo. Biện pháp bón phân hữu
cơ hay sinh hóa hữu cơ có một vị trí quan trọng hàng đầu. Đó là những
biện pháp canh tác chủ yếu để hạn chế và ngăn ngừa bệnh rễ gây ra triệu
chứng vàng lá dẫn tới các vườn tiêu bị chết.
Biện pháp hóa học chỉ sử dụng khi cây bị bệnh nhẹ. Cây đã bị bệnh
nặng rồi thì dù có sử dụng thuốc hóa học để xử lý cũng không đưa lại hiệu
quả. Các loại thuốc dùng để xử lý đất ở vùng bộ rễ để trừ nấm có: Vi ben
C, Bendazol 50wp, Manzate 8WP, Topzin M 50WP, Bavistin 50SC,
Calixin 75EC, Validacin 3DD. Các loại thuốc bột dùng 30g cho một gốc,
các loại thuốc nước pha loãng từ 0,3 - 0,5% tưới vào vùng rễ của tiêu.
Tưới 2 - 3 lần, mỗi lần cách nhau 1 tháng. Chú ý tưới thuốc khi đất có đủ
độ ẩm, vì tưới thuốc vào đất khô thì hiệu lực của thuốc sẽ giảm hoặc kém
tác dụng do thuốc bị cố định chặt ở trong đất.
+ Vàng lá do rệp sáp:
Rệp sáp là loại sâu hại nguy hiểm nhất đối với người trồng tiêu.
Chúng có tên khoa học là Pseudococcus citri. Sự sinh sản của chúng rất
nhanh và có khối lượng quần thể lớn được bao bọc ở trong các ổ, màng
măng xông làm hủy hoại bộ rễ dẫn đến cây chết chỉ sau 1-2 năm kể từ khi
chúng bắt đầu tấn công. Do vậy phải phát hiện khi chúng mới xuất hiện để
diệt trừ kịp thời. Những biện pháp để phòng trừ rệp sáp gồm có:
- Đầu tiên khi đem đi trồng mới phải không có nguồn rệp sáp. Nếu
phát hiện thấy có rệp phải được xử lý triệt để trước khi đem trồng.

- Phải thường xuyên theo dõi sự xuất hiện của rệp sáp trên vườn tiêu.
Đặc biệt là ở phần gốc của cây tiêu. Nếu thấy có dù ít cũng phải diệt trừ
ngay.
- Dùng các loại thuốc sau đây để phòng trừ: Suprathion, Supracide với
nồng độ pha loãng 0,3 -0,5% cho thêm dầu hỏa với nồng độ 0,5% tưới từ
3 - 5 lít/gốc. Chú ý tưới thuốc khi đất có độ ẩm (không khô) để tăng hiệu
lực của thuốc. Thường đi theo với rệp sáp còn có các loại nấm hại do vậy
có thể cùng tưới thuốc trừ nấm như đã nêu ở phần trên vào thời gian xử lý
diệt rệp sáp. Kinh nghiệm thực tế cho thấy: ở gốc tiêu nếu thấy có nhiều
kiến thì thường ở trong bộ rễ hoặc ở phần cổ rễ đã có rệp sáp. Bởi vì chất
bài tiết của rệp sáp có nhiều đường là thức ăn hấp dẫn của một số loài
kiến.
+ Bệnh xoăn, khảm lá:
Triệu chứng bệnh cho thấy cây lùn cằn cỗi kém phát triển, lá xoăn,
mất diệp lục hoặc vân khảm, nguyên nhân là do siêu vi trùng (Virus) gây
nên, dễ nhầm lẫn với triệu chứng thiếu nguyên tố vi lượng như kẽm. Nếu
bệnh do Virus thì phải cắt hủy cây bệnh mang đi đốt. Nếu do thiếu kẽm
thì phun Sunphát kẽm 0,2% 2 lần vào bộ tán lá của cây cách nhau 2 tuần
lễ. Cần phun thuốc để diệt trừ các loại bọ rầy, rệp có ở trong vườn tiêu vì
chúng là môi giới truyền bệnh từ cây này sang cây khác.
Tóm lại phương châm để phòng trừ sâu bệnh hại tiêu là: Phòng bệnh hơn chữa
bệnh điều này thật sự có ý nghĩa đối với trường hợp sâu bệnh hại cây tiêu. Không
thực hiện tốt các khâu trong biện pháp canh tác như đã nêu ở trong bài viết này và
không quản lý theo dõi để phát hiện kịp thời những đối tượng sâu bệnh hại mang
tính hủy diệt thì mọi biện pháp thụ động khi phải xử lý bằng thuốc hóa học đều
đem lại hiệu quả rất thấp, tốn kém, thậm chí không thể cứu chữa nổi khi bệnh đã

