
Sả có trị được ung thư?
(Kỳ 2)
Sả và ung thư
Ngoài kết quả nghiên cứu đăng trên Planta Medica của nhóm nghiên cứu tại
Trung tâm nghiên cứu và phát triển Hazeva thuộc Viện nghiên cứu về sa mạc
Jacob Blaustein, Viện ĐH Ben Gurion kể trên đưa ra vai trò của citral như một
chất gây khởi phát cho hoạt động của caspase-3 nơi một số dòng tế bào ung thư,

còn có một số những nghiên cứu khác về khả năng của các hoạt chất khác như d-
limonen và geraniol trong tinh dầu Sả trong vấn đề ngừa và trị ung thư. Nên chú ý
là các nghiên cứu đều chỉ ở giai đoạn sơ khởi, nghĩa là dùng hoạt chất rồi cho thử
nghiệm trên các tế bào ung thư cô lập, và thử trong ống nghiệm.
Tinh dầu trích từ lá Sả (C. citratus) và citral có hoạt tính diệt được tế bào
ung thư máu loại P338 (của Chuột) (Current Sciences Số 73-1997).
Nước chiết từ cây Sả có khả năng chống đột biến (antimutagenic) nơi một
số chủng tế bào S. typhimurium (Mutation Research Số 341-1994).
Nước chiết từ Sả ức chế được sự tạo DNA nơi một số dòng tế bào ung thư
ruột (ở Chuột) (Carcinogenesis Số 18-1997).
Tinh dầu Sả (C. flexuosus), có hoạt tính diệt tế bào khi thử trên 2 dòng tế
bào ung thư (người) cho thấy có tác động trên các tế bào ung thư Ehrlich và
Sarcoma-180 (Chemistry and Biology Interaction Số 179-2009).
Tinh dầu Sả (C. flexuosus) và hoạt chất chính: sesquiterpen isointermedeol
có khả năng gây khởi động hiệu ứng apoptosis nơi tế bào ung thư máu HL-60.
(Chemistry and Biology Interaction Số 17-2008).
Hoạt tính của các monoterpen

Trong tinh dầu Sả còn có limonen, geraniol... là hai trong những
monoterpen đã được nghiên cứu nhiều về các hoạt tính trị ung thư (monoterpen
khác cũng được nghiên cứu là perillyl alcohol, trong cơ thể, khoảng 40% limonen
được chuyển biến thành perillyl alcohol).
Có khoảng 15 nghiên cứu “in vitro” ghi nhận là monoterpen có khả năng ức
chế sự tăng trưởng của một số dòng tế bào ung thư. Liều tối thiểu để có hoạt tính
thay đổi khá rộng tùy loại monoterpen trong các nghiên cứu, có thể từ 50 đến
5.000 microM, trung bình là trong khoảng 160 đến 1.300 microM.
Các nồng độ này được xem là tương đối cao khi so sánh với nồng độ của
các chất tự nhiên được thử nghiệm khác (Leukemia số 13/1999; Cancer Research
số 59-1999; Nutrition Cancer số 32-1998).
Có ít nhất là 7 nghiên cứu về tác động chống ung thư của monoterpen, thử
nghiệm trên thú vật. Các nghiên cứu này cho thấy monoterpen khi dùng dưới dạng
thuốc uống có khả năng tạo sự teo biến của nhiều loại bướu ung thư, có những
trường hợp có sự teo biến hoàn toàn (100%) (Cancer Chemotherapy and
Pharmacology số 34-1994; Journal of The National Cancer Institute số 76-1986).
Có 2 nghiên cứu giai đoạn I nơi người đã được thực hiện, nhưng mục tiêu
chính là nhằm xác định các thông số dược động học và liều cao nhất được xem là

an toàn khi thử nơi bệnh nhân ung thư, nhưng không xác định về mức độ hữu hiệu
(Clinical Cancer Research số 4-1998).
Ngoài ra cũng còn có một số nghiên cứu ghi nhận khả năng “ngừa ung thư”
nơi thú vật của các monoterpen (Breast Cancer Research and Treatment số 46-
1997).
Tác động của monoterpen
Các monoterpen, limonen, geraniol và perillyl alcohol có khả năng làm
giảm sự tăng trưởng và sinh sản của nhiều loại tế bào ung thư khi thử cả “in vitro”
lẫn “in vivo”, tuy nhiên cơ chế hoạt động chưa được xác định rõ ràng và được giả
thiết là do: ức chế sự tổng hợp isopren (nếu các protein từ các tế bào sinh ung thư
không qua giai đoạn isoprenyl hóa, thì chúng sẽ không gây ung thư cho tế bào).
Khởi phát sự tái phân cắt tế bào (cell redifferentiation)
Khởi phát hiệu ứng apoptosis.
Cải thiện sự khởi phát ức chế các yếu tố tăng trưởng như TGF-beta…
Ngăn chặn sự ức chế miễn dịch để tạo tế bào ung thư.


