TRÚNG PHONG
(Epolepsy – Epolepsie)
Trúng phong là trng thái đột nhiên bất tỉnh, đồng thờithể xuất hiện liệt nửa
người, mắt lệch, miệng méo, lưỡi cứng, nói khó hoặc không nói được …
Thường gặp i những ngườiyếu, người cao tuổi, huyết áp cao…
Bệnh thể xẩy quanh năm nhưng mùa đông và mùa xuân gặp nhiều hơn.
YHHĐ gọi là Não Huyết Quản Ngoại Ý Tai Biến Mạch Máu Não.
Thiên ‘Thích Tiết Chân Tà’ (Linh Khu 75) viết: “Khi thân hình chúng ta bị trúng
phong tà, nó s làm cho huyết mạch bị hữu dư, nó sẽ làm cho tứ chi b khinh hoặc
trọng, không co duỗi được, làm cho thân mình khó xoay trở, khó cúi xuống hoặc
ngửa lên, toàn thân hoặc bán thân bất toại…”.
Thiên ‘Phong Lun(Tố Vấn 42) viết: “ Phong trúng vào du huyệt ca ngũ tạng
lục phủ, truyền nhập vào bên trong, cũng là phong của tạng phủ, tất cả đều trúng
vào chỗ khí huyết suy yếu, thiên vmột chỗ gọi là thiên phong”.
Sách ‘Kim Qu Yếu Lược’ nhận định rằng do lạc mạch bên trong bị trống rỗng
nên phongn ngoài thừa cơ xâm nhập vào. Và sách Kim Qulà sách đầu tiên
đưa ra Phong trúng kinh, lạc, tạng hoặc phủ để phân biệt trạng thái nặng nhẹ ca
bệnh. Đời Đường, thế kỷ thứ 5-6 cácch Thiên Kim Phương, Ngoại Đài Bí Yếu,
Tế Sinh Phương cũng đều bàn về chứng Trúng Phong nhưng cũng lập luận gn
giống như sách Kim Quỹ. Đến đời Kim Nguyên (thế kỷ 12-13) Lưu Hà Gian nêu
lên thuyết hỏa thịnh, Lý Đông Viên li chủ trương do khí hư còn Chu Đan Khê cho
rằng do đờm thấp. Vương Luân li dựa trên nguyên nhân gây bnh phân ra làm
Chân Trúng và Loi Trúng. Đi nhà Minh (thế kỷ 16-17), Trương Cảnh Nhạc cho
rằng không phải do phong, mà do ‘nội thương tích tổn’. Lý Sỹ Tài lại chia Trúng
phong thành hai loại là Bế Chứng và Thoát Chứng. Đời Thanh (thế kỷ 17-18),
Diệp Thiên Slại cho rằng do Can dương sinh ra ni phong gây nên. Trương Bá
Long, Trương Sơn Lôi, Trương Tích Thuần li cho rằng do âm dương không điều
hòa, khí huyết nghịch loạn, trực trúng phạm vào não gây nên.
Trúng phong thường gây nên tai biến chính là: Mạch máu não bị ngăn trở hoặc
xuất huyết não s làm cho não tủy bị tổn thương. Tng thấy có những biểu hin
sau:
. Hôn Mê: thường thấy ngay từ đầu. Nếu nhẹ thì tinh thn hoảng hốt, mê muội,
thích khạc nhổ hoặc ngủ mê man. Nếu nng thì hôn mê, bất tỉnh. Có bệnh nhân lúc
đầu còn tỉnh táo, vài ngày sau mới hôn mê. Đa số bệnh nhân khi hôn mê kèm nói
sảng, vật vã không yên.
. Liệt Nửa Người: Nhẹ thì cm thấy tay chân tê, mất cảm giác, tay chân không có
sức. Nặng thì hn toàn liệt. Thường chỉ liệt mt bên và đối xứng với bên não b
tổn thương. Đa số liệt dạng mm, chmột số ít liệt dạng cứng, co rút. Thường
lúc đầu bị liệt dạng mềm rũ, tay chân kng có sức, nhưng một thời gian sau, lại b
co cứng,c ngón tay, chân không co duỗi được.
. Miệng Méo, Lưỡi Lch: thường gặp ở giai đoạn đầu kèm chảy nước miếng, ăn
uống thường bị rớt ra ngoài, khó nuốt.
. Nói Khó Hoặc Không Nói Được: Nhẹ thì nói khó, nói ngọng, người bệnh cảm
thấy lưỡi của mình như bị cứng. Nếu nng, gọi là trúng phong bất ngữ, không nói
được. Thường mt thời gian sau chứng khó nói sẽ bình phục dần.
Nguyên Nhân
Tuy nhiu tác giả chủ trương khác nhau nhưng chủ yếu là do bên trong bị tổn
thương, lạc mạch trống rỗng nên phongn ngoài dxâm nhập vào, m Can
Thận suy yếu nên dễ sinh ra nội phong.
Thường thy một số nguyên nhân sau:
+ Ngoại Phong: Thuyết này bắt đầu từ thiên ‘Phong Lun(Tố Vấn 45) khi cho
rằng chứng thiên khô (liệt nửa người) là do chính khí hư, tà khí lưu lại. Thiên
‘Trúng Phong Lịch Tiết’ (Kim Quỹ Yếu Lược) viết: «Mạch thốn khẩu Phù mà
Khẩn, Khẩn thuộc hàn, Phù thuộc hư, hàn và hư cùng chạm nhau làở ngoài bì
phu. Mch Phù là huyết hư, lạc mạch bị trống rỗng, tà k lưu li hoặc ở bên trái
hoặc bên phi, mà tà khí li hoãn, chính khí thì cp, vì vậy chính khí dẫn tà k vào
thành ra chứng oa tà, bất toạ. Điều này cho thấy do mạch lạc trống rỗng, phong tà
bắt đầu từ phần biểu vào phn lý gây nên chng oa tà, bất toại. Trường hợp này tuy
có phn nào do bên trong hư yếu nhưng cần chú trọng đến ngoại phong.
+ Hỏa Thịnh: Do Lưu Hà Gian đề xướng. Ông cho rằng trúng phong vốn do hỏa
ca Tâm quá thịnh, thận thủy suy yếu. Thận hư không ức chế được hỏa gây nên âm
hư dương thịnh, hư hỏa bốc lên trên che lấp tâm thần khiến cho người bệnh ngã lăn
ra bất tỉnh. Trương Long li cho rằng do hỏa của m và Can quá thịnh làm cho
khí huyết bốc lên gây ra chứng ‘thốt trúng’.
+ Nội Phong: Diệp Thiên Sỹ cho rằng trúng phong là do dương khí trong cơ thể
biến động vì Can là tng thuộc phong, nếu tinh huyết suy kém, thủy không nuôi
được mộc, mộc không tươi tốt, cho nên phần dương của can thịnh, khiến cho ni
phong bốc lên gây ra chứng trúng phong. Hoặc do Can âm suy, huyết bị táo sinh ra
nhiệt, nhiệt làm phong dương bốc lên che lấp các khiếu của lạc mạch, gây nên
chứng trúng phong.
+ Thấp Đờm: Do Chu Đan Khê khi xướng. Ông dựa vào địa lý cho rằng: «Miền
tây bắc khu lạnh thì bị trúng phong là thực chứng, miền Đông Nam khí ôn mà
đất nhiều thấp, nếu b trúng phong thì không phải là phong mà đều do thấp sinh ra
đờm, đờm sinh nhiệt, nhit sinh phong. Chủ yếu là ở thấp tà. Trong trường hợp
trúng phong, tuy đờm không phải là nguyên nhân chính nhưng hầu hết đềudấu
hiệu ca đờm (khò khè, sùi bt mép…), do hỏa của Tâm và Can thịnh, tân dịch bị
nung đốt hóa thành đờm y nên bnh.
+ K Hư: thường có liên hệ với tuổi tác và thể chất của người bệnh. Chu Đan K
cho rằng «Trúng phong không phải do phong tà từ bên ngoài vào mà do khí trong
người tự gây nên bnh».
+ Do Chính Khí Suy Yếu: Người lớn tuổi, người vốn suy nhược, người bệnh lâu
ngày khí huyết bị suy tổn, nguyên khí bhao tổn, não mạch không được nuôi
dưỡng, khí hư không đủ sức để vận hành huyết, huyết klưu thông làm cho mạch
máu não b ứ trệ không thông, âm huyết suy yếu không ức chế được dương, nội
phong bốc lên, hợp vi đờm trọc, ứ huyết làm che lấp thanh khiếu gây nên bnh.
. Do Lao Lực Nội Thương: Lao nhọc quá độ sẽ khiến cho dương khí bốc lên, dn
đến phong dương bị động. Nội phong động thì hỏa sẽ bốc lên. Hoặc m đờm, ứ
huyết che lấp thanh khiếu, mạch lạc. Do Can dương bốc lên, khuyết vọt mạnh
lên gây nên trúng phong, bnh thường nặng.
. Do Tỳ Mất Chức Năng Kiện Vận, đờm sinh ra ở bên trong: Ăn uống thức ăn
ngọt, béo, uống rượu… làm cho T Vị bị tổn thương, Tỳ mất chức năng vận hóa
thì sẽ sinh ra đờm, đờm uất lâu ngày hóa thành nhiệt, đờm nhiệt cùng hợp nhau uất
trệ ở kinh mạch, bốc lên che lp thanh khiếu. Hoặc do Can vốn vượng, khí cơ uất
kết, làm tn thương Tỳ thổ (Can khí phm Vị), đờm trọc sẽ sinh ra. Hoặc Can uất
hóa hỏa, nung đốt tân dịch thành đờm, đờm uất kết lại, xâm nhập vào kinh mạch
gây nên bệnh. Vì vậy sách ‘Đan Khê m Pháp – Trúng Phong’ viết: Thấp thổ
sinh đờm, đờm sinh nhiệt, nhit sinh phong vậy”.
. Do Ngũ Chí B Tổn Thương, tình chí quá mức: Tht tình (by loại tình chí) không
điều hòa, Can mất chức năng điều đạt, k bị uất trệ, huyết không thông hành, ứ kết
ở não mạch. Giận dữ qlàm tổn thương Can làm cho Can dương bộc phát lên.
Hoặc Tâm hỏa quá thịnh, phong và hỏa hợp với nhau, huyết b uất, khí nghịch lên,
đưa lên não. Tình chí thất thường đều có thể làm cho khí huyết nghịch lên não gây
ra trúng phong. Thường gặp nhiu nơi người giận dữ quá.
Ngoài ra có những trường hợp trúng phong do ngoại tàn ngoài gây nên. Thí d
như trường hợp phong tà n ngoài nhân cơ hội thể suy yếu, xâm nhập vào kinh
lạc, làm cho khí huyết b ngăn trở, cơ nhục, gân mạch không được nuôi dưỡng.
Hoặc do ngoại tà m cho đờm thấp bốc lên, làm ngăn trở kinh lạc gây nên. Nhng
trường hợp y, người xưa gọi là Trực Trúng.
Tóm li, Trúng phong xẩy ra thường do k hậu thay đổi, lao nhọc quá mức, tình
chí bị kích thích, bị Tóm lại, Trúng phong xy ra thường do khí hậu thay đổi, lao
nhọc quá mức, tình chí b kích thích, bị
Biện Chứng
Sách ‘Kim Qu Yếu Lược’ khi bàn về chứng trúng phong chủ yếu phân ra nặng
nhẹ, nông sâu để phân biệt. Trương Trọng Cảnh cho rằng: «Tà ở lạc thì da thịt bị
tê, ở đường kinh thì nặng nề, tà vào phủ thì hôn mê bất tỉnh, tà vào tng thì lưỡi
cứng khó nói, sùi bọt mép». Sau này, các sách cũng theo cách phân chia này để dễ
trình by.
Tuy nhiên dựa vào triu chứng lâm sàng, có thể phân làm hai trường hợp sau:
- Chng Bế: Hai tay nm chặt, hàm răng cắn chặt, thở khò khè như kéo cưa, mặt
đỏ, rêu i vàng nhớt, mạch Hồng, Sác, Huyền là Chứng Bế loại dương chứng.
Nếu nằm yên, không vật vã, thở khò khè, rêu lưỡi trắng trơn mà có nhớt, mch
Trầm Hoãn, là Chứng Bế loại âm chứng
- Chng Thoát: Mắt nhắm, miệng há, thở khò khè, tay chân dui ra, nặng thì mặt
đỏ, mhôi ra thành giọt, chân tay lnh, rêu lưỡi trắng trơn, mạch Vi, Tế, mun
tuyệt. Đây là du hiệu dương k muốn thoát, bệnh tình rất nguy him.
Nguyên Tắc Điều Trị
Trúng phong là chứng cấp, xẩy ra đột ngột, vì vậy, phải chữa ngọn (tiêu) trước.
Chú trng đến việc khứ tà. Thường dùng phép bình Can, tức phong, thanh hóa đờm
nhiệt, hóa đờm, thông phủ, hoạt huyết, thông lạc, tỉnh thần, khai khiếu. Thường
phân ra chng bế và thoát để dễ xử lý. Bế chứng: khứ tà, khai khiếu, tỉnh thần, phù
chính. Thoát chng: cứu âm cố dương. Đối với chứng nội bế ngoại thoát’ nên phi
hợp khai khiếu, tỉnh thần với phù chính cố bản. Khi điu trị di chứng, thường thấy
hư thực lẫn lộn, tà thực chưa gii hết đã thy xuất hiện hư chứng, nên p chính,
khứ tà, thường dùng phép dục âm, tức phong, ích khí, hoạt huyết.
Triệu Chứng
Trên lâm sàng thường gặp các chứng sau:
+ Phong Đờm Ưù Huyết Trở Trệ Lạc Mạch: Liệt nửa ngưi, miệng méo, lưỡi lệch,
lưỡi cứng, nói khó, nửa người giảm cảm giác, đầu váng, hoa mt, lưỡi tối nhạt, rêu
lưỡi trắng nhạt hoặc trắng nhờn, mạch Huyền Hoạt.
Điều trị: Hoạt huyết, hóa ứ, thông lạc. Dùng bài Hóa Đờm Thông Lạc Thang.
(Bán h, Phục linh, Bạch truật kin Tỳ, hóa thấp; Đởm nam tinh, Thiên trúc hoàng
thanh hóa đờm nhit; Thiên ma bình Can, tức phong; Hương phụ sơ Can lý khí,
điều sướng khí, giúp cho T vận hóa thấp. Hợp với Đan sâm để hoạt huyết, hóa ứ;
Đại hoàng thông phủ, tả nhiệt, ơng huyết, quét sạch đờm nhiệt tích trệ bên trong.
Nếu huyết ứ nhiều, lưỡi tím tối hoặc có điểm ứ huyết, thêm Đào nhân, Hồng hoa,
Xích thược để hoạt huyết, hóa ứ. Rêu lưỡi vàng nhớt, phin táo không yên, có dấu
hiệu ca nhiệt thêm Hoàng cm, Chi tử để thanh nhiệt, tả hỏa. Đầu váng, đầu đau
thêm Cúc hoa, Hạ khô thảo để bình Can, tức phong.
+ Can Dương Thịnh, Phong Hỏa Bốc Lên: Liệt nửa người, mửa người tê di, lưỡi
cứng, khó nói hoặc không nói được, hoặc miệng méo, chóng mặt đau đầu, mặt đỏ,
mắt đỏ, miệng đắng, hng khô, tâm phiền, dễ tức giận, nước tiểu đỏ, táo bón, rêu
lưỡi đỏ hoặc đỏ tím,u lưỡi vàng nhạt, mch Huyền có lực.
Điều trị: Bình Can, t hỏa, thông lạc. Dùng bài Thiên Ma Câu Đằng m.
(Thiên ma, Câu đằng bình Can, tức phong; Thạch quyết minh (sống) trấn Can, tiềm
dương; Ngưu tất dẫn huyết đi xuống; Hoàng cm, n chi, Hạ khô thảo thanh Can,
tiết hỏa).
Đầu váng, đau đầu thêm Cúc hoa, Tang diệp. Tâm phiền, dễ tức giận thêm Đơn bì,
Bạch tợc; Táo bón thêm Đại hoàng. Nếu thấy hoảng hốt, mê man, do phong hỏa
bốc lên thanh khiếu, do tà từ kinh lạc chuyển vào tng phủ, nên dùng Ngưu Hoàng
Thanh Tâm Hoàn hoặc An Cung ngưu Hoàng Hoàn để khai khiếu, tỉnh thần. Nếu
phong hỏa hợp vi huyết bốc n, nên dùng phép lương huyết, giáng nghịch để dẫn
huyết đi xuống.