
TÀI LIỆU THAM KHẢO
HƯỚNG DẪN QUẢN LÝ,
KIỂM SOÁT VÀ PHÒNG TRỪ
THỰC VẬT NGOẠI LAI XÂM HẠI
TRÊN ĐIỂN HÌNH CÂY MAI DƯƠNG
(Mimosa pigra L.)
Hà Nội, 2015
BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
DỰ ÁN NGĂN NGỪA VÀ KIỂM SOÁT SINH VẬT NGOẠI LAI XÂM HẠI
Ở RỪNG SẢN XUẤT VÀ RỪNG ĐƯỢC BẢO VỆ KHU VỰC ĐÔNG NAM Á

3
BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG - TỔNG CỤC MÔI TRƯỜNG
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương I. ĐẶC ĐIỂM RIÊNG VÀ TÁC HẠI CỦA CÂY MAI DƯƠNG 2
1.1. Đặc điểm hình thái học của cây mai dương 2
1.2. Đặc tính sinh vật học của cây mai dương 5
1.3. Đặc tính sinh thái học của cây mai dương 6
1.4. Tác hại của cây mai dương 7
Chương II. CÁC BIỆN PHÁP DIỆT TRỪ CÂY MAI DƯƠNG Ở TRÊN THẾ GIỚI 9
2.1. Biện pháp thủ công cơ giới 9
2.2. Biện pháp trồng cây che phủ đất 11
2.3. Biện pháp hóa học 12
2.4. Biện pháp sinh học 16
2.5. Phòng chống cây mai dương theo hướng tổng hợp 20
Chương III. CÁC BIỆN PHÁP DIỆT TRỪ CÂY MAI DƯƠNG Ở VIỆT NAM 21
3.1. Biện pháp thủ công cơ giới 21
3.2. Nghiên cứu sử dụng thuốc trừ cỏ hoá học để phòng trừ cây mai dương 30
3.3. Nghiên cứu ứng dụng biện pháp sinh học trong phòng trừ cây mai dương 37
3.4. Nghiên cứu trồng cây che phủ đất 37
Chương IV. HƯỚNG DẪN QUẢN LÝ, KIỂM SOÁT, DIỆT TRỪ CÂY MAI DƯƠNG
THEO HƯỚNG TỔNG HỢP 40
4.1. Cơ sở để xây dựng hướng dẫn 40
4.2. Nội dung hướng dẫn 40
4.2.1. Biện pháp phòng và ngăn chặn sự lây lan mới 40
4.2.2. Biện pháp diệt trừ cây mai dương 41
KẾT LUẬN 44
TÀI LIỆU THAM KHẢO 45

4 5
HƯỚNG DẪN QUẢN LÝ, KIỂM SOÁT VÀ PHÒNG TRỪ THỰC VẬT NGOẠI LAI XÂM HẠI TRÊN ĐIỂN HÌNH CÂY MAI DƯƠNG BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG - TỔNG CỤC MÔI TRƯỜNG
1.1. Đặc điểm hình thái học của cây
mai dương
Cây mai dương Mimosa pigra L. thuộc họ
Mimosaceae (Leguminose) lần đầu tiên được
Linnaeus phân loại và mô tả vào năm 1759
(Heard, 2004).
Thân cây mai dương
Đây là một loài cây lâu năm, thân bụi phân
nhiều cành, với chiều cao tới 6 m (hình 1).
Thân có màu xanh khi cây con non nhưng khi
cây trưởng thành thì hoá gỗ. Cây còn nhỏ thì
trên thân có lớp lông mịn bao phủ làm cho
thân cây ráp. Cây trưởng thành thì trên thân
có nhiều gai màu hồng, sau đó mọc nhiều gai
dài 5 - 10 cm (DEEDI, 2011; Hall và nnk, 2006;
NTG, 2010a, 2010b; Weed management
Guide, 2003).
Rễ cây mai dương
Rễ cây mai dương có một rễ cái phân nhánh
và ăn sâu trong đất, có thể ăn sâu 1 - 2 m, ăn
rộng và xa tới 3,5 m tính từ gốc cây. Có thể
hình thành rễ phụ ở điều kiện ngập nước liên
tục (hình 2) (DEEDI, 2011; Hall và nnk, 2006;
Robert, 1982; Weed management Guide,
2003).
Lá cây mai dương
Lá cây mai dương màu xanh, có hai lần lá kép
kiểu lá cây dương xỉ (hình 3). Lá thường gập
vào ban đêm hoặc khi bị chạm vào thì lá khép
lại. Lá dài 20 - 25 cm, màu xanh sáng, mỗi
cành lá có 10 - 15 cặp lá kép (lá chét) mọc đối
xứng dài 5 cm. Lá cây mai dương ở Florida có
15 -25 cặp lá chét. Sống cành lá dài 3 -
Hình 1. Bụi cây mai dương mọc đơn lẻ
(Nguồn: Northern Territory Government, 2010a)
Hình 2. Rễ phụ cây mai dương khi mọc ở nơi nước đọng
(Nguồn: Northern Territory Government, 2010a)
Chương I
ĐẶC ĐIỂM RIÊNG VÀ TÁC HẠI
CỦA CÂY MAI DƯƠNG
MỞ ĐẦU
Từ lâu các nhà khoa học ở nhiều nước đã ghi nhận hiện tượng xâm lấn và phát triển mạnh mẽ
của các loài sinh vật khi du nhập đến nơi ở mới (IUCN, 2003). Các loài thực vật ngoại lai được
du nhập đến nơi ở mới có thể do ngẫu nhiên và cũng có thể do cố ý. Trường hợp du nhập cố
ý là do những quan tâm về kinh tế, môi trường và xã hội thúc đẩy. Thí dụ, năm 1947 Thái Lan
nhập cây mai dương từ In-đô-nê-sia về để trồng làm cây phân xanh, chống xói mòn đất và
đến năm 1982 cây mai dương bắt đầu lan rộng và đến nay xâm lấn hầu hết các tỉnh của Thái
Lan (Suasa-ard và nnk, 2004). Bèo tây được đưa về Úc vào thập niên 1890 như là cây thực
vật cảnh (NSW, 2012). Bèo tây lần đầu tiên được nhập vào Việt Nam vào năm 1902 qua Nhật
Bản để làm cây cảnh, sau đó lan tràn khắp cả nước và trở thành loài thực vật ngoại lai xâm
hại (IUCN, 2003). Loài cỏ lào cũng được du nhập đi một số nước như cây cảnh và ngày nay
trở thành loài thực vật ngoại lai xâm hại ở nhiều nước trên thế giới (IUCN/SSG/ISSG, 2004).
Cây mai dương xuất hiện ở Việt Nam từ khoảng giữa thế kỷ XX hoặc sớm hơn, nhưng chỉ từ
thập niên 1980 loài cây này mới lây lan nhanh ở một số vùng và có mặt ở hầu hết các địa
phương trong cả nước (IUCN, 2003). Trong những năm cuối của thập niên 1990, sự xâm lấn
của cây mai dương ở lưu vực sông La Ngà, lòng hồ Trị An cũng như ở các vùng đất trống
thuộc các Vườn quốc gia Cát Tiên, Tràm Chim là vấn đề báo động. Tại những nơi này cây mai
dương đã mọc dày tạo thành những thảm cây rộng lớn, cản trở hoạt động kinh tế, biến các
vùng đất canh tác thành các vùng hoang hoá, làm nghèo khu hệ động thực vật bản địa ở các
khu bảo tồn thiên nhiên, ảnh hưởng tới cảnh quan và môi trường. Đây là đối tượng cỏ dại môi
trường nguy hiểm khó phòng trừ. Nước ta đang gặp khó khăn trong việc đối phó với loài thực
vật ngoại lai này.
Những thông tin về đặc tính sinh vật học, sinh thái học của cây mai dương là cơ sở khoa học
quan trọng để xây dựng và đề xuất các giải pháp phòng chống một cách hiệu quả loài sinh
vật ngoại lai này. Trong khi đó, các công trình nghiên cứu về sinh học sinh thái của cây mai
dương ở nước ta còn quá khiêm tốn.
Để có được một chiến lược phòng chống một cách hiệu quả đối với sự lây lan xâm lấn của cây
mai dương rất cần phải có các thông tin về đặc điểm sinh vật học, sinh thái học, các phương
pháp phòng chống cây mai dương đã có ở trên thế giới. Tài liệu này cung cấp các thông tin
như vậy về cây mai dương.

6 7
HƯỚNG DẪN QUẢN LÝ, KIỂM SOÁT VÀ PHÒNG TRỪ THỰC VẬT NGOẠI LAI XÂM HẠI TRÊN ĐIỂN HÌNH CÂY MAI DƯƠNG BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG - TỔNG CỤC MÔI TRƯỜNG
12 cm, có gai mảnh khảnh, thẳng đứng. Ở
gốc của các cặp lá chét đôi khi có gai mọc
lệch hoặc mọc chính giữa hai cặp lá. Mỗi lá
chét có rất nhiều cặp lá chét con, hình thuôn
dài với chiều dài 3 - 8 mm, chiều rộng 0,5 -
1,25 mm, mép lá chét con có lông tơ (DEEDI,
2011; Hall và nnk, 2006; NTG, 2010a; Weed
management Guide, 2003).
Hoa cây mai dương
Hoa đơn của mai dương màu hồng hay màu
hoa cà, nhỏ, mọc đều. Khoảng 100 hoa đơn
hợp thành một cụm hoa (hoa tự) hình cầu với
đường kính 10 - 20 mm (hình 4). Mỗi nách
lá thường có 2 hoa. Đài nhỏ, xẻ không đều.
Thường mỗi cụm hoa như vậy sẽ có 1 - 30
quả (DEEDI, 2011; NTG, 2010a, 2010b; Weed
management Guide, 2003).
Quả cây mai dương
Quả cây mai dương có chiều dài 30 - 80 mm,
trên mặt quả có nhiều lông cứng. Quả non có
màu xanh và quả chín có màu nâu hay màu
xanh ôliu (hình 5). Mỗi quả được chia thành 10
- 20 khoang, thuôn dài 4 - 6 mm và rộng 2,2
- 2,6 mm (DEEDI, 2011; NTG, 2010a, 2010b;
Weed management Guide, 2003).
Hạt cây mai dương
Mỗi khoang quả chứa một hạt. Hạt dẹt, hình
thuôn dài, màu nâu hay xanh ôliu rất cứng với
kích thước 4 - 5 mm x 2 mm. Khi quả chín,
các khoang này tự tách ra khỏi quả và hạt
không tách khỏi các khoang quả. Các khoang
quả tự phát tán. Khoang quả có lớp vỏ cứng,
không thấm nước và có nhiều lông cứng nên
có thể bám dính vào cơ thể động vật, quần
áo của con người hoặc nổi trên mặt nước và
trôi theo dòng nước phát tán đi rất xa. Hạt cây
mai dương cũng có thể phát tán theo đất, bùn
bám vào bánh xe các phương tiện giao thông.
Khi gặp điều kiện thuận lợi về nhiệt và ẩm độ,
hạt tách ra khỏi vỏ quả và nảy mầm (DEEDI,
2011; Lonsdale và nnk, 1985; Miller và nnk,
1981; NTG, 2010a; Weed management
Guide, 2003).
Ở Việt Nam, hầu như chưa có những nghiên
cứu và mô tả chi tiết về đặc điểm hình thái
của cây mai dương. Tác giả Koo và nnk (2000)
đã mô tả chung với những đặc điểm rất khái
quát để nhận dạng: Đây là một loài cây gỗ
lâu năm, rất nhiều gai to nhọn. Cây cao 2 - 3
m hoặc hơn, nhiều cành, màu đỏ nâu hoặc
tím. Lá nhạy cảm, hai lần lá kép lông chim,
bốn lá chét xẻ lông chim xếp trên đỉnh của
thân cứng, có 10 - 125 cặp lá chét, hình thuôn
thẳng, thường gập khép lại khi bị va chạm.
Hoa tự hình cầu, màu hồng nhạt, mọc từ nách
thân và cành lá. Quả có nhiều ngăn, mỗi ngăn
chứa một hạt, khi chín hạt tách ra rơi xuống,
để lại trên cây vỏ có nhiều ngăn. Những mô tả
này có những chi tiết không chính xác.
Tại Vườn quốc gia Tràm Chim, cây mai dương
được mô tả như sau: cây mai dương có thể
cao hơn 3 m, cây cao nhất tới 5,8 m nhờ mọc
dựa vào cây tràm. Thân, cành của nó có hai
gai mọc cùng phía hoặc đối xứng ở khoảng
giữa hai lá hoặc cành kế cận với đáy to, cứng,
hơi cong, dài 2 mm. Lá kép lông chim có 8 -
10 cặp lá chét mọc đối, cũng xếp lại khi sờ vào
nhưng chậm hơn Mimosa pudica. Mỗi lá chét
có trung bình 40 cặp lá chét con mọc đối. Lá
chét dài 3,5 - 7 cm. Lá chét con thuôn dài 1
cm và rộng 1,5 - 2 mm. Thân cây, sống lá có
nhiều lông tơ, nhưng bề mặt lá thì không có
lông. Lá có hai loại gai: gai nhọn, mảnh mềm
mọc thẳng đứng trên sống lá ở giữa gốc của
từng cặp lá chét, dài 1 cm và 2 gai cong dài 3
mm mọc đối dọc theo sống lá ở giữa của hai
cặp lá chét kế cận. Cụm hoa đầu màu hồng,
dài 8 - 8,5 cm và rộng 0,9 cm, có lông dày
màu vàng hoe. Quả có màu xanh hơi vàng khi
còn non, khi chín chuyển sang màu vàng rồi
màu đen. Khi đã chín đen thì rụng từng đốt,
chừa hai bìa còn lại. Mỗi đốt có một hạt. Hạt
màu nâu bóng, thuôn, dài 3 mm, rộng 1 - 1,5
mm. Mỗi chùm trung bình có 4 quả (1 - 17
quả). Mỗi quả trung bình có 18 hạt (4 - 23 hạt).
Chiều tối lá có hiện tượng cụp lại. Mỗi nách lá
thượng có 1 -3 hoa tự, nhưng thường chỉ có
một hoa tự đầu tiên tạo được quả. Quả dài tới
8 -8,5 cm. Rễ cọc dài, nếu cây cao 1,1 m thì
rễ cọc dài 0,8 m. Cây mai dương đổ ngã, lâu
ngày thân mọc rễ như thân bò (Vườn quốc gia
Tràm Chim, 2001).
1.2. Đặc tính sinh vật học của cây
mai dương
Đặc điểm sinh vật học của cây mai dương đã
được nghiên cứu nhiều ở Úc, Ma-lay-sia, Thái
Lan và In-đô-nê-sia (Lonsdale, 1988, 1992;
Lonsdale, Abrecht, 1989). Trong các đặc
điểm sinh vật học, sinh thái học của cây mai
dương, đáng lưu ý là các đặc điểm sau:
* Sau khi mọc từ hạt, cây mai dương sinh
trưởng rất nhanh, phân thành nhiều nhánh.
Sau 1 năm, đường kính thân cây có thể đạt
tới 2,5 cm và sau hai năm đường kính thân
cây đạt 7 cm. Trong điều kiện thuận lợi, cây
mai dương có khả năng tăng trưởng nhanh
với tốc độ 1cm/ngày. Tại Sri Lanka, trong
vòng 8 - 12 tuần đầu mỗi ngày chiều cao cây
tăng 2,4 - 2,6 cm (DEEDI, 2011; Lonsdale,
1988, 1993; Marambe và nnk, 2001, 2004;
Wanichanantakul, Chinawong, 1979).
* Cây mai dương sinh trưởng và thành thục
nhanh, có thể ra hoa đậu quả ngay trong
năm thứ nhất: sau 4 - 12 tháng kể từ khi
mọc từ hạt có thể ra hoa đậu quả. Nghiên
cứu ở Thái Lan cho thấy một cây mai
dương ra hoa 12 lần/năm, cho 95.000 hạt/
năm (Wanichanantakul, Chinawong, 1979).
Hình 3. Lá cây mai dương
(Nguồn: Northern Territory Government, 2010a)
Hình 5. Chùm quả đã chín của cây mai dương
(Nguồn: Northern Territory Government, 2010)
Hình 4. Cụm hoa (hoa tự) cây mai dương
(Nguồn: Northern Territory Government, 2010a)

89
HƯỚNG DẪN QUẢN LÝ, KIỂM SOÁT VÀ PHÒNG TRỪ THỰC VẬT NGOẠI LAI XÂM HẠI TRÊN ĐIỂN HÌNH CÂY MAI DƯƠNG BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG - TỔNG CỤC MÔI TRƯỜNG
Theo Hall và nnk, (2006), cây mai dương ở
vùng nhiệt đới ra hoa quanh năm và một
cây trưởng thành có thể sản sinh được
42.000 hạt/năm. Nhưng theo Lonsdale
(1992), một bụi cây mai dương điển hình có
sức sinh sản cao nhất trong một năm thể
sinh ra được trung bình khoảng 220.000
hạt. Lượng hạt cây mai dương có trong đất
ở Sri Lanka khá cao: ở dưới tán thảm cây
mai dương có khoảng 2.336 - 46.410 hạt/
m2 (Marambe và nnk, 2004). Hạt cây mai
dương có sức sống rất cao. Tỷ lệ hạt nảy
mầm đạt 98,0 - 100% đối với cả hạt tươi từ
trên cây và hạt qua ngủ nghỉ ở trong đất.
Sau 4 năm bảo quản ở nhiệt độ 8oC hạt
vẫn nảy mầm với tỷ lệ là 99% (Marambe và
nnk, 2004; Vitelli và nnk, 2006).
* Cây mai dương có thể sinh sản bằng hạt
và có thể mọc tái sinh từ các gốc sau khi
bị chặt.
Hạt cây mai dương có thể nảy mầm ngay khi
rụng từ quả hoặc có thể nảy mầm sau 1 - 2
năm, hoặc nếu hạt bị nằm sâu trong đất có
thể rơi vào tình trạng ngủ nghỉ. Nhờ khoang
hạt có lớp vỏ cứng, không thấm nước mà quá
trình ngủ nghỉ của hạt ở bên trong có thể kéo
rất dài. Thời gian ngủ nghỉ của hạt ở trong đất
phụ thuộc rất nhiều vào độ sâu trong đất, loại
đất và có thể kéo dài tới 20 - 23 năm nếu
ở trong đất pha cát (DEEDI, 2011; Walden
và nnk, 2004). Hạt ngủ nghỉ dài là do vỏ hạt
cứng (Miller và nnk, 1981; Wanichanantakul,
Chinawong, 1979). Những hạt không nảy
mầm sẽ bổ sung thêm cho ngân hàng hạt ở
trong đất. Mật độ hạt cây mai dương trong
đất rất cao, tới mức nếu trừ được cây này
xong vẫn phải mất vài năm sau để tiếp tục trừ
cây con mọc từ hạt (Lonsdale, 1988).
Cây mai dương sau khi bị chặt có thể nhanh
chóng mọc tái sinh từ phần gốc sát mặt đất
(Wanichannatakul, Chinawong, 1979). Khi bị
đốt, toàn bộ lá có thể bị chết hay rụng nhưng
có tới 90% số cây trưởng thành và 50% số
cây non có thể tiếp tục mọc tái sinh lại. Cây
mai dương có khả năng tái sinh rất cao: cây
tái sinh mọc từ gốc sau chặt 12 tháng có thể
cao 2,6 m với diện tích tán lá đạt 8 m2, trong
khi đó, cây mọc từ hạt chỉ cao 2,5 m với tán lá
đạt 6,3 m2 (DEEDI, 2011).
Với những đặc điểm nêu trên cây mai dương
phát triển và lây lan nhanh, tốc độ xâm nhiễm
cao, diện tích bị xâm nhiễm có thể gấp đôi cứ
sau khoảng thời gian 1 - 1,5 năm (Lonsdale,
1993; Weed management Guide, 2003).
1.3. Đặc tính sinh thái học của cây
mai dương
Khu vực phân bố
Cây mai dương có nguồn gốc ở Trung Mỹ
và Nam Mỹ. Khu phân bố tự nhiên trải dài từ
vùng nhiệt đới Mexico qua Trung Mỹ Antilles,
Columbia, Peru và Brazil kéo tới vùng nhiệt đới
của Nam Mỹ là phía bắc của Achentina (DEEDI,
2011; Miller và nnk, 1981; NTG, 2010a, 2010b;
Weed management Guide, 2003).
Cây trinh nữ lần đầu tiên được du nhập vào
các khu vực khác như một dạng cây cảnh
hay cây che phủ đất, dần dần chúng đã phát
tán theo dòng nước, xâm nhập vào hều hết
các nước trên thế giới và trở thành đối tượng
cỏ dại nguy hiểm ở các nước nhiệt đới Châu
Phi, Hoa Kỳ, Ấn Độ, Sri Lanka, Châu Úc, các
đảo Thái Bình Dương, Papua New Guinea và
khu vực Đông Nam Á như Cam-pu-chia, Thái
Lan, Phil-lip-pin, Ma-lay-sia, In-đô-nê-sia và
Việt Nam (Hall và nnk, 2006; NTG, 2010b;
Pramual và nnk, 2011; Weed management
Guide, 2003).
Ở nước ta, cây mai dương đã xâm nhập từ lâu
nhưng chỉ mới thực sự bắt đầu phát tán vào
thập niên 1980. Hiện nay, cây mai dương đã
có mặt ở hầu khắp các vùng trong cả nước.
Những vùng bị xâm lấn nặng gồm các Vườn
quốc gia Tràm Chim, Cát Tiên, các tỉnh thuộc
đồng bằng sông Cửu Long như vùng Đồng
Tháp Mười (thuộc địa phận các tỉnh Long
An, Tiền Giang, Đồng Tháp), Vĩnh Long, Hậu
Giang, An Giang hay Kiên Giang, Vườn quốc
gia U Minh Thượng), lưu vực sông La Ngà,
vùng lòng hồ Trị An, lòng hồ Thác Bà, lòng hồ
Hoà Bình, hồ Đồng Mô, ven các sông Cầu,
sông Đuống, sông Hồng, dọc các đường rải
rác khắp miền Trung,v.v.. (Phạm Văn Lầm và
nnk, 2003a, 2003b; Nguyễn Hồng Sơn và
nnk, 2007; Vườn quốc gia Cát Tiên, 2003;
Vườn quốc gia Tràm Chim, 2003a).
Hệ sinh thái và sinh cảnh ưa thích của cây
mai dương
Theo kết quả nghiên cứu ở nước ngoài, cây
mai dương có nơi ở rất đa dạng, thích nghi với
nhiều điều kiện môi trường. Cây mai dương
thường xâm lấn các vùng đất thấp, đầm lầy
ngập nước theo mùa, quanh lòng hồ chứa
nước, bãi bồi cửa sông, đất ven sông, ven
kênh rạch nhân tạo, các luồng nước chảy, khu
vực đất ẩm, vùng đất hoang hoá, các dòng
sông bị khô cạn, đất nông nghiệp, ven đường,
cả nơi đất cao, các thung lũng ở khu rừng
nhiệt đới hay các khu Vườn quốc gia, khu bảo
tồn thiên nhiên. Vùng Nhiệt đới ẩm và bán
ẩm là nơi nơi ở lý tưởng của cây mai dương,
đặc biệt thuận lợi là nơi có khí hậu mùa khô
và mùa mưa rõ rệt, với lượng mưa cao trên
750 mm/năm và nhiệt độ cao (DEEDI, 2011;
Pramual và nnk, 2011; Weed management
Guide, 2003).
Cây mai dương có thể chịu đựng được môi
trường yếm khí như những vùng đất thường
xuyên ngập nước, chịu đựng thời gian dài
ngập lụt. Loài này khi bị ngập lụt có thể lấy
ôxy trong nước bằng cách mọc thêm rễ phụ
ở phần sát với mặt nước (Miller và nnk, 1981;
NTG, 2010b).
Cây mai dương có nhu cầu dinh dưỡng thấp,
do đó nó có thể sinh trưởng phát triển ở trên
nhiều loại đất, từ đất cát nghèo dinh dưỡng
đến đất phù sa đỏ và đất vàng, đất phù sa
nhiều mùn, đất đen nặng, đôi khi có thể xâm
lấn vùng đất cao (Miller, 1983; NTG, 2010b;
Walden và nnk, 2004).
Trong điều kiện nhiệt độ ổn định, phần lớn hạt
cây mai dương có thể nảy mầm trong điều
kiện ẩm ướt, nhưng đôi khi chúng cũng có thể
nảy mầm trong nước. Tuy nhiên, việc duy trì
ngập nước lâu dài sẽ làm cho hạt mai dương
bị phân huỷ dần, làm giảm sức sống của và
mất khả năng nảy mầm của chúng.
Các vùng đất công, đất hoang hoá, các dải
đất hoang thuộc hành lang đường quốc lộ,
dọc theo ven đường sắt là khu vực đáng báo
động, rất dễ bị cây mai dương xâm nhiễm. Do
tại các sinh cảnh này có đủ điều kiện thuận
lợi để cho cây tích luỹ nguồn hạt lại không có
sự quản lý và kiểm soát của con người, mức
độ xâm nhiễm ngày càng nặng (Nguyễn Hồng
Sơn và nnk, 2007).
1.4. Tác hại của cây mai dương
Tác động về mặt sinh thái
Cây mai dương xâm lấn các khu bảo tồn thiên
nhiên sẽ làm nghèo khu hệ động thực vật bản
địa, biến thảm thực vật với sự đa dạng sinh
học về loài bản xứ thành thảm thực vật đơn loài
(mono-species stand). Khu hệ chim, bò sát và
sự phong phú của thảm thực vật bị ảnh hưởng
rất lớn do sự xâm lấn của cây mai dương. Hơn
450 km2 đất ngập nước ở vùng lãnh thổ Bắc
Úc với khu hệ động thực vật phong phú đã bị
biến thành một thảm trinh nữ dày đặc không
thể len chân vào được. Ở những bờ đất gần
nước (ven sông, ven hồ, đầm,…) không có
cây mai dương, phong phú những thực vật
bản địa mọc gần nước là nơi ở lý tưởng cho
nhiều loài chim nước. Với sự xâm lấn của cây
mai dương làm mất những nơi ở như vậy. Do
đó, sự đa dạng sinh học ở cấp độ loài cũng
như mức độ phong phú của từng loài chim
nước tỷ lệ nghịch với mức độ xâm lấn của cây
mai dương ở các vùng lòng hồ, bán ngập ven
hồ. Nghiên cứu ở Úc cho thấy các loài động
vật như chuột hình như thích hợp với nơi ở
bị cây mai dương xâm lấn, đặc biệt sự xâm
lấn này mang tính gia báo là điều kiện thuận

