Tâm lí đám đông và Phân tích cái Tôi
Sigmund Freud Phạm Minh Ngọc dịch
4
4. Ám thị và Libido
Chúng tôi bắt đầu tsự kiện chủ yếu là trong đám đông, do nh hưởng của nó,
nhân đã phải chịu những thay đổi thường khi rất sâu sắc trong đời sống tinh
thần của mình. Skhích động bị phóng đại quá mức, hoạt động trí tuệ giảm thiểu
đáng kể, rõ ng c hai quá trình đó xảy ra theo hướng đánh đồng mình với
những thành viên khác của đám đông, các quá trình ấy chỉ thể thực hiện được
bằng cách loại bỏ sự tkiềm chế, vốn đặc trưng của từng thể và tbỏ những
dục vọng đặc thù của nó. Chúng ta cũng đã được nghe nói rằng thể tránh được
(ít ra một phần) những ảnh hưởng không tốt y bằng cách tạo ra đám đông
tchức”, nhưng điều đó cũng không hmâu thuẫn với sự kiện chủ yếu, với hai
luận điểm về khích động phóng đại và giảm thiểu trí tuệ của đám đông. đây
chúng tôi cố gắng tìm cách giải thích về mặt tâm lí sự thay đổi đó của cá nhân.
Yếu tố thực dụng đại loại như sự sợ hãi của cá nhân do đó biểu hiện của bản
năng tbảo tồn rõ ràng không thgiải thích được toàn bhiện tượng quan t
được. c tác giả, các nhà hội học hay nhà tâm học, nghiên cứu đám đông
đều đưa ra cho chúng ta một lời giải thích dù bằng những thuật ngữ khác nhau:
đấy là tám thị đầy ma lực. Tarde gọi đấy là bắt chước, nhưng chúng tôi phải nói
rằng tác giả có khi chỉ ra rằng bắt chước ng là ám thị, rằng là kết quả của
ám th[5] . Le Bon thì qui mọi sự bất thường trong hiện tượng xã hội đó vào hai
yếu tố: hỗ tương ám thị và uy tín của lãnh tụ. Nhưng uy tín cũng chỉ là biểu hiện
của khả năng tạo ra ảnh hưởng. Đối với Mc Dougall thì một lúc chúng tôi
cảm tưởng rằng trong nguyên tắc cảm ứng trực tiếp của ông không còn chcho
ám thị. Nhưng sau khi nghiên cứu kĩ thì chúng tôi buộc lòng phải công nhận rằng
nguyên tắc này cũng chỉ thể hiện cái luận điểm đã biết là “bắt chước” hay “lây
nhiễm”, ông chỉ nhấn mạnh thêm yếu tố khích động mà thôi. Không nghi nggì
rằng chúng ta xu hướng i vào trạng thái khích động khi thấy dấu hiệu khích
động như thế một người khác, nhưng chúng ta cũng thường thắng được xu
hướng đó, chúng ta đè nén khích động và thường phản ứng hoàn toàn ngược lại để
đối phó. Thế thì tại sao trong đám đông ta lại luôn luôn bị nhiễm khích động? Một
lần nữa cần phải nói rằng ảnh hưởng tính ám thị của đám đông buộc ta tuân
theo xu hướng bắt chước và tạo trong ta skhích động. Trước đây chúng ta cũng
đã thấy rằng Mc Dougall phải sử dụng khái niệm ám thị, chúng ta được ông, cũng
như những tác giả khác bảo cho biết rằng: đám đông rất dễ bị ám thị.
Nvậy là chúng ta đã được chuẩn bị để chấp nhận rằng ám thị (đúng n: khả
năng bị ám thị) là hiện tượng khởi thủy, sự kiện nền tảng, không còn phân tích nh
ra được nữa, của đời sống tinh thần. Đấy cũng là ý kiến của Bernheim, tôi từng
chứng kiến tài nghệ đặc biệt của ông vào năm 1889. Nhưng tôi cũng từng âm thầm
chống đối sự ám thị cưỡng ép. Khi người ta gắt với một con bệnh cứng đầu cứng
cổ, không bị thôi miên: “Ông làm cái vậy? Ông chống cự hả?”, thì tôi tnhủ
rằng đấy là sbất công, sự cưỡng ép. nhiên khi kđịnh thôi miên người ta,
định khuất phục người ta bằng cách đó thì người ta phải quyền chống lại chứ.
S chống đối của tôi sau này đi theo xu hướng chống lại việc dùng ám thđể giải
thích mọi sự trong khi chính lại không được giải thích. Nói đến ám thị tôi
thường đọc đoạn thơ hài hước sau đây [6] : «Thánh Christophe đứng đỡ Christ và
chúa Christ đứng đỡ thế gian, vậy tôi xin hỏi ông thánh Christophe biết để chân
o đâu mà đứng”.
Ngày nay, ba ơi năm đã qua, tôi lại quay về với câu đố của ám thị thì thấy
vẫn chưa gì thay đổi cả. Tôi thể khẳng định điều đó, ngoại trừ một việc duy
nhất là ảnh hưởng của phân tâm học. Tôi thấy rằng tất cả mọi cố gắng đều nhằm
để định nghĩa đúng khái niệm ám thị nghĩa là xác định điều kiện sử dụng thuật ngữ
[7] , việc đó nhiên không thừa vì tđó càng ngày càng bsử dụng một cách sai
lạc và chẳng bao lâu nữa người ta sẽ dùng đchỉ bất kì ảnh hưởng nào cũng được.
Nhưng một sgiải thích thực chất hiện tượng ám thị, nghĩa là những điều kiện
trong đó ảnh hưởng thể xảy ra mà không cần lẽ hữu cần thiết thì chưa có.
Tôi sẵn sàng khẳng định điều đó bằng việc phân tích các tài liu trong vòng 30
năm qua, nhưng tôi không làm biết rằng hiện nay đã một công trình nghiên
cứu kĩ lưỡng về vấn đề này đang được tiến hành rồi. Thay vào đó tôi sẽ cố gắng áp
dụng khái niệm libido, một khái niệm đã giúp chúng i rất nhiều trong quá trình
nghiên cứu bệnh tâm thần (Psychoneurose), để giải thích tâm lí đám đông.
Libido danh tmượn của thuyết về tình cm. Chúng tôi dùng danh tấy
(libido) đ chỉ năng lượng của tất cả những dục vọng mà ttình yêu bao m.
Năng lượng ấy thể được xem như thuộc loại định tính mặc dù hin tại thì chưa
đo lường được. Cốt lõi của khái niệm mà chúng ta gi là tình yêu cái nói chung
vẫn được người ta gọi là tình yêu, là cái được các nhà thơ ca ngợi nghĩa là tình yêu
nam nữ, mục đích là sliên kết giới tính. Nhưng chúng tôi không tách khỏi
khái nim đó tất cả những gì liên quan đến tyêu: một đằng là yêu chính mình,
một đằng là tình yêu cha mẹ, con cái, tình bạn và tình yêu nhân loại nói chung
cũng như lòng trung thành với một đồ vật cthể hay một tưởng trừu tượng nào
đó. Biện minh cho cách m như vậy là những kết quả của môn nghiên cứu phân
tâm học, nghiên cứu chỉ rõ rằng tất cả những ái lực đó đều là biểu hiện của một
loại dục vọng hướng đến liên kết giới tính giữa các giới khác nhau, mặc dù trong
một số trường hợp dục vọng này thkhông nhằm mục đích là giao hợp hay là
người ta thể kiềm chế chuyện đó, nhưng những ái lực đó vẫn luôn luôn giữ
được một phần thực chất nguyên thủy đủ để bảo tồn tính tương đồng (sự hy sinh,
ước muốn gần gũi).
Nvậy là chúng i cho rằng nn ng đã thiết lập được trong những ứng
dụng cực kì đa dạng của từ “yêu” một mối liên hhoàn toàn đúng rằng không
tốt hơn lấy mi liên hđó làm sở cho những cuộc thảo luận khoa học và
tcủa chúng tôi. m như thế phân tâm học đã tạo ra nhiều bất bình, tuồng
như tội nhân của một ng kiến đầy tội lỗi vậy. Phân m học gán cho cách
hiểu từ yêu “rộng” như vậy, không có nghĩa đã tạo ra một cái gì đó độc đáo.
TEros của nhà triết học Platon hoàn toàn trùng hợp cả về mặt nguồn gốc, tác
động và quan hvới hành vi giao hp, với ng lượng tình yêu, với libido của
phân tâm học, như hai ông Nachmansohn và Pfister đã chỉ rõ [8] , và trong bức thư
nổi tiếng “Thư gửi người xứ Corinth” [9] Thánh Paul đã ca ngợi tình u đặt
tình yêu lên trên hết thì hẳn rằng Ngài đã hiểu từ đó theo nghĩa “rộng”. Từ đó
thkết luận rằng người đời không phải lúc nào cũng thực sự hiểu những nhà
tưởng vĩ đại của mình ngay cả khi họ làm ra vtôn sùng các bậc vĩ nhân ấy.
Những ham muốn tình ái đó trong phân tâm học gọi là a potiori v mặt
nguồn gốc thì chính là ham muốn nhục dục. Nhiều “nhà trí thức” cho rằng gọi như
vậy là một sự thoá mạ và để báo thù, htrách cứ môn phân tâm học là “loạn dâm”.
Người nào cho rằng dục tính là một cái gì đó xấu xa, đê tiện đối với con người thì
người đó hoàn toàn có quyền dùng những tthanh nhã hơn như Eros chẳng hạn.
Tôi cũng có thể m như thế ngay từ đầu và như vậy tôi có thể tránh được nhiều s
phản bác, nhưng tôi không m thế vì tôi kng phải là knhu nhược. Không th
biết được điều đó sẽ đưa đến đâu: đầu tiên nhượng bộ về ngôn từ, sau đó sẽ dần
dần nhượng bộ trong thực tế. Tôi cho rằng chẳng có gì phải xấu hổ chuyện dục
tính, người ta cho rằng dùng tEros trong tiếng Hy lạp thì bớt ngượng, nhưng từ
ấy khác tyêu của ta và cuối cùng người nào thchờ đợi thì người đó
không cần phải nhượng bộ.
Nvậy là chúng tôi giđịnh rằng các mối liên htình ái (diễn đạt một cách
trung tính: những liên htình cm) là bản chất của linh hồn tập thể. Xin nh rằng
các tác gichúng tôi nói đến trên không đđộng gì đến khái niệm ấy cả. Có
lnhững điều phù hợp với quan hệ tình ái đã bche dấu sau bức bình phong ám
thị. Hai suy nghĩ sau đây củng cố thêm githuyết của chúng tôi: thứ nhất, đám
đông được liên kết bằng một lực nào đó. Nhưng ngoài cái Eros ấy thì còn lực nào
cái sức mạnh liên kết mọi người trên thế gian? Th hai cảm tưởng rằng
trong đám đông nhân từ bỏ tính độc đáo của mình ngtheo ám thị của
đám đông do anh ta nhu cầu đồng thuận với đám đông chkhông phải là
mâu thuẫn với họ, anh ta làm thế là để “chiều lòng họ”.