
Tìm hiểu di sản văn hóa Quan họ Bắc Ninh
Văn hóa du lch – GVHD Th.s Phm Th Thúy Nguyt Page 1
Tiểu luận
Tìm hiểu di sản văn hóa Quan họ Bắc Ninh

Tìm hiểu di sản văn hóa Quan họ Bắc Ninh
Văn hóa du lch – GVHD Th.s Phm Th Thúy Nguyt Page 2
GIỚI THIỆU CHUNG:
I.1 Khái niệm:
Theo các nhà nghiên cứu văn hóa, Quan họ một loại hình dân ca đặc sắc, một lối hát giao duyên
nổi tiếng do cộng đồng người Việt (Kinh) ở 49 làng quan họ và một số làng lân cận thuộc hai tỉnh
Bắc Ninh và Bắc Giang hiện nay sáng tạo ra. Về mặt sáng tạo nghệ thuật, dân ca Quan họ được
coi là đỉnh cao của nghệ thuật thi ca.
I.2 Nguồn gốc:
Tuy có nhiều công trình nghiên cứu nhưng vẫn chưa xác định rõ nguồn gốc về Quan họ. Có rất
nhiều truyền thuyết nói về nó như: Theo Lê Văn Hảo trong “Bắc Ninh tỉnh khảo thí” cho rằng,
nguồn gốc của quan họ là do sự kết nghĩa lâu năm giữa hai làng Viêm Xá và làng Hòai Bão. mỗi
khi có dịp lễ hội, thì trai làng Hòai Bão và nữ Viêm Xá hát đối đáp với nhau để tránh những
chuyện bất an, cãi cọ. Theo Nguyễn Duy Kiện trên Việt Báo thì viết: “ thời thượng cổ nhân dân 2
làng Lũng Nhai và Tam Sơn giao hảo rất thân mật, khi làng nào có chuyện như lên lão, quan, hôn,
tang, lễ,… đều có lời mời lẫn nhau. 2 làng thường họp từ 5-7 cụ ông và 5-7 cụ bà, cùng một số
thanh niên nam nữ. trai bên này hát, thì gái bên kia đáp, còn các cụ thì ngồi nghe. Hai làng cứ tiếp
tục từ đời này sang đời khác.Cũng có một số người cho rằng quan họ bắt nguồn từ sự tích ông
quan đi qua vùng Kinh Bắc đã rất thích thú bởi tiếng hát của các liền anh liền chị mà dừng lại
thưởng thức, tuy nhiên cách lý giải này có phần mơ hồ. Một số quan điểm khác cho rằng, quan họ
xuất phát do những nghi thức tôn giáo mang tính phồn thực, họ cũng cho rằng quan họ xuất phát
từ “âm nhac cung đình”.
I.3 Qúa trình hình thành và phát triển:
Quan họ là những sản phẩm sáng tạo nhất là những thế kỉ của thời kì phong kiến độc lập. vào thời
Lý Trần ( thế kỉ XI – XIV) khi các thành tựu văn hóa, nghệ thuật dân gian nở rộ, cùng với sự am

Tìm hiểu di sản văn hóa Quan họ Bắc Ninh
Văn hóa du lch – GVHD Th.s Phm Th Thúy Nguyt Page 3
hiểu, quý trọng của các triều vua đã ảnh hưởng đến quan họ từ giao duyên cổ sơ sang lối ca hát có
lề lối, quy củ rõ ràng. Tiếp đến thời Lê ( thế kỉ XV), đội ngũ trí thức đông đảo làm việc sáng tác
quan họ ngày càng được bổ sung. Thế kỉ XVIII dân ca quan họ đã có những hình tượng đẹp, tế
nhị, nội dung trữ tình sâu sắc, về làn điệu thì có sự giao lưu rộng rãi Bắc Nam. Những năm đầu
thế kỉ XX , các nghệ thuật khác của cả nước đã gia nhập vào quan họ làm nó được cải biến và
phát triển đến sau này.
Nội dung chính trong buổi hát Quan họ thường là khi hai bên nam – bọn quan họ nam và nữ -
bọn quan họ nữ hát đối nhau. Đứng đầu mỗi bọn Quan họ là liền anh, bên nữ gọi là liền chị. Các
câu hát có thể được chuẩn bị sẵn, nhưng ra đến khi đối đáp nhau thì thường dựa trên khả năng
ứng biến của hai bên. Họ hát những bài ca mà lời là thơ, ca dao (phần lớn là thể lục bát, lục bát
biến thể,…) từ ngữ được trau chuốt, trong sáng, mẫu mực thể hiện các trạng thái tình cảm của con
người: nhớ nhung, buồn bã khi chia xa, tình yêu lứa đôi,…bằng một ngôn ngữ giàu tính ẩn dụ.
Hát quan họ gắn liền với tục kết chạ, tục kết bạn giữa các bọn quan họ, tục “ngủ bọn”. Mặc dù
các phong tục này không được thực hành nhiều như trước đây, cộng đồng cư dân các làng quan
họ vẫn bảo tồn và truyền dạy nghệ thuật dân ca quan họ này.
Thời gian: từ mồng 4 Tết âm lịch, trong gần 3 tháng mùa xuân đầu năm, hội làng ở các làng
quan họ và các làng kề cận liên tiếp diễn ra. Suốt tháng 8 âm lịch lại là các hội lệ vào đám của các
làng. Trong số các lễ hội làng quan họ, hội Lim (thị trấn Lim, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh) mở
vào 13 tháng giêng âm lịch, là hội lớn nhất. Cho nên mùa xuân và mùa thu là mùa hội và mùa ca
hát quan họ nhộn nhịp, tưng bừng làng trên, thôn dưới.
II. ĐẶC TRƯNG DI SẢN QUAN HỌ BẮC NINH:
II.1 Trang phục:
Trang phục Quan họ bao gồm trang phục của liền anh và liền chị.:
Trang phục của liền anh: áo dài 5 thân, cổ đứng, có lá sen, viền tà, gấu to, dài tới quá đầu gối,
thường bên trong mặc một hoặc hai áo cánh, sau đó đến hai áo dài.Áo dài bên ngoài thường màu
đen, chất liệu là lương, the. Quần của liền anh là quần dài trắng, ống rộng, may kiểu có chân què

Tìm hiểu di sản văn hóa Quan họ Bắc Ninh
Văn hóa du lch – GVHD Th.s Phm Th Thúy Nguyt Page 4
dài tới mắt cá chân, chất liệu bằng phin, trúc bâu, màu mỡ gà, có thắt lưng nhỏ để thắt chặt cạp
quần. Đầu liền anh đội nhiễu quấn hoặc khăn xếp. Ngoài ra còn có các phụ kiện như: ô đen, khăn
tay, lược, thắt lưng..
Trang phục liền chị : thường được gọi là “áo mớ ba mớ bảy”, có nghĩa là liền chị có thể mặc ba
áo dài lồng vào nhau ( mớ ba) hoặc là bảy áo dài lồng vào nhau ( mớ bảy ). Thành phần cơ bản
gồm có: trong cùng là một chiếc yếm có màu rực rỡ, thường làm bằng lụa truội nhuộm (có hai
loại yếm là yếm cổ xẻ dùng cho trung niên và yếm cổ viền dùng cho thanh nữ ). Bên ngoài yêm là
một chiếc áo cánh màu trắng, vàng , ngà. Ngoài cũng là những lượt áo dài năm thân. Chất liệu để
may áo hầu hết là the và lụa. Liền chị mặc váy sồi, váy lụa đôi khi có người mặc váy kép với váy
trong bằng lụa, vải màu lương, the.
Trang phục của liền chị còn có nón quai thao, khăn mỏ quạ, thắt lưng đeo dây xà tích.
II.2 Làn điệu Quan họ:
Quan họ rất phong phú về làn điệu: la rằng, đường bạn kim loan, cây gạo, giã bạn, hừ la, la hới,
tình tang, cái ả, lên núi, xuống song,… Quan họ có các hình thức: hát thờ, hát hội, hát thi lấy giải,
hát canh. Một cuộc hát quan họ hay một canh hát bao giờ cũng có ba chặng: giọng Lề lối, giọng
Vặt, giọng Giã bạn.
- Giọng Lề lối: đây là giọng hát mở đầu, được diễn xướng với tốc độ chậm, nhiều luyến láy,
nhiều tiếng đệm. Đôi lúc nhịp phách không rõ ràng, âm điệu thường ở âm khu tầm thấp, cữ
hẹp.
- Giọng Vặt: là các giọng thuộc phần chính của buổi hát. Có thể nói tính chất nghệ thuật của
Quan họ được thể hiện rõ ở giọng này. Âm nhạc ngắn gọn, bố cục chặt chẽ, tiết tấu linh
hoạt. Nội dung lời ca khá phong phú, số lượng bài bản tương đối nhiều. Ví dụ như: Trống
cơm, Qua cầu gió bay, Ngồi tựa mạn thuyền,…
- Giọng Giã bạn: là giọng hát trước lúc chia tay. Số lượng bài bản ở giọng giã bạn không
nhiều nhưng chất lượng nghệ thuật của các bài ở giọng này khá cao. Chủ đề chính của
giọng này là tiễn biệt vì vậy giai điệu thường buồn, nhưng rất mặn nồng, say đắm. Ví dụ
như: Người ở đừng về, Kẻ bắc người nam, Chia rẽ đôi nơi,…

Tìm hiểu di sản văn hóa Quan họ Bắc Ninh
Văn hóa du lch – GVHD Th.s Phm Th Thúy Nguyt Page 5
Hát Quan họ là hình thức hát đôi đồng giọng: người hát dẫn, người hát luồn, hát đối đáp dẫn
giọng, luồn giọng một cách điêu luyện. Giọng của hai người hát cặp với nhau phải tương hợp đến
mức hai giọng trở thành một để tạo ra một âm thanh thống nhất. Có 4 kỹ thuật hát Quan họ là:
nền, rền, vang, nảy.
Nền
Trước khi bàn đến yếu tố nền, không thể không nhắc đến đặc điểm sử dụng tiếng đệm trong
hát Quan họ. Tiếng đệm là những âm thanh không thuộc phần lời thơ, như i, a, ơ, ư, hự, rằng, là,
ru hời, tính tình tang... Nhiều người thường coi tiếng đệm là hư từ, nhưng ở đây không phải là
quan hệ thực từ - hư từ, mà cần nhận thấy mối quan hệ lời thơ - tiếng đệm. Trong bài Quan họ,
tiếng đệm vừa làm nền như một dàn nhạc đệm, vừa là chất kết dính các âm điệu của lời thơ, thông
qua các nốt luyến, lướt, hoa mỹ, thêu tạo thành tuyến giai điệu đặc trưng của Quan họ và chi phối
nhiều đến kỹ thuật hát Quan họ.
Nền là đặc điểm của các tiếng đệm tạo nên mặt bằng giai điệu, qua đó làm nổi lên lời thơ và
cùng với âm điệu của lời thơ tạo nên giai điệu của bài hát. Tiếng đệm thường có giai điệu nằm
trong quãng 2, quãng 3, thỉnh thoảng có quãng 4, 5, ít gặp quãng 6. Như vậy, nền ở đây có nghĩa
phông nền, chứ không phải nền nã, nền nếp như một số người quan niệm. Nói đến đặc điểm nền
trong Quan họ là nói đến đặc điểm các tiếng đệm như i ơ, hự, rằng là, tính tình tang... tạo nên giai
điệu như một dàn nhạc đệm, làm nền và kết nối lời thơ. Chẳng hạn, trong câu Gọi ớ ơ ớ ơ hự à đò
không í i thấy i i hự đò là đò thưa í i (bài Gọi đò). Các tiếng đệm i í ơ ớ hự à… í i…i i hự… là…í
i làm nền cho lời thơ Gọi đò không thấy đò thưa.
Tiếng đệm thường thấy nhiều trong dân ca Việt Nam và mỗi thể loại có mức độ và cách thức sử
dụng tiếng đệm khác nhau. Ở các thể loại dân ca khác tiếng đệm thường được sử dụng để tô điểm,
làm chức năng đệm hơi, đệm nhịp hoặc cả đệm nghĩa cho dễ hát và phát triển giai điệu bài hát.
Trong Quan họ, tiếng đệm được sử dụng nhiều, chúng cũng có chức năng đệm hơi, đệm nhịp
hoặc cả đệm nghĩa, làm cho giai điệu bài hát phát triển, tuy nhiên đặc thù của tiếng đệm trong hát
Quan họ là chúng có vai trò thay cho dàn nhạc đệm, làm nền cho lời thơ và hỗ trợ cho các yếu tố
vang, rền, nẩy. Tiếng đệm trong Quan họ đòi hỏi kỹ thuật hát tương đối khó. Thiếu tiếng đệm
Quan họ không còn là Quan họ. Để hát được nền phải giữ hơi thở đều, liên tục, khẩu hình vừa

