Tiu luận
Văn hóa ăn uống của người Hàn
Cả người Hàn và người Việt đều ăn cơm làm từ gạo và sử dụng đũa. Đến bữa
ăn, cả gia đình cùng tập trung và ăn chung đĩa thức ăn ( người Nhật ăn riêng).
Những người ít tuổi hơn mời người lớn tuổi hơn ăn trước và sau khi người lớn
tuổi bắt đầu thì người nhỏ tuổi hơn mới bắt đầu ăn.
Ngoài những điểm chung nói chung nói trên thì có rất nhiều điểm khác biệt
trong văn hóa ăn uống thường ngày của hai nước. người Hàn thường ăn cơm
nấu từ gạo nếp trộn với gạo tẻ nên cơm rất dẻo, họ còn có cơm ngũ cốc "okok
bap" (cơm nấu từ 5 loại ngũ cốc). Trong khi đó, người Việt thường chỉ ăn cơm
nấu bằng gạo tẻ và cơm khô hơn một chút, thường vào những ngày đặc biệt thì
mới nấu cơm nếp.
Ở Hàn Quốc có rất nhiều loại gia vị, đặc biệt, họthường sử dụng bột ớt và có
loại nước tương "kan chang". Ở Việt Nam,gia vị không thật nhiều nhưng có
một loại nước chấm đặc biệt là nước mắm và để cho món ăn có hương vị thơm
ngon hơn, khi nấu ăn có nhiều loại rau, củ, quả cho thêm vào như: hành, nghệ,
cà chua, dứa, chuối...Ở Hàn, kim chi có nhiu loại đa dạng và thường ăn cùng
trong bữa cơm. Còn Việt Nam, trong bữa ăn nhất định phải có rau tươi, có thể
chế biến nhiều món như: rau luộc, rau xào, canh rau... và cũng có một sốmón
tương tự như kim chi: dưa muối, cà muối,nh muối...
Vào mùa hè, khi ăn cả người Hàn và người Việt đều uống nước nhưng cách
thức cũng khác nhau. Người Hàn vừa ăn vừa cầm cốc nước lạnh và uống.
Người Việt thì thường chan nước rau luộc hoặc canh vào bát và ăn cùng với
cơm, hoặc sau khi ăn sẽ chan nước canh vào bát, uống riêng.
Người Hàn sử dụng cả đũa và thìa nên không cần cầm bát lên. Người Việt mình
thì thường chỉ sử dụng đũa nên dù ăn cơm hay canh cũng cầm bát lên ăn. Vì
vậy, cái trôn bát của mình thường cao để người ăn không bị nóng. Cũng vì việc
sử dụng thìa, đũa mà người Hàn thường để thức ăn lên bàn, trong khi người
Việt mình thương để thức ăn vào mâm rồi có thể đặt trên bàn, trên chiếu, kể cả
trên sàn nhà và ngi ăn. Vẫn còn chuyn liênquan đến thìa, đũa nữa là khi ăn,
người Hàn thường có cái để đặt thìa đũa lên, gọi là "sut ka rak bat schim"
(숟가락 받침) còn người Việt thường để đũa trên mâm hoặc trên bát.
Sau khi ăn, người Hàn không bao giờ bỏ đi thức ăn thừa mà cất cẩn thận để
sau đó ăn tiếp. Tại sao lại như vậy ? mấy chục năm trước người Hàn còn rất
khó khăn, vì vy họ đã hình thành tính tiết kiệm. Mặt khác, vì người Hàn
thường ăn sáng ở nhà nên thức ăn còn lại hôm trước thường để ăn sáng hôm
sau. Hiện nay, với cuộc sống hiện đại, người Hàn thường không đi chợ nhiều,
họ thường đi một lần, mua rất nhiều thứ và để vào tlạnh nên tlạnh của họ
thường rất to. Người Việt mình thì thường chỉ cất một số món vào trong t
lạnh, các món rau hay canh thường ăn hết hoặc cho chó, mèo, hoặc bỏ đi. Có vẻ
người Việt Nam mình lãng phí hơn người Hàn. Người Việt Nam thường hôm
nào cũng đi chợ, mua những đồ tươi sống để nấu và không thích những thức ăn
để lâu trong tủ lạnh. Và người Việt mình còn có c thói quen ăn sáng ở ngoài
nữa.
Sau khi ăn xong, cả người Hàn và người Việt thường có thói quen ăn hoa quả,
gọi là tráng miệng. Sau đó, người Hàn thường uống một loại nước quế, hoặc cà
phê còn người Việt mình lại hay uống trà.
Văn hóa ăn uống thường ngày không phải là vấn đề lớnnhưng nếu tìm hiểu một
chút cũng thấy có nhiều thú vị. Nó cũng phần nào phản ánh những nét độc đáo
của văn hóa hai nước Việt - Hàn.
Bữa ăn là lúc gia điìn sum họp đông đủ nhất. Món ăn chính là cơm, thường ăn
kèm với lúa mạch, hạt kê hoặc với các loại đậu đỗ. Người Hàn Quốc cũng hay
ăn súp, còn kim chi- một loại dưa cải muốicay - là món ăn phụ không thể thiếu.
Xì dầu, hạt tiêu, tương ớt và toenjang (tương đỗ) được dùng làm gia vị.
Người Hàn Quốc thích rượu gạo truyền thống và họ thường uống trước bữa ăn.
Đãi khách bng rượu truyền thống là một phong tục phổ biến. Trong khi người
phương Tây có thể coi những lời đề nghị lặp đi lặp lại rót đầy một cốc rượu đã
cạn hoặc cạn một nửa là một sự phiền hà, thì người Hàn Quốc có thể nghĩ là
chủ nhà không lịch sự nêếungười đó không yêu cầu khách rót đầy cốc. Rót
rượu cho nhau trong một bầu không khí vui vẻ có ý nghĩa rất quan trọng đối
với người Hàn Quốc. Trong những buổi tiệc tùng này, thứ bậc về quan hệ xã
hội củănhngx tham gia tiệc vẫn được giữ vững. Ngừơi ít tuổi hơn không được
phép uống rượu hay hút thuốc lá trước mặt người lớn.
Tập tc ăn uống của người Trung Quốc
Người TQ có câu tục ngữ: thuốc bổ không bằng ăn bổ,. Có nghĩa là khi tẩm bổ
dưỡng sinh, nên chú ý ăn uống. Tuy rằng điều kiện kinh tế của một số ni
còn thiếu thốn, nhưng họ vẫn tận khả năng ăn uống cho tốt một chút, còn
những người điều kiện kinh tế khá giả lại chú ý vấn đề ăn uống. Cứ như vậy,
lâu ngày việc ăn uống đã đi sâu vào các mặt trong đời sống của người dân,
vậy đã xuất hiện những nghi lễ ăn uống trong xã giao, tập tục ăn uống trong
ngày lễ, ngày tết, tập tục ăn uống theo tín ngưỡng, tập tục ăn uống trong hôn lễ
và mai táng, trong ngày sinh nhật và sinh nở v,v.
Nghi lễ ăn uống trong xã giao chủ yếu biểu hiện trong khi giao tiếp. Nhiều
nhất là những lúc bạn bè và người thân đi lại với nhau, mỗi khi bạn bè người
thân có việc gì lớn, như sinh con, dọn nhà v,v thường phải tặng quà, còn chủ
nhà thì trước hết là phải nghĩ đến việc mời khách ăn, uống cái gì đây ? Tận khả
năng sắp xếp những món ăn cho thịnh soạn, để cho khách vừa llòng. Khi bàn
chuyện làm ăn, buôn bán cũng có thói quen vừa ăn vừa bàn bạc, ăn uống vui
vẻ, thì việc làm ăn cũng được ổn thỏa.
Do phong tục tập quán ở mỗi nơi một khác, các món ăn để tiếp khách cũng
không giống nhau. Ở Bắc Kinh, ngày xưa thì đãi khách ăn mỳ, với ý là mời
khách ở lại, nếu như khách ở lại thì mời khách ăn một bữa sủi cảo hay còn gọi
là bánh chẻo, tỏ lòng nhiệt tình. Khi tặng quà cho bạn bè và người thân phải
chọn “8 thứ của BK”, cũng tức là 8 loại bánh điểm tâm. Một số vùng nông thôn
miền Nam TQ, khi nhà có khách, sau khi mời khách uống trà, lập tức xuống
bếp làm bánh, hoặc nấu mấy quả trứng gà, rồi cho đường. Hoặc nấu mấy miếng
bánh bột nếp, cho đường để khách thưởng thức, rồi mới đi đi nấu cơm.
Ở Tuyền Châu, tỉnh Phúc Kiến miền Đông TQ, khi mờ khách ăn hoa quả,
người địa phương ngọt là “ngọt ngào”, tức là mời hkách thưởng thức mùi vị
ngọt ngào, mà trong đĩa hoa quả còn có quít, bởi vì trong tiếng địa phương từ
quít đồng âm với từ may mắn, , với ngụ ý là chúc khách may mắn, cuộc sống
ngọt ngào như quả quít.
Khi đãi khách, tập tục của mỗi một địa phương cũng hkông giống nhau.
BK, thấp nhất cũng phải là một mâm 16 món, tức là 8 đĩa và 8 bát. 8 đĩa là món
ăn nguội, 8 bát là món ăn nóng. tnh Hắc Long Giang miền Đông Bắc TQ khi
tiếp khách các món ăn đều phải có đôi, cũng tức là mỗi món nhất định phải có
đôi. Ngoài ra, một số khu vực, phải có cá, với ý là uộc sống dư thừa<trong
tiếng Hán cứ đồng âm với dư thừa>. Trong cuộc sống hàng ngày, những bữa cỗ
thường thấy là cỗ cưới dẫn đến nhiều cỗ tiệc, như cỗ ăn hòi, cỗ gặp mặt, cỗ
đính hôn, cỗ cưới, cỗ hồi môn v,v. Trong đó cỗ cưới là long trọng và cầu kỳ
nhất. Chẳng hạn như một số khu vực ở tỉnh Thiểm Tây miền Tây TQ, mỗi món
trong cỗ cưới đều có hàm ý iêng. Món thứ nhất là thịt đỏ, “đỏ” là mong muốn
“mọi điều may mắn”; Món thứ hai “gia đình phúc lộc” với ngục ý là “cả nhà
xum họp, cùng hưởng phúc lộc”, món thứ 3 là bát cơm bát bảo to, nấu bằng
tám loại như gạo nếp , táo tàu, bách hợp, bạch quả, hạt sen v,v với ngụ ý là yêu
nhau đến bạc đầu v,v. Ở vùng nông thôn tỉnh Giang Tô, cỗ cưới đòi hỏi phải có
16 bát, 24 bát, 36 bát, ở thành phố, tiệc cưới cũng rất long trọng, những điều
này đều có ngụ ý là may mắn, như ý. Tiệc chúc thọ là tiệc để mừng thọ các cụ
già, lương thực thường là mỳ sợi, còn gọi là mỳ trường thọ. Ở một skhu vực
miền bắc tinh Giang Tô, Hàng Châu miền Đông TQ, thường là buổi trưa ăn mỳ,
buổi tối bày tiệc rượu. Ni Hàng Châu khi ăn mỳ, mỗi ni gắp một sợi mỳ
trong bát mình cho c, gọi là “thêm thọ”mỗi người nhất định phải ăn hai bát
mỳ, nhưng không được múc đầy, vì như vậy sẽ xúi quẩy.
Cách ăn cơm bằng đũa
Được biết, trên thế giới có cách để ăn cơm, trực tiếp lấy tay bốc chiếm 40 phần
trăm, dùng dao và dĩa chiếm 30 phần trăm, còn 30 phần trăm là ăn bằng đũa.
Đũa là một phát minh lớn của người TQ. T thời Ân Thương cách đây hơn
3000 năm đã bắt đầu biết dùng đũa, nhưng lúc ban đầu không gọi là “đũa”.
Theo văn hiến thời cổ ghi chép, lúc đó người ta gọi “đũa” là “trợ” hoặc là
“giáp”, đến thế kỷ thứ 6, thứ 7 trước công nguyên đũa còn được gọi là “Cân”.
Vậy tại sao lại gọi là đũa ? theo văn hiến ghi chép, người dân miền Giang Nam
miền Đông TQ cho rằng, phát âm từ “trợ” và “trọ” là giống nhau, mà những
người đi thuyền trên sônglại rất kỵ “thuyền ngừng Lại” <vì trong tiếng TQ từ
trọ đồng âm với từ ngừng>, n đặt ngược ý là “đũa”<trong tiếng TQ đồng âm
với từ nhanh>. Đến đời nhà Đường, trong thế kỷ 7, người ta lại ghép chữc trúc
với chữ nhanh, bởi vử đũa thường là làm bằng trúc. Thế là, đôi đũa để ăn cơm
mà TQ phát minh mà ai nấy đều biết mới có tên gọi là “đũa” .
Vậy đũa đã được phát minh trong bốic ảnh như thế nào ? Có người dự đóan,
trong thời cổ xưa khi nướng thức ăn, tiện tay bẻ hai cành cây hoặc cành trúc để
gắp ăn, như vậy vừa không bỏng, lại có thể thưởng thức món ăn thơm ngon
nóng sốt, vì vậy đã chuyển biến thành đũa. Kết cấy của đôi đũa hết sức đơn
giản. Về hình dáng, là hai que nhỏ, đũa của Tq trên to dưới nhỏ, trên vuông
dưới tròn, tạo hình như vậy có ưu điểm là gấp rất tiện, không bị trơn, khi để
trên bàn cũng không bị lăn đi lăn lại, đầu đũa tròn khi gắp thức ăn cho miệng
cũng không bị xước môi. Sau khi đũa được truyền vào Nhật bản, người Nhật lại
làm thành đũa vuông, vì người Nhật hay ăn đồ tươi sống, như các sống v,v,
thì loại đũa này sẽ tiện hơn.
Đũa tuy rất đơn giản, nhưng về nguyên liệu để làm đũa và điêu khắc, trang trí
đũa thì ngưi TQ làm rất cầu kỳ. Từ hơn 2000 năm về trước đã có đũa n
đũa mạ đồng. 6-7 thế kỷ trở lại đây, trong cung đình, quan phủ và những gia
đình giàu có đã dùng đũa bằng vàng, bạc, lấy ngọc, san hô điêu khắc đũa v,v.
Những loại đũa cầu kỳ còn bịt đầu bằng bặc để thơử thức ăn có thuốc độc hay
không, nếu như oć thuốc độc, thì bạc lập tức biến thành màu đen hoặc màu
xanh.
Đũa trong dân gian TQ thường đóng một trò rất quan trọng. Có một số nơi khi
cô gai về nhà chông, trong của hồi môn nhất định phải chuẩn bị cho đôi vợ
chồng trẻ hai cái bát và hai đôi đũa, rồi lấy dây đỏ buộc vào nhau, gọi là “bát
con cháu”, đây không những là tỏ ý từ nay hai vợ chồng trẻ sẽ sinh sống bên
nhau, mà từ “đũa” đồng âm với tư “nhanh” với ngụ ý là chúc hai vợ chồng
“sớm ngày sinh con đẻ cái”. Ở nông thôn miền Bắc TQ còn có một tập tục là,
khi bạn bè đến vui đùa trong phòng cô dau chú rể trong đêm tân hôn, bạn bè
người thân từ ngoài cửa xổ ném đũa vào với ngụ ý là may mắn, như ý, sớm có
con. Không nên coi thường đôi đũa chỉ là chiếc que nhỏ, nhưng muốn cầm hai
chiếc que nhỏ y cho vững cũng phải biết cách cầm .
Kỹ xảo cầm đũa của người TQ, thường thu hút sự chú ý của người nước
ngoài, thậm trí ở phương Tây còn có “trung tâm bồi dưỡng”sử dụng đũa. Có
chuyên gia ý học cho rằng, dùng đũa có thể họat động hơn 30 khớp xương và