TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
KHOA VẬT LÝ
BỘ MÔN VẬT LÝ ỨNG DỤNG
BÀI TIỂU LUẬN MÔN VẬT LIỆU QUANG TỪ
HIỆU ỨNG TỪ - ĐIỆN TRỞ KHỔNG LỒ (GMR)
VÀ HƯỚNG PHÁT TRIỂN
GVHD : TS Đinh Sơn Thạch
HVTH : Nguyễn Thị Hà Trang
Lớp : Cao học quang học – K21
TP Hồ Chí Minh, tháng 4 năm 2012
Bài tiểu luận môn Vật liệu quang từ GVHD : TS. Đinh Sơn Thạch
MỤC LỤC
MỤC LỤC ................................................................................................................ 1 LỜI MỞ ĐẦU ........................................................................................................... 2 CHƢƠNG I – TỔNG QUAN .............................................................................. 3 I – Hiệu ứng từ điện trở khổng lồ .................................................................... 3 1 - Hiệu ứng từ điện trở ( Magnetoresistance – MR ) ................................. 3 1.1 - Hiệu ứng từ trở thƣờng (Ordinary Magneto Resistance - OMR) .. 3 1.2 – Hiệu ứng từ điện trở dị hƣớng ( Anisotropic Magnetoresistance - AMR) ........................................................................................................ 3 2 – Màng đa lớp từ (Magnetic multilayers) ................................................ 4 3 – Hiệu ứng từ điện trở khổng lồ (Giant Magnetorisistance –GMR ) ...... 5 3.1 –Đôi nét về hiệu ứng GMR ................................................................ 5 3.2 – Một số mô hình dùng để giải thích cơ chế vật lý của hiệu ứng GMR ......................................................................................................... 8 3.2.1 - Mô hình hai dòng điện của Mott .................................................. 9 3.2.3 – Dựa trên cấu trúc vùng năng lƣợng và quá trình tán xạ s-d......14 II - Hiệu ứng từ điện trở khổng lồ trong màng mỏng đa lớp dị thể (Granular GMR) ..............................................................................................................18 1 – Cấu tạo màng đơn lớp dị thể ................................................................18 2 – Giải thích hiện tƣợng tán xạ phụ thuộc spin trong mẫu hạt ...............19 3 – Cấu trúc nano dị thể .............................................................................20 4 – Cấu trúc đơn domain ............................................................................22
CHƢƠNG II - ỨNG DỤNG VÀ HƢỚNG PHÁT TRIỂN CỦA HIỆU ỨNG TỪ ĐIỆN TRỞ KHỔNG LỒ (GMR) ................................................................23 I – Các hƣớng nghiên cứu vật liệu mới ..........................................................24 1.1 - Hợp chất perovskite chứa manganese có pha tạp nguyên tố đất hiếm .....................................................................................................................25 1.2 - Các vật liệu từ kiểu Heusler và bán Heusler ......................................26 II – Hƣớng nghiên cứu về cấu trúc ................................................................26 2.1 - Màng mỏng van spin (spin valve) :.....................................................27 2.2 - Màng mỏng đơn lớp dị thể .................................................................32 Tài liệu tham khảo ..................................................................................................33
HVTH : Nguyễn Thị Hà Trang
1
Bài tiểu luận môn Vật liệu quang từ GVHD : TS. Đinh Sơn Thạch
LỜI MỞ ĐẦU
Công nghệ thông tin dựa trên các vật liệu bán dẫn và vật liệu từ. Trong
đó, quá trình chuyển tải, thu nhận và xử lý thông tin được thực hiện nhờ việc sử
dụng thuộc tính điện tích của điện tử, đỉnh cao phát triển của điện tử truyền
thống (electronics) là tạo ra các linh kiện bán dẫn transistor, các mạch tích hợp.
Trong khi việc lưu trữ thông tin được thực hiện nhờ thuộc tính spin của điện tử
trong các đĩa cứng và đĩa mềm chế tạo bằng vật liệu từ. Như vậy, hai thuộc tính
quan trọng của điện tử là điện tích và spin đã được sử dụng một cách riêng lẻ
trong các linh kiện khác nhau.
Năm 1988, hai nhóm vật lý người Pháp Albert Fert và người Đức Peter
Gruenberg phát hiện hiệu ứng từ - điện trở khổng lồ (Giant MagnetoResistance
– GMR effects) – là hiệu ứng gây ra sự thay đổi mạnh của điện trở của vật liệu
theo chiều và cường độ của từ trường tác dụng lên cấu trúc màng mỏng từ đa
lớp sắt từ với lớp kim loại phi từ kẹp giữa; bản chất của hiệu ứng này là sự tán
xạ phụ thuộc spin của điện tử dẫn. Việc phát hiện hiệu ứng GMR đã cho phép
con người có thể sử dụng đồng thời cả hai thuộc tính của điện tử dẫn là spin và
điện tích vào việc xử lý và truyền thông tin trên một linh kiện – điều mà những
linh kiện bán dẫn điện tử truyền thống trước đây không thể thực hiện được.
Với việc phát hiện hiệu ứng GMR đã mở ra một hướng phát triển mới cho vật
lý và công nghệ nano, mở ra một nhánh mới của điện tử học – điện tử học spin
hay spintronics, và GMR cùng với TMR (hiệu ứng từ trở xuyên ngầm) là hai
trụ cột của spintronics. Mục đích chính của spintronics là sử dụng spin của điện
tử để chuyển đổi (mã hóa), mang (truyền tải) và nhận biết (phát hiện) thông
tin/tín hiệu.
Nhận thức được tầm quan trọng của GMR trong lĩnh vực spintronics đã
hướng em đến chọn lựa đề tài tiểu luận là :
“Hiệu ứng từ - điện trở khổng lồ (GMR) và hướng phát triển ”
HVTH : Nguyễn Thị Hà Trang
2
Bài tiểu luận môn Vật liệu quang từ GVHD : TS. Đinh Sơn Thạch
CHƢƠNG I – TỔNG QUAN
I – Hiệu ứng từ điện trở khổng lồ
1 - Hiệu ứng từ điện trở ( Magnetoresistance – MR )
Hiệu ứng từ điện trở (MR) là sự thay đổi điện trở của một vật dẫn khi nó
được đặt trong từ trường ngoài.
Hiệu ứng MR lần đầu tiên được tìm thấy vào năm 1857 bởi Lord Kelvin
trên các mẫu hợp kim NiFe với sự thay đổi điện trở suất không quá 5% ở nhiệt
độ phòng. Đó là hiệu ứng từ điện trở dị hướng.
Người ta thường dùng khái niệm tỉ số từ trở để nói lên sự thay đổi của
điện trở dưới tác dụng của từ trường ngoài.
(1.1)
Trong đó : lần lượt là điện trở suất của vật dẫn khi không có từ
trường ngoài và có từ trường ngoài đặt vào.
Tỉ số từ trở MR có thể âm hay dương.
1.1 - Hiệu ứng từ trở thƣờng (Ordinary Magneto Resistance -
OMR)
Hiệu ứng OMR quan sát thấy ờ các kim loại phi từ, thường là hiệu ứng
dương ( tức điện trở tăng theo từ trường tác dụng lên vật ).
Trong những kim loại phi từ thì hiệu ứng MR xảy ra do lực Lorentz tác
dụng lên chuyển động của các điện tử. Nói chung, hiệu ứng này rất nhỏ và có
giá trị âm.
1.2 – Hiệu ứng từ điện trở dị hƣớng ( Anisotropic
Magnetoresistance - AMR)
Hiệu ứng AMR là hiệu ứng từ điện trở, mà trong đó sự thay đổi của điện
trở của vật dẫn từ dưới tác dụng của từ trường ngoài phụ thuộc vào góc giữa
vectơ từ độ và dòng điện.
Đối với các hợp kim có từ tính, các kim loại sắt từ, ta có thể quan sát
thấy được hiệu ứng này. Sự thay đổi điện trở suất trong AMR lớn hơn nhiều so
HVTH : Nguyễn Thị Hà Trang
3
Bài tiểu luận môn Vật liệu quang từ GVHD : TS. Đinh Sơn Thạch
với OMR. Hiệu ứng AMR xảy ra do lực Lorentz tác dụng lên điện tử. Về bản
chất, hiệu ứng AMR chính là sự phụ thuộc của điện trở suất vào góc giữa
vectơ từ độ và chiều dòng điện, được thể hiện qua biểu thức sau :
(1.2)
Ở nhiệt độ phòng, tỉ số AMR lớn nhất (khoảng 6%) đã được tìm thấy
trong hợp kim khối (với x = 0,2). Đối với hợp kim permalloy ,
tỉ số AMR khoảng 4%. Tỉ số AMR giảm theo độ dày của màng và điều kiện
chế tạo, như với màng permalloy dày 30nm, tỉ số này thường vào khoảng 2,5%.
[3]
2 – Màng đa lớp từ (Magnetic multilayers)
Cấu trúc cơ bản của màng đa lớp từ gồm lớp kim loại sắt từ A và
lớp kim loại phi từ B xếp xen kẽ nhau. Bề dày của mỗi lớp khoảng vài nano
mét và số lượng các lớp khoảng từ 3 đến 100 lớp.
Hình 1.1 Cấu trúc một màng đa lớp từ với lớp sắt từ A có bề dày d và
lớp phi từ B có bề dày d’.
Hai đặc điểm quan trọng của màng đa lớp từ là
- Sự định hướng của từ độ của các lớp từ được kiểm soát
một cách dễ dàng bởi từ trường ngoài, bởi vì tương tác (coupling) giữa
từ độ của các lớp từ yếu do có lớp phi từ kẹp giữa chúng.
- Bề dày mỗi lớp đủ mỏng để điện tử dẫn cảm nhận được sự
thay đổi hướng của độ của các lớp từ.
HVTH : Nguyễn Thị Hà Trang
4
Bài tiểu luận môn Vật liệu quang từ GVHD : TS. Đinh Sơn Thạch
Nếu lớp phi từ là kim loại thì MR được gọi là MR khổng lồ (GMR). Nếu
lớp phi từ trong màng mỏng ba lớp là chất cách điện thì MR được gọi là MR
xuyên ngầm (TMR).
Xét với vật liệu có hiệu ứng GMR thì Fe, Co, Ni và những hợp
kim của chúng thường được chọn để làm lớp sắt từ A, trong khi các kim loại
chuyển tiếp phi từ như Cr, Ru hoặc các kim loại hiếm Cu, Ag, Au được sử
dụng để làm lớp phi từ B.
Có tiêu chí gì khi chọn vật liệu phi từ, sắt từ để tạo màng đa lớp không ?
Hay với những cặp kim loại sắt từ/phi từ nào sẽ thu được giá trị từ trở lớn ?
Câu trả lời là việc lựa chọn dựa trên hai yếu tố quan trọng : phù hợp mạng
(lattice matching) và phù hợp vùng (band matching) giữa kim loại sắt từ và phi từ. Như với màng mỏng Co có cấu trúc fcc với hằng số mạng là 3,56Ao, chỉ nhỏ hơn 2% so với hằng số mạng 3,61Ao của mạng fcc Cu. Cả với trường hợp Fe/Cr đều có cấu trúc bcc và hằng số mạng lần lượt là 2,87Ao với Fe, 2,88Ao
với Cr. Vì thế nên cũng không ngạc nhiên khi với màng đa lớp Co/Cu, Fe/Cr
người ta đã thu được giá trị GMR cao [6].
3 – Hiệu ứng từ điện trở khổng lồ (Giant Magnetorisistance –GMR )
Hiệu ứng từ điện trở khổng lồ là sự thay đổi lớn của điện trở suất
dưới tác dụng của từ trường ngoài.
3.1 –Đôi nét về hiệu ứng GMR
Hiệu ứng GMR được phát hiện lần đầu tiên vào năm 1986 của nhóm của
nhà vật lý người Đức Peter Grünberg , nhóm này đã quan sát được sự thay đổi
của điện trở của màng gồm ba lớp có cấu trúc
Fe(12nm)/Cr(1nm)/Fe(12nm) chế tạo bằng phương pháp MBE trên đế GaAs.
Độc lập với nhóm của Peter Grünberg, vào năm 1988, nhóm của nhà vật lý
người Pháp Albert Fert đã quan sát được sự thay đổi 50% của điện trở của
màng đa lớp (nghĩa là các lớp Fe, Cr có độ dày tương
ứng là 3nm, 0,9nm, hệ gồm 40 lớp kép) dưới tác dụng của từ trường ngoài ở
nhiệt độ 4,2K [4]. Đây là một sự thay đổi lớn chưa từng được quan sát trước
đây. Vì vậy mà hiệu ứng này được gọi là hiệu ứng từ điện trở khổng lồ (Giant
HVTH : Nguyễn Thị Hà Trang
5
Bài tiểu luận môn Vật liệu quang từ GVHD : TS. Đinh Sơn Thạch
Magnetorisistance – GMR ). Gọi như vậy không phải chỉ bởi sự “khổng lồ” của
thay đổi điện trở mà còn bởi cơ chế hoàn toàn mới của hiện tượng này, cơ chế
tán xạ phụ thuộc spin của các điện tử.
Hình 1.2 Từ trở của siêu mạng ba lớp Fe/Cr ở nhiệt độ 4,2K. Dòng điện
và từ trường ngoài có phương dọc theo phương tinh thể [110] trong mặt phẳng
của các lớp [4].
Sau phát minh này thì hiệu ứng GMR đã được nghiên cứu một
cách mạnh mẽ trên rất nhiều hệ mảng mỏng đa lớp khác nhau kiểu
, với TM là kim loại có từ tính, điển hình như Fe, Co, Ni
và hợp kim của chúng, TNM là kim loại phi từ, như V, Cr, Mo, Ru, …, Ag,
Au, Cu…
A. Fert và đã sử dụng phương pháp MBE để chế tạo màng
đa lớp. Hạn chế của phương pháp này là phức tạp, có giá thành cao, chỉ phù
hợp tốt với một phòng thí nghiệm nghiên cứu, không phù hợp cho cả một quá
trình công nghệ có quy mô lớn. Vì thế để có thể ứng dụng GMR vào trong sản
xuất công nghiệp cần phải tìm ra một quy trình công nghệ đơn giản hơn, giá
thành phải chăng. Vào năm 1990, nhóm của S. Parkin đã chứng minh được
rằng GMR có thể được quan sát trong các màng đa lớp được lắng đọng bằng hệ
phún xạ dc magnetron – một phương pháp đơn giản và rẻ hơn MBE. Họ đã thu
HVTH : Nguyễn Thị Hà Trang
6
Bài tiểu luận môn Vật liệu quang từ GVHD : TS. Đinh Sơn Thạch
được những giá trị GMR tương tự từ những màng đa lớp Fe/Cr được chế tạo
bằng phương pháp MBE. Hơn nữa, nhóm cũng phát hiện ra từ trở trong cấu
trúc siêu mạng Fe/Cr không giảm đơn điệu khi bề dày của lớp Cr tăng (như
được báo cáo trước đây) mà độ lớn từ trở dao động như một hàm của bế dày
lớp Cr. Kết quả cũng thu được tương tự như với các màng Co/Cr, Co/Ru [5].
Như vậy, công nghệ chế tạo cũng có ảnh hưởng đến độ lớn của hiệu ứng
GMR. Kết quả thực nghiệm cho biết, kỹ thuật phún xạ catot thường cho kết
quả tốt nhất [3].
Hình 1.3 Sự thay đổi của từ trở bão hòa (tại nhiệt độ 4,5K) theo bề dày
lớp Cr của lần lượt của ba cấu trúc
được lắng đọng lần lượt tại
nhiệt độ : 40oC (N=30); o , 125oC (N=20) [5]
Mặc dù những giá trị cao nhất của GMR thu được với màng đa lớp từ -
phi từ, thì những màng này cũng không phải là vật liệu tốt nhất cho những ứng
dụng kỹ thuật. Điều này là do cần có từ trường lớn để bão hòa từ độ của màng
đa lớp và để thu được sự thay đổi điện trở lớn.
Các nghiên cứu sau này còn chỉ ra rằng, hiệu ứng GMR không
chỉ xuất hiện trong các màng đa lớp mà còn xuất hiện trên các màng đơn lớp,
các băng hợp kim dị thể như CoCu, CoAg…Cụ thể, vào năm 1992, nhóm của
A.E. Berkowitz phát hiện ra hiệu ứng GMR trên các màng hợp kim dị thể
HVTH : Nguyễn Thị Hà Trang
7
Bài tiểu luận môn Vật liệu quang từ GVHD : TS. Đinh Sơn Thạch
(ganular) Co-Cu với cấu trúc là các hạt Co siêu thuận từ trên nền Cu có tỉ số từ
trở có thể đạt tới hơn 20% ở nhiệt độ 10K.
Hình 1.4 Sự phụ thuộc của
theo từ trường ngoài trong màng
mỏng dị thể Co – Cu. Đường cong a, b được đo tại nhiệt độ 100K, đường cong
c thu được ở nhiệt độ 10K. (Theo Berkowitz et al.) [6]
Sau đó, nhóm của J. Q. Xiao đã khảo sát hiệu ứng GMR đối với màng
tăng, cụ thể với màng đơn lớp dị thể Co – Cu và nhận thấy rằng giá trị của GMR giả đi khi nhiệt độ (trong điều kiện ủ nhiệt TA = 480oC) đo tại
nhiệt độ 5K và nhiệt độ phòng 300K thì kết quả thu được lần lượt là 13% và
8%. Nhóm cũng nhận thấy rằng giá trị của GMR phụ thuộc vào nồng độ và
kích thước đám hạt từ [10] .
Sau những khám phá về hiệu ứng GMR xuất hiện trong các hệ màng
mỏng từ đa lớp và hệ màng mỏng đơn lớp dị thể thì có rất nhiều nghiên cứu về
hiệu ứng này được tiến hành và lý thuyết về GMR cũng dần được hoàn thiện.
3.2 – Một số mô hình dùng để giải thích cơ chế vật lý của hiệu ứng
GMR
Như đã đề cập ở trước, GMR có bản chất khác hẳn các hiệu ứng từ điện
trở đã được nghiên cứu trước đây bởi vì GMR là một hiệu ứng lượng tử. Cơ
chế của hiệu ứng GMR là tán xạ phụ thuộc spin của điện tử.
HVTH : Nguyễn Thị Hà Trang
8
Bài tiểu luận môn Vật liệu quang từ GVHD : TS. Đinh Sơn Thạch
Hơn nữa để có hiệu ứng GMR thì khi chưa đặt từ trường ngoài vào
màng thì từ độ giữa các lớp từ phải đối song song với nhau và chiều dài quãng
đường tự do trung bình của các electron dẫn phải lớn hơn nhiều so với khoảng
cách giữa các lớp đệm phi từ sao cho electron có thể đi qua các lớp từ và tạo ra
hiệu ứng GMR.
Điện trở của vật rắn phụ thuộc vào tán xạ của điện tử dẫn trong vật, bao
gồm :
- Tán xạ trên nút mạng tinh thể do dao động mạng tinh thể, gọi là tán xạ trên
phonon.
- Tán xạ trên spin của các phần tử mang từ tính, gọi là tán xạ trên magnon.
- Tán xạ trên sai hỏng mạng tinh thể, gọi là tán xạ trên defect.
- Gần đây còn có các nghiên cứu chỉ ra sự tán xạ của điện tử trên các
polaron từ để giải thích hiệu ứng GMR.
Như vậy, hiệu ứng GMR có được là do sự tán xạ của điện tử trên
magnon. Khi có các phần tử mang từ tính (như các lớp sắt từ trong các màng đa
lớp, các hạt siêu thuận từ trong các màng hợp kim dị thể) có sự định hướng
khác nhau về momen từ (do tác động của từ trường ngoài), sẽ dẫn đến sự thay
đổi về tính chất tán xạ của điện tử và do đó sẽ làm thay đổi điện trở của vật rắn.
Nói một cách chính xác hơn, hiệu ứng GMR trong các màng đa lớp được giải
thích bằng mô hình hai dòng điện của Mott. Hai dòng điện ở đây là dòng của
các điện tử có spin thuận và dòng điện của các điện tử có spin nghịch.
3.2.1 - Mô hình hai dòng điện của Mott
Mô hình này được Mott đề xuất vào năm 1935 để giải thích sự tăng đột
ngột điện trở suất của kim loại sắt từ khi nó được nung nóng trên nhiệt độ Curie
TC.
Mô hình này có thể được mô tả một cách đơn giản như sau :
Ở nhiệt độ đủ thấp T chuyển dời điện tử chiếm đa số (điện tử có spin song song với từ độ) và thiểu số (có spin đối song song với từ độ) sẽ không bị pha trộn trong quá trình tán xạ, nên tạo thành hai kênh dẫn tương ứng song song. Sự dẫn điện có thể coi là tổng hợp của hai dòng độc lập và không cân bằng của hai loại spin có chiều khác nhau. Mô hình hai dòng này có thể được biểu diễn bằng mạch song song, trong đó điện trở suất của hai loại hạt dẫn được kí hiệu là và . Hình 1.5 Mô hình hai kênh dẫn Theo Mott, độ dẫn điện của kim loại bằng tổng độ dẫn điện tương ứng với điện tử có spin up và spin down : Theo mô hình Drude : Trong đó, là độ dẫn điện Drude trên một spin; là lượng tử dẫn spin (spin conductance quantum); là momen động lượng Fermi; là quãng đường tự do trung bình, được tín bởi công thức , với là thời gian hồi phục, là vận tốc Fermi [6] Điện trở suất của mẫu : Trong đó Với là khối lượng hiệu dụng của điện tử, n là mật độ điện tử, là thời gian hồi phục, , và lần lượt là giá trị trung bình của thế tán xạ, mật độ trạng thái điện tử tại mức Fermi của spin tương ứng. Như vậy, nguồn gốc nội tại của sự phụ thuộc spin của điện trở suất là do các đại lượng đều phụ thuộc spin, trong đó quan trọng nhất là sự phụ thuộc spin của thời gian hồi phục, bởi vì nó ảnh hưởng đến tán xạ điện tử một cách mạnh mẽ nhất. Ngoài ra, thế tán xạ không phải là tính chất nội tại của kim loại, nó phát sinh là do có các khuyết tật, tạp chất, hoặc dao động mạng. Thế tán xạ có thể phụ thuộc spin hoặc có thể không. Đây là nguồn gốc bên ngoài của sự phụ thuộc spin của điện trở suất. a – Giải thích hiệu ứng GMR Với cấu trúc màng đa lớp, thì các lớp phản sắt từ hay phi từ đóng vai trò ngăn cách giữa các lớp sắt từ, khiến cho momen từ của các lớp sắt từ phải có sự định hướng khác nhau sao cho có sự cân bằng về từ độ. Sự tác động của từ trường ngoài sẽ dẫn đến việc thay đổi sự định hướng của momen từ ở mỗi lớp, dẫn đến sự thay đổi về dòng dẫn của các spin phân cực và dẫn đến sự thay đổi về điện trở suất để từ đó GMR xuất hiện khi từ trường ngoài tăng đến giá trị bão hòa. Hiệu ứng GMR có thể được giải thích với sự tổ hợp đồng thời của ba giả thiết sau : Vì độ dày của lớp phi từ chỉ vào cỡ 1nm, tức là nhỏ hơn hoặc xấp xỉ bằng quãng đường tự do trung bình của các điện tử, nên điện tử có khả năng vượt qua lớp đệm không từ để chuyển động từ lớp từ tính này sang lớp từ tính khác. Khi chuyển động trong các vật liệu có từ tính hoặc trong vùng chuyển tiếp với các lớp từ tính, sự tán xạ của các điện tử phụ thuộc vào định hướng spin của chúng. Định hướng tương đối của các vectơ từ độ trong các lớp có thể thay đổi dưới tác dụng của từ trường ngoài. Hình 1.6 Mô hình hai dòng điện của Mott dùng để giải thích hiệu ứng GMR b - Bản chất vật lý của hiệu ứng GMR Giả thiết rằng, bề dày các lớp màng tương đương với quãng đường tự do trung bình của các điện tử và mỗi điện tử khi đi từ lớp từ này đến lớp từ kế tiếp theo sẽ mang một cấu hình spin nhất định (spin up hoặc spin down) và không đổi cho đến khi bị tán xạ, tức tính bảo toàn spin được bảo đảm. Các spin có chiều song song với từ độ thì ít bị tán xạ hơn các spin có chiều phản song song với từ độ. Khi chưa đặt mẫu trong từ trường ngoài (H = 0), ứng với cấu hình phản song song (hình b), các lớp sắt từ sắp xếp theo kiểu phản song song, tất cả các điện tử có spin up và down đều tán xạ mạnh trong lớp từ tính này và tán xạ yếu trong lớp từ tính khác. Trong cấu hình phản song song này, toàn bộ các điện tử dẫn đều bị tán xạ như nhau, điều này làm cho hệ giống như một cái van (đối với các spin) có tác dụng hạn chế dòng “chảy” của hai kênh điện tử. Vì thế điện trở suất ứng với mỗi kênh đều cao như nhau. Cấu hình này sẽ có điện suất tương đương : (1.2) Còn khi đặt mẫu trong từ trường ngoài, , với là từ trường bão hòa,và từ trường tăng dần thì từ trường ngoài sẽ dần dần sắp xếp từ độ của các lớp theo chiều từ trường, điều này sẽ làm cho sự tán xạ của điện tử có spin up trên kênh ứng với spin down giảm dần (do từ độ của kênh này đã chuyển hướng song song với chiều spin) nên điện trở suất của hệ giảm dần từ giá trị . Cho đến khi thì từ độ trong các lớp đều song song với nhau và song song với spin up thì sự tán xạ của điện tử có spin up trong hệ là nhỏ nhất, điện trở suất của hệ lúc này có giá trị cực tiểu bằng . Với , hệ sẽ ứng với cấu hình song song (hình a), từ độ của các lớp sắt từ song song với nhau, các điện tử có spin up có quãng đường tự do trung bình lớn trong toàn bộ mẫu. Điều này có nghĩa là các điện tử này tải điện dễ dàng do hầu như không bị tán xạ với các momen từ cùng chiều, vì thế có điện trở suất nhỏ , tức có độ truyền qua cao. Ngược lại, các điện tử có spin down có quãng đường tự do trung bình ngắn hơn do bị tán xạ mạnh với các momen từ ngược chiều nên điện trở suất lớn hơn. Trong trường hợp này thì hệ như một cái van mở thông cho kênh ứng với spin up truyền qua, hay có sự đoản mạch đối với kênh spin up. Khi đó, điện trở của hệ sẽ nhỏ hơn (nhỏ nhất) so với trường hợp của cấu hình phản song song. Nếu độ dày của lớp đệm phi từ nhỏ hơn 1nm thì điện trở suất tương đương với màng mỏng đa lớp có cấu hình song song là : (1.3) Độ lớn của hiệu ứng GMR là : (1.4) Với là tham số bất đối xứng spin Từ biểu thức (1.4) ta có thể thấy được giá trị của GMR phụ thuộc vào sự bất đối xứng về điện trở suất giữa hai kênh dẫn của lớp sắt từ. Với tham số lớn, tức >>1 hoặc <<1, thì giá trị GMR sẽ lớn. Khi nhiệt độ mẫu lớn hơn nhiệt độ Curie, thì quá trình trộn hai kênh dẫn không thể bỏ qua và được đặc trưng bởi số hạng điện trở suất trộn-spin (spin – mixing) . Điện trở suất khi đó được tính bởi công thức : (1.5) Quá trình trộn hai kênh spin được giải thích như sau : điện tử có spin up (hoặc down) bị tán xạ vào trạng thái có spin down (hoặc up) bằng việc sinh ra hoặc hủy một magnon. Bản chất vật lý của hiện tượng trộn hai kênh spin là tương tác spin – quỹ đạo (spin – orbital interaction) và có bản chất lượng tử. Như vậy ở nhiệt độ thấp (dưới nhiệt độ Curie), việc sinh ra magnon sẽ ít, nên quá trình trộn lẫn hai kênh dẫn được bỏ qua. Ở nhiệt độ thấp, thì biểu thức (1.5) trở thành biểu thức (1.3). Ở nhiệt độ đủ cao để thì biểu thức (1.5) được viết lại là : (1.6) 3.2.3 – Dựa trên cấu trúc vùng năng lƣợng và quá trình tán xạ s-d a – Cấu trúc vùng năng lƣợng Cấu trúc vùng năng lượng của màng đa lớp gần như chắc chắn là đặc tính quan trọng nhất để làm rõ tính dẫn điện phụ thuộc spin và hệ quả là gây ra GMR. Cấu trúc điện tử của kim loại chuyển tiếp và các kim loại sắt từ 3d được xét chủ yếu các orbitan d và s. Vị trí tương đối của mức Fermi với trạng thái s và d phụ thuộc vào từng vật liệu. Nguồn gốc từ tính trong các kim loại này tương ứng là do các electron thuộc nhóm 3d và 4f. Dưới đây, ta chủ yếu xét đến từ tính của các nguyên tố thuộc nhóm 3d. Trong các nguyên tử tự do, các mức năng lượng nguyên tử 3d và 4s của các nguyên tố chuyển tiếp 3d là “chỗ ở” (host) của các electron hóa trị. Ở trạng thái kim loại, các mức 3d và 4s này bị mở rộng ra thành vùng năng lượng. Trong đó, các quỹ đạo 4s bị mở rộng khá lớn trong không gian, dẫn đến sự chồng phủ lên nhau giữa với quỹ đạo 4s của các nguyên tử lận cận, vì thế vùng 4s được trải rộng trong khoảng năng lượng 15 – 20 eV. Ngược lại, quỹ đạo 3d bị mở rộng ít hơn, vùng năng lượng 3d chỉ là một dải hẹp, với bề rộng khoảng 4 – 7 eV. Thực tế, không thể phân biệt rõ ràng giữa quỹ đạo 3d và 4s bởi vì chúng sẽ lai hóa lẫn nhau trong vật liệu rắn. Tuy nhiên, để đơn giản, các electron thuộc lớp 3d sẽ được coi là các electron kim loại – nghĩa là chúng linh động và có thể mang dòng điện đi qua hệ mặc dù độ linh động của chúng còn kém hơn nhiều so với các electron thuộc lớp 4s. Hình 1.7 Mô tả mật độ trạng thái của kim loại Cr, Fe, Co, Cu. Các kí hiệu : +, - lần lượt là trạng thái điện tử ứng với spin , . Đường nét đứt là mức năng lượng Fermi. Trong kim loại sắt từ 3d, giả sử rằng, các hạt tải điện chủ yếu là các điện tử s (vì các điện tử d có khối lượng hiệu dụng lớn) nên vùng s không bị tách, do đó điện tử s có spin – up và spin – down là bằng nhau. Với kim loại này thì có sự tách vùng ở phân vùng d, mà vị trí tương đối của phân vùng ứng với điện tử có spin – up thấp hơn phân vùng của các điện tử có spin – down. Theo nguyên tắc tối ưu về mặt năng lượng thì phân vùng năng lượng của điện tử có spin – up bao giờ cũng chiếm nhiều điện tử hơn. Do đó, các điện tử có spin – up gọi là hạt tải đa số, còn điện tử có spin – down là hạt thiểu số. Các điện tử đa số quyết định chiều của từ độ và hiệu số của số lượng điện tử có spin – up và spin – down quyết định độ lớn của từ độ. Ta có thể thấy được, với nguyên tố Co, dưới mức Fermi phân vùng 3d với các spin – up bị lấp đầy hoàn toàn, còn phân vùng 3d với các spin – down cắt mức Fermi, tức phân vùng này vẫn còn trống. Còn đối với Fe, thì mật độ trạng thái của các spin – up ở trên mức Fermi vẫn tồn tại nhưng nhỏ hơn nhiều so với trạng thái spin – down. b. Cơ chế tán xạ s – d Cơ chế tán xạ s – d là tán xạ của các điện tử s trên các trạng thái d ở gần mức Fermi. Để hiệu ứng GMR xảy ra thì một điều kiện là chiều dày của các lớp phải nhỏ hơn hoặc gần bằng với quãng đường tự do trung bình của các điện tử. Vì chỉ có các điện tử từ 3d ở lân cận mức Fermi mới tham gia vào quá trình tán xạ do mật độ trạng thái chưa được lấp đầy, chỉ có điện tử 4s mới tham gia vào quá trình dẫn điện và chỉ có tán xạ s – d mới gây ra sự dị thường của điện trở suất khi có từ trường ngoài tác dụng, nên các tán xạ khác được bỏ qua. Hình 1.8 Sơ đồ mật độ trạng thái điện tử trong cấu trúc lớp và quá trình chuyển dời điện tử phụ thuộc spin qua cấu trúc lớp. Kí hiệu NM : kim loại phi từ, FM : kim loại sắt từ, EF : mức năng lượng Fermi, M : chiều của từ độ của lớp sắt từ. Xét các điện tử dẫn 4s (up – spin , down – spin ), giả sử, được xuất phát từ một lớp kim loại phi từ đầu tiên (bên trái hình vẽ) khi chuyển động đến lớp sắt từ tiếp theo thì sẽ có hai trường hợp xảy ra ứng với cấu hình sắp xếp từ độ của các lớp sắt từ. Nếu từ độ của các lớp sắp xếp phản song song với nhau (trường hợp hình vẽ a - ứng với trường hợp từ trường ngoài H = 0), các điện tử có spin down bị bắt ngay khi vào các trạng thái 3d ứng với spin down còn trống (do có cùng trạng thái) của lớp sắt từ bên cạnh, nghĩa là bị tán xạ và sẽ không tiếp tục tham gia vào quá trình dẫn điện (mô phỏng bằng đường cung chấm màu xanh lơ ). Trong khi đó, các điện tử có spin up (có cùng chiều với từ độ) không bị bắt ở lớp sắt từ đầu tiên vì không có trạng thái 3d ứng với spin up nào trống cả. Nhưng khi điện tử này đến lớp sắt từ tiếp theo thì bị bắt (vì có trạng thái 3d ứng với spin up còn trống) (biểu thi bằng cung, nét đứt màu đỏ). Vì đây là sơ đồ có cấu trúc tuần hoàn, các trạng thái 3d ứng với spin up và spin down còn trống đều được phân bố lần lượt nhau, cho nên có thể thấy rằng cả hai kênh điện tử spin up và spin down đều tương đương nhau trong quá trình truyền qua hệ và đều bị tán xạ như nhau, dẫn đến điện trở suất của cả hệ ở trạng thái cao. Trường hợp momen từ của các lớp sắt từ sắp xếp song song với nhau (hình b), có thể thấy rằng chỉ có các trạng thái 3d spin down là còn trống nên chỉ có điện tử pin down bị tán xạ (cung nét đứt màu xanh), còn kênh ứng với điện tử có spin up thì do các trạng thái 3d với spin tương đương đều đã điện đầy nên kênh này được thông hoàn toàn (đường cong liền nét màu đỏ). Đó là trường hợp đoản mạch một kênh điện tử, dẫn đến điện trở suất của hệ giảm. II - Hiệu ứng từ điện trở khổng lồ trong màng mỏng đa lớp dị thể (Granular GMR) 1 – Cấu tạo màng đơn lớp dị thể Màng mỏng đơn lớp dạng hạt có cấu tạo gồm các hạt kim loại bị từ hóa, như Fe, Co,..., được phân bố trong một lớp lớp kim loại phi từ, như Cu, Ag…Kích thước của những hạt này vào cỡ nano mét và momen từ của chúng gần như là bị cô lập với nhau. Ta coi như hai hạt sắt từ nằm cạnh nhau giống như hai lớp sắt từ trong hệ màng mỏng đa lớp, nền phi từ ở giữa hai hạt như lớp kim loại phi từ kẹp giữa hai lớp sắt từ này. Hình 1.9 Sơ đồ minh họa cấu tạo của màng mỏng từ đơn đơn lớp dị thể 2 – Giải thích hiện tƣợng tán xạ phụ thuộc spin trong mẫu hạt Hiện tượng GMR được tìm thấy trong hệ màng mỏng đơn lớp dị thể lần đầu tiên vào năm 1992. Bản chất của hiện tượng GMR trong mẫu hạt cũng là sự tán xạ phụ thuộc spin của các điện tử dẫn và có thể giải thích dựa trên kết quả trong mô hình tán xạ phụ thuộc spin của các điện tử dẫn trong mẫu đa lớp. Hình 1.10 Mô tả hiệu ứng GMR ở màng mỏng đơn lớp dị thể Khi chưa có từ trường ngoài, momen từ của các hạt sắt từ định hướng một cách ngẫu nhiên, do đó cả hai kênh điện tử sẽ bị tán xạ mạnh trên đường chuyển động qua các hạt sắt từ, nên hệ ở có điện trở suất cao. Khi từ trường ngoài tăng dẩn thì sẽ làm tăng dần số hạt có momen từ song song với nhau (song song với từ trường ngoài). Lúc đó, một kênh spin có hướng song song với từ trường ngoài sẽ bị tán xạ ít dần, trong khi đó kênh còn lại bị tán xạ mạnh dần. Khi từ trường tăng đến giá trị đủ lớn để quay toàn bộ số momen từ của hệ thì kênh spin song song với từ trường sẽ gần như truyền qua hoàn toàn, kênh còn lại gần như bị tán xạ hoàn toàn, do đó điện trở suất của cả hệ có giá trị thấp nhất. 3 – Cấu trúc nano dị thể Trong vật liệu cấu trúc nano dị thể – thuật ngữ hạt liên quan đến các hạt
kim loại rắn, kích thước chỉ vài nano mét, chứa khoảng 103 – 106 nguyên tử - vấn đề then chốt quyết định đến các tính chất vật lý của vật liệu thông qua các yếu tố như phần thể tích của các hạt xv (tỷ phần thể tích của các hạt và thể tích toàn khối vật liệu) và kích thước của các hạt 2r. Vật liệu rắn kim loại dị thể được chia thành hai loại, loại thứ nhất gồm các hạt kim loại trong nền vật liệu điện môi như SiO2 và Al2O3 ; loại vật liệu dạng này đã được biết đến từ những năm 1970. Loại thứ hai gồm các kim loại từ trong nền kim loại phi từ, loại này đã được quan tâm nghiên cứu trong những năm gần đây – vật liệu từ trở khổng lồ (GMR), như hệ Co – Ag, Co – Cu. Trong vật liệu nano dị thể nói chung và trong vật từ dị thể nói riêng, hai yếu tố xv và 2r thường được cho là những nhân tố gây ảnh hưởng đến tính chất vật lý của vật liệu, giá trị của xv thay đổi từ 0 đến 1. Với tất cả vật liệu rắn kim loại dị thể, người ta còn đưa ra khái niệm là tỉ phần thể tích của phần vật liệu nền xen kẽ giữa các hạt từ. Khi : các hạt kim loại bị cô lập trong vật liệu nền và khi : các hạt tạo thành một mạng lưới liên tục [7]. Hình 1.11 Mô tả sự thay đổi cấu trúc của vật liệu rắn dị thể theo tỉ phần thể tích kim loại [7] Một cách đơn giản, xét tất cả các đều là những hạt cầu có bán kính r, được phân bố ngẫu nhiên, đồng nhất trong vật liệu nền. Khi đó, ta có thể dễ dàng tính được mật độ hạt kim loại [7] : (2.1) Tỉ số diện tích bề mặt tương tác của hạt và thể tích của các hạt [7] : (2.2) Khoảng cách trung bình giữa hai hạt kế cận (tính từ tâm của mỗi hạt) (2.3) [7] Với thì . Điều này có nghĩa là khoảng cách trung bình giữa các hạt vào khoảng kích thước của một hạt. Gọi là phần diện tích hạt kim loại tại bề mặt nền thì (2.4) Trên đây là các thông số mà sự thay đổi của những thông số này sẽ dẫn đến thay đổi tỉ số GMR, cũng như tính chất vật lý của vật liệu. 4 – Cấu trúc đơn domain Trong chất sắt từ có cấu trúc domain từ. Dưới nhiệt độ Curie, các chất sắt từ, feri từ có trật tự tự phát. Nghĩa là, các momen từ định hướng song song (đối với chất sắt từ) và đối song song nhưng không bù trừ nhau (đối với chất feri từ). Thực tế cho thấy, các momen từ không hoàn toàn trật tự trong cả thể tích mẫu mà chỉ tồn tại trật tự trong vùng có kích thước xác định. Các vùng này được gọi là các domain từ (magnetic domain). Sở dĩ dưới nhiệt độ Curie, các momen từ tự phát trong vật liệu từ phân chia thành các domain là để năng lượng của vật liệu, bao gồm năng lượng dị hướng từ, năng lượng tương tác trao đổi và đặc biệt là năng lượng trường khử từ, có giá trị cực tiểu. Khi hạt kim loại từ có , với L là kích thước của hạt kim loại, là kích thước tới hạn – là ranh giới giữa cấu trúc đơn domain và đa domain thì hạt kim loại này là một đơn domain. Với vật liệu từ có cấu trúc đơn domain thì có lực kháng từ tăng mạnh. Kích thước của hạt từ càng tăng thì lực kháng từ Hc càng giảm như trường hợp của hệ màng mỏng từ dị thể Fe/SiO2 và thì lực kháng từ đạt Fe/Al2O3, ở nhiệt độ phòng, với kích thước hạt cực đại Oe và giảm dần khi kích thước hạt lớn hơn [9] nhưng vẫn lớn hơn giá trị của mẫu Fe dạng khối cũng ở nhiệt độ phòng là Oe [2]. Với đặc điểm có lực kháng từ mạnh thì các vật liệu từ có cấu trúc đơn domain này được ứng dụng để ghi thông tin. CHƢƠNG II - ỨNG DỤNG VÀ HƢỚNG PHÁT TRIỂN CỦA HIỆU ỨNG TỪ ĐIỆN TRỞ KHỔNG LỒ (GMR) Ứng dụng phổ biến nhất của hiệu ứng GMR là trong các đầu đọc, cảm biến từ trường hay cái chuyển mạch trạng thái sử dụng từ trường. Các đầu đọc GMR có độ nhạy cao hơn rất nhiều so với việc ứng dụng đầu đọc AMR sử dụng trước đây, và do đó có thể đọc được những thông tin lưu trữ trong những bit từ rất nhỏ trên đĩa từ - có nghĩa là giúp cho việc tăng mật độ lưu trữ của đĩa từ. Hơn nữa, khả năng vận chuyển spin giữa hai lớp kim loại cũng là nền móng cho các bộ nhớ MRAM. Đưa hiệu ứng GMR vào ứng dụng trong công nghệ dựa trên hai khía cạnh chính của hiệu ứng, đó là : - sự thay đổi điện trở rất lớn và nhạy với từ trường ngoài - dùng từ trường ngoài để điều khiển các kênh dẫn ứng với spin up và spin down. Việc dùng từ trường để đảo spin theo hai chiều up và down nên mất ít thời gian, tốn ít năng lượng và có thể rút ngắn “tầm hoạt động” của điện tử hơn so với việc dùng từ trường để điều khiển càng điện tử và lỗ trống như trong các linh kiện bán dẫn truyền thống. Do đó, có thể thu nhỏ kích thước, đẩy nhanh tốc độ làm việc của linh kiện điện tử spin. Với xu hướng phát triển hiện nay là tăng dung lượng và giảm kích thước của ổ cứng máy tính. Muốn vậy thì đối với đĩa ghi từ phải giảm kích thước mỗi bit để ghi được nhiều dữ liệu hơn, đồng thời đầu đọc ổ cứng phải có kích thước nhỏ hơn và có độ nhạy cao để đọc được những bit rất nhỏ này. Để thực hiện được điều này thì phải tiến hành cải tiến song song cả đĩa ghi từ và đầu đọc cảm biến GMR. Về hướng phát triển đầu đọc cảm biến GMR : xu hướng nghiên mới hiện nay là việc tìm kiếm các vật liệu từ mới, những cấu trúc từ mới để có thể khai thác và điều khiển tối đa thuộc tính spin của điện tử, làm tăng giá trị của GMR, tăng độ nhạy của đầu đọc; để từ đó đáp ứng được yêu cầu của một đầu đọc nhạy để có thể đọc được những đĩa từ có mật độ dữ liệu cao là ít bị nhiễu, từ trường HS làm việc càng nhỏ càng tốt. I – Các hƣớng nghiên cứu vật liệu mới Nhiều vật liệu mới có độ phân cực spin cao (để thu được ti số GMR lớn) đã được nghiên cứu để làm nguồn spin, chúng sẽ góp phần làm tăng hiệu suất vận chuyển spin, tăng chiều dài khuếch tán hay tăng thời gian hồi phục spin, …Điển hình trong đó là các hợp kim/hợp chất có tính sắt từ nửa kim loại (half – metallic ferromagnets) như oxit , các hợp kim kiểu Heusler X2YZ (như Co2MnSb), kiểu bán Heusler (như NiMnSb), các hợp chất perovskite X-Mn-O… Từ trở có liên quan đến độ dẫn điện, rõ ràng, nó là ứng xử của các electron ở mức Fermi. Với vật liệu từ, mật độ trạng thái electron bị phân cực tại mức Fermi càng nhiều, tức là tại mức Fermi độ lệch giữa mật độ điện tử có spin up và điện tử có spin down càng nhiều, thì ta mong đợi hiệu suất của hiệu ứng GMR càng rõ rệt. Tên gọi sắt từ nửa kim loại có nguồn gốc từ nét đặc trưng đặc biệt là vùng spin up như kim loại trong khi vùng spin down là một chất cách điện.Vật liệu bán kim loại là những vật liệu chỉ dẫn điện bằng một điện tử có phương spin xác định, hơn nữa chúng có hệ số phân cực spin cao, có thể lên đến 100%, dùng để thay thế cho các kim loại sắt từ truyền thống (có hệ số phân cực spin chỉ khoảng 40 – 50%). Hình 2.2 Sơ đồ mật độ trạng thái minh họa cho kim loại thuận từ, sắt từ, sắt từ bán kim loại Ta có thể thấy được, với vật liệu sắt từ bán kim loại, tại mức Fermi chỉ tồn tại một loại phương spin duy nhất, tức độ phân cực spin là 100%. Vật liệu bán kim loại được ứng dụng nhiều trong việc chế tạo màng đa lớp như trong cấu trúc van spin. Một dẫn chứng điển hình cho tính ưu việt khi sử dụng vật liệu bán kim loại là độ nhạy của cấu trúc van spin đạt được 18%/(kA/m) [16]. 1.1 - Hợp chất perovskite chứa manganese có pha tạp nguyên tố đất hiếm Hợp chất là chất phản sắt từ và không dẫn điện, trong đó Ln là nguyên tố đất hiếm, như La, Nd, Eu,Y,... Vào những năm 1993 – 1995, các nhà khoa học đã phát hiện khi thay thế một phần ion (từ 10% đến 50%) bằng các ion A có hóa trị 2 như thì những hợp chất các oxit chứa chất manganese có pha tạp nguyên tố kim loại đất hiếm trở thành chất sắt từ, dẫn điện và thể hiện tính chất từ trở khổng lồ. Vật liệu này có cấu trúc mạng perovskite : các khối tám mặt (octahedron), mỗi khối có một ion Mn ở giữa, sáu ion oxi ở đỉnh, liên kết với nhau thanh chuỗi theo ba chiều không gian, những ion Ln, A ngụ ở khoảng trống tạo bởi các khối tám mặt. Một trong những đặc điểm nổi bật của vật liệu perovskite này là siêu dẫn nhiệt độ cao, sự thay đổi điện trở suất của chúng dưới tác dụng của từ trường ngoài rất lớn, thậm chí còn lớn hơn trong hiệu ứng GMR; cụ thể đối với màng mỏng La – Ca – Mn – O thu được MR = 127 000% ở nhiệt độ 77K, HS = 6T, và MR phụ thuộc mạnh vào nhiệt độ, gần nhiệt độ phòng thì MR khoảng 1300% ở 260K và khoảng 400% ở 280K [8] ; hiện tượng này gọi là hiệu ứng từ điện trở siêu khổng lồ (CMR). Với tính chất từ trở siêu khổng lồ thì vật liệu perovskite rất hứa hẹn cho các linh kiện spintronics, các cảm biến từ siêu nhạy. Hình 2.1 Cấu trúc perovskite có chứa manganese, pha tạp nguyên tố đất hiếm La 1.2 - Các vật liệu từ kiểu Heusler và bán Heusler Năm 2011, một nhóm của Nakatani và các đồng sự đã quan sát được tương tác trao đổi lớp – lớp phản sắt từ (antiferromagnetic interlayer exchange coupling AFM - IEC) giữa hai lớp hợp kim sắt từ Heusler có bề dày 4nm bị ngăn cách bởi một lớp đệm không từ Ag có bề dày 2nm, màng
được ủ nhiệt trên 400oC. Tỉ số MR của màng ba lớp được quan sát là 24% [12]. Thiết bị này sở dĩ được gọi là cảm biến MR loại scissors vì từ độ của hai lớp sắt từ bị quay như cái kéo (scissors) do tương tác phản sắt từ . Để thu được tỉ số MR ở đầu ra cao thì hợp kim Heusler dựa trên cobalt có spin bị phân cực cao được sử dụng để làm lớp sắt từ của thiết bị loại CPP – GMR (current – perpendicular – to plane GMR) . Thiết bị từ trở loại scissors sử dụng một AFM – IEC ở giữa hai lớp sắt từ FM được ngăn cách bởi lớp đệm phi từ được kỳ vọng như một tiềm năng cho cảm biến đọc hẹp dành cho đĩa ghi có mật độ cực lớn, như trên 1
Tbits/inch2. II – Hƣớng nghiên cứu về cấu trúc 2.1 - Màng mỏng van spin (spin valve) : Cấu trúc màng mỏng van spin là hệ màng mỏng đa lớp, gồm một lớp phản sắt từ liên kết với hệ màng đa lớp sắt từ/phi từ/sắt từ. Lớp phản từ có tác dụng là ghim từ độ của một lớp sắt từ theo một chiều, và lớp sắt từ còn lại sẽ có vecto từ độ quay tự do theo từ trường ngoài. Hình 2.3 Mô hình đơn giản nhất của một cấu trúc van spin Tính chất từ trở trong cấu trúc van spin được nhóm của B. Dieny quan sát vào năm 1991, với hệ màng mỏng dạng sandwiches , nhóm đã thu được kết quả nghiên cứu ở nhiệt độ phòng tỉ số MR là 4,1% tại 10 Oe, trong khi với cấu trúc Co/Cu/Co là 8,7% tại 20 Oe [15]. Tức sự thay đổi điện trở của màng van spin này là khá lớn ứng với từ trường thấp hơn so với màng ba lớp từng được nghiên cứu trước đây. Đây là một ưu điểm của hệ màng có cấu trúc spin van dùng làm đầu đọc GMR để đọc được những bit thông tin có kích thước rất nhỏ. Các cấu trúc van spin, GMR chỉ cỡ vài phần trăm tại nhiệt độ phòng, nhưng nó rất nhạy với từ trường, với độ nhạy có thể tới vài phần trăm/Oersted. Độ nhạy của một linh kiện GMR được định nghĩa bởi biểu thức , là hệ số góc của đường cong điện trở phụ thuộc vào từ trường tại điểm làm việc. là điện trở của bão hòa đã hệ tại từ trường lớn. Với cấu trúc spin van độ nhạy của màng có thể đạt tới 18%/(kA/m) (=1,43%/Oe) [16] ). Vì thế, cấu trúc van spin đã được sử dụng để làm cảm biến từ trường yếu và đầu đọc GMR cho các ổ đĩa từ có dung lượng lớn và mật độ siêu cao. Chỉ 4 năm sau phát hiện về GMR, người ta ngay lập tức ứng dụng GMR trong đầu đọc ổ cứng máy tính. Hình 2.4 Minh họa một cấu trúc một ổ đĩa cứng (HDD) Hình 2.5 Minh họa đầu đọc ổ cứng máy tính với cảm biến GMR Các đĩa ghi từ của ổ cứng là các vật liệu từ cứng và mỗi bit thông tin được lưu trữ trên một vùng rất nhỏ, có thể coi như một “nam châm tí hon”. Đầu đọc là một cảm biến sử dụng màng mỏng GMR, có điện trở thay đổi dưới tác dụng của từ trường của “nam châm tí hon” này. Công nghệ hiện nay đòi hỏi phải tăng dung lượng ổ cứng, các bít ghi từ phải nhỏ - điều này có nghĩa là tín hiệu về từ trường của “nam châm” càng yếu hơn nên để đọc được tín hiệu này thì đầu đọc GMR phải nhạy hơn, có tốc độ đọc nhanh hơn. Như đã tìm hiểu ở chương I, trong hệ màng mỏng đa lớp, sự định hướng phản song song của từ độ giữa các màng từ là một yếu tố không thể thiếu để có thể xảy ra hiệu ứng GMR. Tuy nhiên, trong các màng mỏng đa lớp từ, chính giá trị từ trường bão hòa quá lớn lại là trở ngại để có thể áp dụng các màng này trong các thiết bị thực tế. Hiện này, đầu đọc GMR trong ổ cứng máy tính dùng cảm biến van spin (spin valve). Đây là một cấu trúc vật liệu cũng có thể tạo ra cấu hình phản song song cho hiệu ứng GMR. Ưu điểm của màng van spin là có độ nhạy cao, từ trường làm việc thấp hơn. Hình 2.6 Mô hình một cảm biến spin valve GMR Một đầu đọc spin van GMR gồm có 4 lớp, đó là : Lớp tự do (free layer – FL) là lớp sắt từ , được làm từ hợp kim Fe – Ni, trong đó từ độ dễ dàng bị đảo dưới tác dụng của từ trường ngoài; từ trường ngoài ở đây chính là từ trường của những “nam châm tí hon” trên đĩa từ. Lớp đệm (spacer) là lớp phi từ, điển hình như Cu, ngăn cách giữa lớp sắt từ tự do và lớp sắt từ bị ghim. Lớp bị ghim (pinned layer – PL) là lớp sắt từ được làm từ vật liệu cobalt, từ độ của lớp này được giữ cố định. Lớp trao đổi (exchange layer) được chế tạo từ vật liệu phản sắt từ, như FeMn, có tác dụng cố định từ độ của lớp bị ghim. Hình 2.6 mô tả cấu hình của một đầu đọc MR kiểu bị giới hạn (abutted structure) sử dụng một cấu trúc van spin. Hai nam châm vĩnh cửu (hard bias) có tác dụng ổn định cấu trúc đơn domain của lớp FL. Do trục từ hóa dễ của hai lớp FL và PL vuông góc với nhau nên chỉ có từ độ của lớp FL bị ảnh hưởng bởi từ trường tác dụng, do đó làm giảm nhiễu Barkhausen. Độ rông của van spin – tức là khoảng cách giữa hai nam châm - chính bằng độ rộng của vết thông tin W. Theo sự phát triển của công nghệ ghi thông tin mật độ cao thì yêu cầu độ rộng của vết thông tin phải ngày càng ngắn hơn, điều này sẽ làm giảm vùng hoạt động của lớp FL trong vùng vết thông tin. Để khắc phục điều này, đầu đọc GMR được cải tiến như sau : kéo dài lớp điện cực (contact) để thu nhỏ W, nhưng lớp van spin hiệu dụng thì rộng hơn W nên vùng hoạt động của van spin vẫn đủ rộng. Đầu đọc GMR lúc này là kiểu “bị phủ” (overlaid structure). Về tình hình phát triển của đầu đọc GMR của hãng điện tử Hitachi. Một yêu cầu quan trọng đặt ra đối với thiết bị CPP – GMR là thu được tỉ số MR cao với điện trở thấp. Với thiết bị CPP – GMR van spin sử dụng hợp kim Heusler để tăng tỉ số MR. Theo Nakatani, khi nhiệt độ mẫu tăng từ 14 K lên 290K thì tỉ số MR giảm từ 80% đến 34% ; đồng thời giá trị cũng giảm từ đến và sự bất đối xứng spin khối của hợp kim CFAS ở 14K là khoảng 0.77, điều này cho biết có sự đóng góp lớn của tán xạ giữa mặt phân cách (interfacial scattering) [11]. (Với là tích diện tích và sự thay đổi điện trở (resistance change – area product), ý nghĩa vật lý của đại lượng là ). Giá trị MR cao ở nhiệt độ phòng của mẫu rất thích hợp để làm đầu đọc đĩa từ. Với việc sử dụng hợp kim Heusler trong cấu trúc van spin đã làm tỉ số MR tăng hơn so với trường hợp không sử dụng Heusler. Xu thế hiện nay đang tập trung ở việc nâng cao mật độ ghi từ
(ARD) đến Tb/in2, (với ARD phổ biến hiện nay là 100Gb/in2). Kể từ khi phát hiện tỉ số MR trong cấu trúc từ điện trở xuyên ngầm (Tunneling Magnetoresistance TMR) lớn hơn khá nhiều so với tỉ số GMR, nên các màng mỏng TMR có tiềm năng ứng dụng để chế tạo các đầu đọc cho các đĩa ghi từ có mật độ ARD cao trên 100Gb/in2. Hiện nay, các đầu từ TMR đã và đang được bắt đầu nghiên cứu ở một số công ty. 2.2 - Màng mỏng đơn lớp dị thể Vào năm 1999, K. Tonooka và O. Nishimura đã tiến hành khảo sát tính chất từ-điện trở của màng mỏng hợp kim bề dày khoảng 40nm, có pha tạp nguyên tố đất hiếm, sử dụng phương pháp phún xạ để chế tạo. Kết quả thu được sau khi pha tạp vào lớp nền Ag : Với nguyên tố Ce, Tb, Sm : làm tăng cường tỉ số MR của màng so với khi chưa pha tạp, còn với nguyên tố Nd thì lại làm giảm tỉ số MR. Nhiệt độ ủ mẫu và nồng độ tạp chất có ảnh hưởng đến tỉ số MR, như kết quả thu được từ thí nghiệm thì để có được hiệu ứng MR lớn nhất cho
các mẫu có pha tạp RE thì đòi hỏi nhiệt độ ủ khoảng 300oC [13]. Hướng nghiên cứu ở Việt Nam về những màng mỏng cấu trúc dị thể dựa trên hai thành phần Co/Cu và Co/Ag. Kết quả thu được là màng có hiệu ứng từ trở khổng lồ có thề đạt tới 6.5% tại nhiệt độ phòng và có khả năng ứng dụng làm đầu đọc ghi từ mật độ cao [14]. [1] Teruya Shinjo, Nanomagnetism and Spintronics, Elsevier B.V ,2009 [2] Thân Đức Hiền, Lưu Tuấn Tài, Từ học và vật liệu từ, NXB Bách Khoa - Hà Nội, 2008, page 180. [3] Nguyễn Hữu Đức, Vật liệu từ cấu trúc nano và điện tử học spin, NXB ĐHQG Hà Nội, 2008 [4] M.N Baibich, J.M. Brono, A. Bert, F. Nguyen Van Dau, and F.Petroff, Giant Magnetoresistance of (001)Fe/(001)Cr Magnetic Superlattices, Physical Review Letters, 1988, Volume 61, Number 21, Pages 2472 – 2275 [5] S. S. P. Parkin, N. More and K. P. Roche, Oscillations in Exchange Coupling and Magnetorisistance in Metallic Superlattice Structures : Co/Ru, Co/Cr, and Fe/Cr, Physical Review Letters, 1990, Volume 64, Number 19, Pages 2304 – 2308 [6] E. Y. Tsymbal and D. G. Pettifor, Perspectives of Giant Magnetoresistance, Solid State Physics, 2001, Vol. 56, pp. 113 – 237 [7] C. L. Chien , Magnetism and giant magneto – transport properties in granular solids, Annual Reviews of Materials Science, 1995. 25 : 129 – 160 [8] S Jin, M McCormack, TH Tiefel, Colossal magnetoresistance in La – Ca – Mn – O ferromagnetic thin films, Journal of Applied Physics, 1994, Volume 76, Issue 10, Pages 6929 – 6933, Abtract [9] Chen Chen, Osamu Kitakami, Yutaka Shimada, Particle size effects and surface anisotropy in Fe – based granular films, Journal of Applied Physics, 1998, Volume 84, Issue 4, page 71 – 76, Abtract [10] John Q. Xiao, J. Samuel Jiang, and C. L. Chien, Giant Magnetoresistance in Nonmultilayer Magnetic Sytems, Physical Review Letters, 1992, Volume 68, Number 25, Pages 3749 – 3752 [11] T. M. Nakatani, T. Furubayashi, S. Kasai, H. Sukegawa, Y. K. Takahashi, S. Mitani, and K. Hono, Bulk and interfacial scatterings in current – perpendicular – to – plane giant magnetorisistance with Heusler alloy layers and Ag spacer, Applied Physics Letters , 2010, Volume 96, [12] T. M. Nakatani, S. Mitani, T. Furubayashi, and K. Hono, Oscillatory antiferromagnetic interlayer exchange coupling in films and its application to trilayer magnetoresistive sensor, Applied Physics Letters, 2011, Volume 99, Issue 18, pages , Abtract [13] Kazuhiko Tonooka, Okio Nishimura, Effect of rare – earth doping on the magnetoresistive properties of sputtered Co – Ag alloy thin films, Applied Surface Science 169 – 170 (2001) 500 – 503 [14] Tạp chí hoạt động khoa học, Trung tâm khoa học vật liệu – kết quả nghiên cứu khoa học và bài học thành công, 2008, Số 12 [15] B. Dieny, V. S. Speriosu, S. Metin, S. S. Parkin, B. A. Gurney, P. Baumgart, and D. R. Wilhoiit, Magnetotransport properties of magnetically soft spin-valve structure, Applied Physics Letters, 1991, Volume 69, 4474, Abtract [16] Th. G. S. M. Rijks and W. J. M. de Jonge, Magnetoresistance in spin valves with low coercivity and ultrahigh sensitivily, Applied Physics Letters, 1994, Volume 65, Issue 7, Pages 916 – 918HVTH : Nguyễn Thị Hà Trang
9
Bài tiểu luận môn Vật liệu quang từ GVHD : TS. Đinh Sơn Thạch
HVTH : Nguyễn Thị Hà Trang
10
Bài tiểu luận môn Vật liệu quang từ GVHD : TS. Đinh Sơn Thạch
HVTH : Nguyễn Thị Hà Trang
11
Bài tiểu luận môn Vật liệu quang từ GVHD : TS. Đinh Sơn Thạch
HVTH : Nguyễn Thị Hà Trang
12
Bài tiểu luận môn Vật liệu quang từ GVHD : TS. Đinh Sơn Thạch
HVTH : Nguyễn Thị Hà Trang
13
Bài tiểu luận môn Vật liệu quang từ GVHD : TS. Đinh Sơn Thạch
HVTH : Nguyễn Thị Hà Trang
14
Bài tiểu luận môn Vật liệu quang từ GVHD : TS. Đinh Sơn Thạch
HVTH : Nguyễn Thị Hà Trang
15
Bài tiểu luận môn Vật liệu quang từ GVHD : TS. Đinh Sơn Thạch
HVTH : Nguyễn Thị Hà Trang
16
Bài tiểu luận môn Vật liệu quang từ GVHD : TS. Đinh Sơn Thạch
HVTH : Nguyễn Thị Hà Trang
17
Bài tiểu luận môn Vật liệu quang từ GVHD : TS. Đinh Sơn Thạch
HVTH : Nguyễn Thị Hà Trang
18
Bài tiểu luận môn Vật liệu quang từ GVHD : TS. Đinh Sơn Thạch
HVTH : Nguyễn Thị Hà Trang
19
Bài tiểu luận môn Vật liệu quang từ GVHD : TS. Đinh Sơn Thạch
HVTH : Nguyễn Thị Hà Trang
20
Bài tiểu luận môn Vật liệu quang từ GVHD : TS. Đinh Sơn Thạch
HVTH : Nguyễn Thị Hà Trang
21
Bài tiểu luận môn Vật liệu quang từ GVHD : TS. Đinh Sơn Thạch
HVTH : Nguyễn Thị Hà Trang
22
Bài tiểu luận môn Vật liệu quang từ GVHD : TS. Đinh Sơn Thạch
HVTH : Nguyễn Thị Hà Trang
23
Bài tiểu luận môn Vật liệu quang từ GVHD : TS. Đinh Sơn Thạch
HVTH : Nguyễn Thị Hà Trang
24
Bài tiểu luận môn Vật liệu quang từ GVHD : TS. Đinh Sơn Thạch
HVTH : Nguyễn Thị Hà Trang
25
Bài tiểu luận môn Vật liệu quang từ GVHD : TS. Đinh Sơn Thạch
HVTH : Nguyễn Thị Hà Trang
26
Bài tiểu luận môn Vật liệu quang từ GVHD : TS. Đinh Sơn Thạch
HVTH : Nguyễn Thị Hà Trang
27
Bài tiểu luận môn Vật liệu quang từ GVHD : TS. Đinh Sơn Thạch
HVTH : Nguyễn Thị Hà Trang
28
Bài tiểu luận môn Vật liệu quang từ GVHD : TS. Đinh Sơn Thạch
HVTH : Nguyễn Thị Hà Trang
29
Bài tiểu luận môn Vật liệu quang từ GVHD : TS. Đinh Sơn Thạch
HVTH : Nguyễn Thị Hà Trang
30
Bài tiểu luận môn Vật liệu quang từ GVHD : TS. Đinh Sơn Thạch
HVTH : Nguyễn Thị Hà Trang
31
Bài tiểu luận môn Vật liệu quang từ GVHD : TS. Đinh Sơn Thạch
Hình 2.5 Cấu trúc một van spin có sử dụng hợp
kim sắt từ Heusler CFAS
HVTH : Nguyễn Thị Hà Trang
32
Bài tiểu luận môn Vật liệu quang từ GVHD : TS. Đinh Sơn Thạch
Tài liệu tham khảo
HVTH : Nguyễn Thị Hà Trang
33
Bài tiểu luận môn Vật liệu quang từ GVHD : TS. Đinh Sơn Thạch
HVTH : Nguyễn Thị Hà Trang
34

