
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN XUÂN HẬU
ĐẶC TRƯNG CỦA CÁC TÔN GIÁO RA ĐỜI
Ở NAM BỘ CUỐI THẾ KỶ XIX ĐẦU THẾ KỶ XX
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ
CHUYÊN NGÀNH TÔN GIÁO HỌC
Mã số: 9229009
HÀ NỘI - 2020

Công trình được hoàn thành
tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Người hướng dẫn khoa học:
1. TS. LÊ TÂM ĐẮC
2. PGS,TS HOÀNG THỊ LAN
Phản biện 1:
Phản biện 2:
Phản biện 3:
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Học viện
họp tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Vào hồi giờ ngày tháng năm 2020
Có thể tìm hiểu luận án tại Thư viện Quốc gia
Và thư viện Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Từ cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX, bên cạnh các tôn giáo ngoại nhập
như Phật giáo, Islam giáo, Công giáo, đạo Tin lành…, chúng ta thấy ở Nam Bộ
có sự hiện hữu khá nhiều loại hình tôn giáo ra đời ở khu vực này, tiêu biểu là:
Bửu sơn Kỳ hương (BSKH), Tứ ân Hiếu nghĩa (TAHN), Phật giáo Hiếu nghĩa
Tà Lơn (PGHNTL), Phật giáo Hòa Hảo (PGHH), đạo Cao Đài (CĐ), Tịnh độ
Cư sĩ Phật hội Việt Nam (TĐCSPHVN).
Các tôn giáo nêu trên ra đời trong bối cảnh vùng đất Nam Bộ đã hình
thành và đang phát triển. Nhiều yếu tố văn hóa, xã hội Nam Bộ đương thời
được các tôn giáo nội sinh tiếp thu. Đó là môi trường khắc nghiệt của vùng đất
mới làm nảy sinh tâm lý nương tựa vào thần linh. Đó là vùng đồi núi Thất Sơn
huyền bí - nơi lý tưởng của chốn tâm linh. Đó là vùng giáp biên Tây Ninh - môi
trường thuận lợi cho các hoạt động chính trị tôn giáo, v.v... Tất cả tạo nên
khoảng trống tâm linh trong một bộ phận không nhỏ người dân Nam Bộ, rất cần
xuất hiện những loại hình tôn giáo mới để khỏa lấp khoảng trống ấy.
Sự ra đời của các tôn giáo ở Nam Bộ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX
không nằm ngoài bối cảnh chung của văn hóa, xã hội Nam Bộ. Chúng kế thừa,
dung hợp, sắp xếp, điều chỉnh để phù hợp với hoàn cảnh xã hội mới, lôi cuốn
người dân thực hành các hoạt động tôn giáo và cả các hoạt động ngoài tôn giáo.
Mục đích đó đạt được không chỉ vào thời điểm các tôn giáo nội sinh ra đời mà
còn cả những thời điểm về sau khi nhiều sự biến đổi ở Nam Bộ diễn ra làm cho
vùng đất này thay đổi diện mạo. Điều đó cho thấy, các tôn giáo ra đời ở Nam
Bộ có tính bền vững nhất định, bởi những giá trị của các tôn giáo này.
Trên tinh thần tiếp nối thành quả nghiên cứu đi trước, với mong muốn
góp phần lý giải rõ hơn một số vấn đề còn nhiều ý kiến khác nhau về các tôn
giáo ra đời ở Nam Bộ, tôi chọn đề tài “Đặc trưng của các tôn giáo ra đời ở
Nam Bộ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX” làm đề tài luận án Tiến sĩ, chuyên
ngành Tôn giáo học.
2. Mục đích và nhiệm vụ của đề tài
2.1. Mục đích của đề tài
Luận án làm rõ đặc trưng cơ bản về lý tuyết và thực hành đức tin tôn giáo
của các tôn giáo ra đời ở Nam Bộ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, từ đó rút ra
một số ý nghĩa và khuyến nghị đối với các tổ chức có liên quan.
2.2. Nhiệm vụ của luận án
- Thứ nhất, tổng quan tình hình nghiên cứu và một số vấn đề lý luận liên
quan đến các tôn giáo ra đời ở Nam Bộ vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX.
- Thứ hai, trình bày có hệ thống khái quát điều kiện ra đời và quá trình
phát triển của các tôn giáo ở Nam Bộ vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX.
- Thứ ba, làm rõ đặc trưng của các tôn giáo ra đời ở Nam Bộ vào cuối thế
kỷ XIX đầu thế kỷ XX.

2
- Thứ tư, phân tích giá trị các đặc trưng và khuyến nghị từ đặc trưng của
các tôn giáo ra đời ở Nam Bộ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là đặc trưng của các tôn giáo ra đời ở
Nam Bộ vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, gồm: nhóm tôn giáo thuộc Phong
trào các Ông Đạo (Bửu sơn Kỳ hương, Tứ ân Hiếu nghĩa, Phật giáo Hiếu nghĩa
Tà Lơn, Phật giáo Hòa Hảo, Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam) và tôn giáo
thuộc phong trào Cơ Bút (đạo Cao Đài)
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: là Nam Bộ, khu vực ra đời, tồn tại, hoạt động chính của
các tôn giáo nội sinh được lựa chọn nghiên cứu. Ngoài ra, luận án còn nghiên
cứu đến một số khu vực có sự tác động, ảnh hưởng của các tôn giáo này.
- Về thời gian: từ giữa thế kỷ XIX (năm 1849, thời điểm ra đời đạo Bửu
sơn Kỳ hương) cho đến hiện nay (2019, thời điểm hoàn thành luận án)
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
4.1. Cơ sở lý luận
Luận án được thực hiện trên nền tảng cơ sở lý luận duy vật biện chứng và
duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin về tôn giáo, với lý thuyết: “Nhà nước
ấy, xã hội ấy sản sinh ra tôn giáo” . “Nhà nước ấy, xã hội ấy” được hiểu là bối
cảnh của một xã hội đặc thù; với Nam Bộ, đó là những đặc điểm địa lý tự nhiên,
truyền thống lịch sử, cơ sở kinh tế, đặc trưng xã hội, văn hoá, chính trị, phong
tục, tập quán, tâm lý, lối sống,v.v... của cư dân vùng đất mới, nơi cho ra đời một
phong trào tôn giáo mới cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng một số phương pháp nghiên cứu liên ngành khoa học xã
hội và nhân văn, như: phân tích - tổng hợp tư liệu (tư liệu gốc, tài liệu thứ cấp);
phỏng vấn sâu, lấy ý kiến chuyên gia (học giả, chức sắc, chức việc, tín đồ); các
phương pháp cụ thể như so sánh, khái quát, đối chiếu,v.v...
5. Đóng góp khoa học của luận án
Từ phương diện Tôn giáo học, luận án góp phần làm rõ những đặc trưng
cơ bản và một số vấn đề còn nhiều ý kiến khác nhau liên quan đến các tôn giáo
ra đời ở Nam Bộ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XIX.
Kết quả luận án còn đóng góp luận cứ khoa học cho việc nhận thức và
ứng xử đúng đắn hơn và khách quan hơn đối với các tôn giáo ra đời ở Nam Bộ
cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
6.1. Ý nghĩa lý luận
Thông qua phân tích đặc trưng của các tôn giáo ra đời ở Nam Bộ cuối thế
kỷ XIX đầu thế kỷ XX, luận án đóng góp những luận cứ khoa học trong nghiên
cứu quy luật hình thành và phát triển của tôn giáo; mối quan hệ tương tác qua
lại giữa tôn giáo đến các lĩnh vực đời sống xã hội.

3
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của luận án có thể làm tài liệu tham khảo cho việc
nghiên cứu, giảng dạy chuyên ngành Tôn giáo học và nhiều bộ môn khoa học
xã hội và nhân văn; đóng góp luận cứ khoa học cho việc tiếp tục hoàn thiện
chính sách và pháp luật về tôn giáo, cũng như nâng cao hiệu quả công tác tôn
giáo của nước ta trong thời gian tới.
7. Kết cấu của luận án
Ngoài Lời cam đoan, Mục lục, Mở đầu, Kết luận, Danh mục công trình
khoa học của tác giả đã công bố liên quan đến luận án, Tài liệu tham khảo, Phụ
lục, nội dung của luận án gồm 4 chương, 09 tiết và tiểu kết các chương.
Chương 1
TỔNG QUAN
1.1. TỔNG QUAN TƯ LIỆU, TÀI LIỆU
1.1.1. Tổng quan tư liệu gốc
1.1.1.1. Kinh sách của các tôn giáo nội sinh ở Nam Bộ
Gồm những bản kinh, sách của các tôn giáo ra đời ở Nam Bộ: BSKH,
TAHN, PGHNTL, PGHH, TĐCSPHVN, CĐ. Đây là những tư liệu quan trọng
để luận án tiếp cận phân tích đặc trưng của các tôn giáo thông qua tư tưởng giáo
lý, giáo luật, tổ chức, v.v... Lưu ý tư liệu gốc của các tôn giáo đó là một số bản
kinh, sấm, vãn, Thánh ngôn, v.v... có nhiều phiên bản khác nhau. Chúng tôi lựa
chọn một số bản để làm cơ sở nghiên cứu, các bản cùng nội dung khác mang
tính tham khảo, đối chiếu. Ví dụ như: Sấm truyền Đức Phật Thầy Tây An, của
Nguyễn Văn Hầu sưu tầm và biên soạn (1973) được Tòng Sơn Cổ tự xuất bản,
Phật giáo Hòa Hảo: Sấm giảng thi văn toàn bộ in năm 1966 và bản Sấm giảng
thi văn giáo lý toàn bộ của Đức Huỳnh Giáo chủ tái bản năm 2004; quyển
Thánh ngôn hiệp tuyển trọn bộ in năm 1972, Tòa thánh Tây Ninh giữ bản
quyền, và Thánh ngôn hiệp tuyển quyển 1 và 2 hợp nhứt và chú thích do
Nguyễn Văn Hồng biên soạn và chú thích, ấn hành năm 2000.
1.1.1.2. Văn bản của các tôn giáo nội sinh ở Nam Bộ
Văn bản của các tôn giáo nội sinh ở Nam Bộ tiêu biều gồm: Đạo thư của
Đức Quyền Giáo tông về việc phát hành quyển Pháp Chánh truyền, ; các bản
Thánh huấn, Thông tri, Điều lệ. Hiến chương của các tôn giáo, v.v...
1.1.2. Tổng quan những vấn đề nghiên cứu liên quan đến nội dung
luận án
1.1.2.1. Nhóm công trình nghiên cứu sự ra đời của các tôn giáo ở Nam
Bộ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX
Nhóm công trình lịch sử, văn hóa, xã hội liên quan đến các tôn giáo ra đời
ở Nam Bộ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX tiêu biểu của các tác giả:
Lê Quý Đôn, Phủ biên tạp lục; Trịnh Hoài Đức, Gia Định thành thông
chí; Paul Doumer, hồi kí Xứ Đông Dương; Paul Giran, Psychologie du peule

