
TRUYỆN KIỀU VỚI NGHỆ
THUẬT SÂN KHẤU TRUYỀN
THỐNG VIỆT NAM
Xưa nay, việc các tác phẩm văn học có giá trị được dùng làm chất liệu cho sáng tạo các
loại hình nghệ thuật khác như điện ảnh, sân khấu là hiện tượng khá phổ biến. Với tác
phẩm được đánh giá là một áng văn chương kiệt tác của nền văn học Việt Nam như
Truyện Kiều thì điều này càng không thể không xảy ra. Trong Truyện Kiều có nhiêù yếu
tố để các tác giả và nghệ sĩ xây dựng nên những tác phẩm sân khấu hấp dẫn.
1. Truyện Kiều, một đề tài hấp dẫn cho nghệ thuật sân khấu kịch hát
Việt Nam
Trước hết, về mặt nội dung, bản thân cuộc đời nàng Kiều hơn mười lăm
năm lưu lạc với bao biến cố thăng trầm, mang đầy kịch tính là chất liệu phong
phú để xây dựng nên một hình tượng sân khấu độc đáo, đậm chất truyền thống
Việt Nam. Chính vì thế, trong một số kịch bản, các tác giả không cần miêu tả
lại toàn bộ cuộc đời của Kiều lần lượt trải qua các sự kiện đúng như nguyên tác
của Nguyễn Du. Từng đoạn đời oan trái của Kiều đã đủ làm nên một tác phẩm
sân khấu độc lập. Ví dụ, về đoạn đời Kiều bị Hoạn Thư ghen tuông, hành hạ thì
có kịch bản cải lương Kiều - Hoạn Thư (hay Hoạn Thư ghen), về đoạn đời
Kiều gặp Từ Hải thì có kịch bản Kiều - Từ Hải, về Kiều và Kim Trọng thì có
kịch bản Kim Kiều tái hợp,…
Sân khấu ca kịch truyền thống Việt Nam vốn có một đặc điểm là thường
lấy các nhận vật nữ làm trung tâm, đặc biệt là những thân phận bị chế độ cũ vùi

dập, phải trải qua nhiều đau đớn, mất mát, nhưng vẫn giữ được những phẩm
chất cao quý của người phụ nữ. Sân khấu dân tộc đã xây dựng được nhiều hình
tượng nhân vật nữ mang tính điển hình như Thị Kính trong Quan Âm Thị
Kính, Xúy Vân trong Kim Nham, nàng Ba Châu Long trong Lưu Bình Dương
Lễ, Thoại Khanh trong Thoại Khanh, Châu Tuấn và còn nhiều vai nữa. Vì thế,
một nhân vật tài sắc với cuộc đời đầy sóng gió như nàng Kiều, lẽ dĩ nhiên, là
một nguyên mẫu hấp dẫn cho nghệ thuật sân khấu.
Về giá trị văn học cũng như nghệ thuật sáng tác của tác giả Truyện Kiều,
nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước đã đánh giá rất đầy đủ. Ở đây, tôi chỉ
muốn nhấn mạnh một số nét của tác phẩm dưới góc độ của nghệ thuật sân
khấu, trong mối quan hệ giữa chất liệu văn học và tác phẩm sân khấu.
Bên cạnh việc khẳng định rằng ngôn ngữ Truyện Kiều đã đạt tới trình độ
điêu luyện và tinh vi, sâu sắc, có một số ý kiến cho rằng ở Truyện Kiều,
Nguyễn Du còn bị hạn chế bởi lối miêu tả bằng một thứ bút pháp ước lệ, tượng
trưng trong văn học cổ điển Việt Nam, nặng về khái quát, dùng những mỹ từ
pháp tượng trưng và cách điệu trau chuốt, không đi vào cụ thể (1)… Tuy nhiên,
lối miêu tả hiện thực bằng thứ ngôn ngữ ước lệ, tượng trưng lại rất phù hợp với
nghệ thuật sân khấu kịch hát phương Đông nói chung và kịch hát Việt Nam nói
riêng. Sân khấu tuồng, chèo của ta vốn thiên về tả ý, chứ không phải là tả thực.
Nghệ thuật biểu diễn của diễn viên sân khấu kịch hát cũng là nghệ thuật mang
tính ước lệ, cách điệu và tượng trưng cao.
Truyện Kiều là truyện thơ, được viết bằng thơ. Nhân dân ta đã vịnh Kiều,
lẩy Kiều, ngâm Kiều và cả diễn Kiều. Trong các kịch bản chèo, cải lương về
Kiều, các tác giả có nhiều đoạn đã trích nguyên xi những đoạn thơ dài lấy từ
trong Truyện Kiều, hoặc cũng là dựa trên các vần thơ của Nguyễn Du mà sáng
tác lời mới cho các nhân vật. Sở dĩ làm được như vậy là vì ngôn ngữ trong sân

khấu kịch hát của chúng ta cũng là thứ ngôn ngữ văn vần, được viết bằng thơ,
diễn viên hát, ngâm, nếu có nói cũng là nói lối. Ở đây, nghệ thuật thi ca điêu
luyện và chất thơ tràn trề của tác phẩm văn học đã là nguồn nước mát tạo nên
và nuôi dưỡng chất trữ tình cho tác phẩm sân khấu.
Nhà nghiên cứu lão thành Đào Duy Anh có nhận xét khái quát: “Trong lịch
sử ngôn ngữ và lịch sử văn học Việt Nam, nếu Nguyễn Trãi với Quốc Âm thi
tập là người đặt nền móng cho ngôn ngữ văn học dân tộc thì Nguyễn Du với
Truyện Kiều là người đặt nền móng cho ngôn ngữ văn học hiện đại của nước
ta… Nguyễn Du đã phát triển, hoàn chỉnh và thống nhất hai thành phần quan
trọng của ngôn ngữ văn học Việt Nam, yếu tố văn học dân gian và yếu tố văn
học chữ Hán, để tạo nên một ngôn ngữ văn học mới, dồi dào, uyển chuyển”(2).
Chính thứ ngôn ngữ vừa bác học vừa giàu chất dân gian, “dồi dào, uyển
chuyển” của Truyện Kiều rất gần gũi với thứ ngôn ngữ dân dã của sân khấu
kịch hát dân tộc ta, loại hình nghệ thuật từ nhân dân lao động mà có và dần dần
được các bậc hiền sĩ mài dũa, nâng lên thành nghệ thuật chuyên nghiệp có tác
giả sáng tác kịch bản.
2. Những tác phẩm sân khấu được phóng tác từ Truyện Kiều của
Nguyễn Du
Trong lịch sử sân khấu Việt Nam, ít thấy trường hợp một tác phẩm văn học
nào lại được chuyển sang nhiều loại hình sân khấu như Truyện Kiều của
Nguyễn Du. Theo tìm hiểu gần đây nhất của chúng tôi thì Truyện Kiều được
chuyển thể hoặc phóng tác ở gần như hầu hết các thể loại kịch hát của ta như
chèo, cải lương, ca kịch bài chòi, tuồng, thậm chí cả kịch nói.
Về tuồng, có một số nhà nghiên cứu cho biết đã có kịch bản Kiều, tuy
nhiên chưa được dàn dựng thành vở diễn.

Về kịch nói, có thông tin rằng đó là kịch bản ở dạng kịch và thơ, của tác giả
Hoàng Xuân Nhị viết tại Pháp, chỉ lưu hành nội bộ trong Trường Đại học Tổng
hợp giữa những năm 1965.
Về ca kịch bài chòi, có hai vở là Kiều - Từ Hải của tác giả Nguyễn Tường
Nhẫn chuyển thể, và Ngàn thu vọng mãi của cố nhà thơ Lưu Trọng Lư. Cả hai
vở đều do Đoàn ca kịch Liên khu 5 biểu diễn, và nữ Nghệ sĩ Nhân dân Lệ Thi
đã sắm vai Kiều.
Nhiều hơn cả là các kịch bản cải lương, sau là đến chèo. Hiện nay còn lưu
giữ được các kịch bản sau:
Kịch bản cải lương: Thúy Kiều của Việt Dung và Sĩ Tiến. Kịch 3 hồi, 9
cảnh, do đoàn Cải lương Chuông vàng biểu diễn; Kim Kiều tái hợp của Sĩ Tiến
(giám đốc Hoa Quỳnh kịch xã); Kiều - Hoạn Thư (Hoạn Thư ghen), của Kính
Dân, Đoàn Cải lương Hoa Mai dựng đầu tiên vào năm 1958, được giải nhì
trong Hội diễn toàn quốc năm 1958, được tuyển chọn để diễn trong lễ kỷ niệm
200 năm ngày sinh Nguyễn Du; Kiều - Từ Hải, khuyết danh.
Kịch bản chèo: Kim Vân Kiều (Chèo cổ) của Nguyễn Đang; Trò Thúy
Kiều, hồi thứ nhất và hồi thứ hai, khuyết danh; Kiều báo oán, khuyết danh.
Nội dung của các vở này, hoặc miêu tả lại toàn bộ quãng đời lưu lạc 15
năm của Thúy Kiều, như nguyên tác của Nguyễn Du, hoặc chỉ chọn lọc, tập
trung miêu tả thân phận nàng Kiều ở những thời kỳ tiêu biểu, có tính chất là
bước chuyển trong cuộc đời Kiều, như Kiều với Thúc Sinh và Hoạn Thư, Kiều
với Từ Hải, hay Kiều với Kim Trọng,... Nhưng dù là lấy toàn bộ hay cắt gọt,
chọn lọc, thì các tác giả kịch bản đều khá trung thành với nguyên tác về diễn
biến của các tình tiết, chi tiết, cũng như về tính cách nhân vật. Điều đó càng
khẳng định giá trị văn học và nghệ thuật của Truyện Kiều đã ở mức rất cao,

chặt chẽ và tinh xảo, khiến cho các tác giả khi chuyển thể sang kịch bản sân
khấu khó mà thay đổi hoặc thêm thắt gì (điều mà họ thường làm với nhiều tác
phẩm chuyển thể khác).
3. Ý nghĩa và những đóng góp của các vở diễn sân khấu Kiều
Trong số kịch bản còn lưu giữ được đến nay, ở cả hai thể loại cải lương và
chèo đều có hai loại: loại có tên tác giả và loại khuyết danh. Nhìn chung, rõ
ràng những kịch bản khuyết danh còn sơ lược, lời văn thô mộc, kết cấu kịch
bản còn nhiều chỗ lủng củng. Điều này cũng dễ hiểu, vì những tác phẩm sân
khấu khuyết danh thường là được sáng tác từ rất sớm, là sản phẩm của một tập
thể, thường là các tác giả nghiệp dư, nhiều khi là những người dân lao động
bình thường do yêu thích Truyện Kiều mà chuyển thành các mảnh trò để diễn
trên sân khấu. Ví dụ như có hai kịch bản Chèo khuyết danh, các tác giả ghi là
Trò Thúy Kiều, hồi thứ nhất, và Trò Thúy Kiều, hồi thứ hai.
Có một sự kiện quan trọng trong lịch sử hình thành của nghệ thuật sân khấu
cải lương ở nước ta lại gắn với Truyện Kiều của Nguyễn Du: Đó là sau một
thời gian dài thai nghén, qua nhiều bước phát triển, vào năm 1920 nghệ thuật
Cải lương đã thực sự thành hình với gánh hát chuyên nghiệp của thầy Châu
Văn Tú (Năm Tú) được thành lập ở Mỹ Tho. Thầy Năm Tú mời ông Trương
Duy Toản soạn tuồng cho gánh hát. Từ những bài liên ca do ông Toản soạn ra
trước đó như Kim Kiều hạnh ngộ, Viên ngoại hàm oan, Kiều mộng Đạm Tiên,
Từ Hải, ông soạn thành vở Kim Vân Kiều I. Vở này là vở cải lương đầu tiên
được trình diễn năm 1920, đánh dấu cái mốc hình thành của sân khấu cải
lương (3).
Một số kịch bản từ Truyện Kiều có tên tác giả là những tác phẩm sân khấu
có giá trị thực sự về nghệ thuật biên kịch. Đó là kịch bản cải lương Thúy Kiều

