
VỊ TRÍ SINH THIẾT DẠ DÀY THÍCH HỢP
TRONG CHẨN ĐOÁN NHIỄM HELICOBACTER PYLORI
BẰNG THỬ NGHIỆM UREASE NHANH
Tóm tắt
Mục tiêu: xác định vị trí sinh thiết dạ dày tốt nhất trong chẩn đoán
nhiễm H.pylori bằng thử nghiệm Urease nhanh.
Phương pháp: Từ tháng 02/2006 đến tháng 06/2006, 100 bệnh nhân
được nội soi tiêu hoá trên tại bệnh viện Đại Học Y Dược được chọn lọc ngẫu
nhiên đưa vào nghiên cứu. Trên mỗi bệnh nhân, 3 mẫu mô sinh thiết dạ dày
sẽ được lấy từ: vùng tiền môn vị (vị trí 1), vùng góc bờ cong nhỏ (vị trí 2) và
vùng dưới thân vị, phía bờ cong lớn cách chỗ vào hang vị (đối diện với góc
bờ cong nhỏ) khoảng 2-3cm (vị trí 3). PyloriTek được dùng để chẩn đoán
nhiễm H. pylori và kết quả sẽ được đọc trong vòng 60 phút. Phân tích kết
quả nghiên cứu dựa vào phép thử T cặp đôi và được xem là có ý nghĩa thống
kê khi p < 0.05.
Kết quả: Chẩn đoán nội soi của nhóm bệnh nhân trong nghiên cứu
gồm: viêm trào ngược dạ dày-thực quản (9%), viêm dạ dày (81%), loét dạ
dày (5%) và lóet tá tràng (5%). Tỉ lệ sử dụng các thuốc kháng tiết và kháng

sinh trong vòng 4 tuần trước nội soi là 45%. Tỉ lệ nhiễm H. pylori là 41%.
Đối với nhóm bệnh nhân có sử dụng thuốc kháng tiết và kháng sinh trong
vòng 4 tuần trước nội soi, tỉ lệ dương tính ở vị trí 3 ở thời điểm 60 phút
(95.20%, 20/21) cao hơn có ý nghĩa thống kê so với tỉ lệ dương ở vị trí 1
(47.6%, 10/21) và vị trí 2 (61.9%, 13/21) với p < 0.05. Đối với nhóm bệnh
nhân không sử dụng các thuốc kể trên thì tất cả các trường hợp dương tính
đều có thể phát hiện được dựa vào mẫu mô lấy ở vị trí 3 ở thời điểm 60 phút
(100%, 20/20), cao hơn so với tỉ lệ dương tính của mẫu mô lấy từ vị trí 1
(75%, 15/20) và vị trí 2 (80%, 16/20) tuy sự khác biệt này chưa có ý nghĩa
thống kê.
Kết luận: Mẫu mô sinh thiết ở vùng 1/3 dưới thân vị phía bờ cong
lớn, cách chỗ vào hang vị khoảng 2-3 cm cho độ nhạy thử nghiệm cao nhất,
và giúp phát hiện hầu hết các trường hợp nhiễm H. pylori dựa trên thử
nghiệm Urease nhanh.
ABSTRACT
Methods: 100 patients underwent upper endoscopy between February
2006 and May 2006 at University Medical Center were randomly enrolled.
In each patient, three gastric specimens were taken from the prepyloric area
(site 1), the incisura angularis (site 2) and the lower corpus in the greater
curvature, about 2-3cm from the entrance to the antrum (site 3). PyloriTek

was used for H.pylori diagnosis and the results were read after 60 minutes.
Comparison of data was performed using the paired T test. The level of
statistical significance was specified at 0.05.
Results: The endoscopic diagnosis included GERD (9%), gastritis
(81%), gastric ulcer (5%) and duodenal ulcer (5%). The rate of antisecretory
drugs and antibiotic usage within 4 weeks was 45%. The H. pylori infection
rate was 41%. In patients with history of drug usage, the positive rate at site
3 after 60 minutes (95.20%, 20/21) was significantly higher than those at site
1 (47.6%, 10/21) and site 2 (61.9%, 13/21) (p < 0.05). In patients without
history of drug usage, all cases with positive PyloriTek result could be
identified with site 3 (100%, 20/20) after 60 minutes although this is not
significantly different from those at site 1 (75%, 15/20) and site 2 (80%,
16/20).
Conclusions: the lower corpus in the greater curvature, about 2-3 cm
from the entrance to the antrum may be the best biopsy site for H. pylori
diagnosis using PyloriTek.
Đặt vấn đe
Thử nghiệm Urease nhanh (TNUN) được sử dụng rất phổ biến trong
chẩn đoán nhiễm H. pylori. Cơ sở của thử nghiệm này là phản ứng giữa urê

trong mẫu thử và men urease do H. pylori sinh ra trong mẫu mô dạ dày. Do
đó, độ nhạy của thử nghiệm TNUN không chỉ tùy thuộc vào loại kít thương
mại được sử dụng, mà còn tùy thuộc rất nhiều vào vị trí mà mẫu mô sinh
thiết dạ dày được lấy ra. Có khá nhiều các nghiên cứu về mật độ của H.
pylori từ các vị trí sinh thiết dạ dày khác nhau: Bayerdorffer nhận thấy mật
độ của H. pylori ở vùng hang vị cao hơn rõ rệt so với vùng thân vị(1). Ngược
lại, Genta nhận thấy mật độ của H. pylori ở vùng hang vị, thân vị và tâm vị
đều như nhau(3). Satoh ghi nhận ở bệnh nhân Nhật bản bị viêm teo dạ dày
nặng thì mật độ H. pylori tập trung cao nhất là ở vùng giữa thân vị phía bờ
cong lớn(13). Các nghiên cứu kể trên đều đưa ra nhận xét về mật độ của H.
pylori trên mô học. Woo và cộng sự làm nghiên cứu dựa trên TNUN và nhận
thấy khả năng phát hiện nhiễm H. pylori sẽ cao nhất khi mẫu mô thử nghiệm
được lấy từ vùng góc bờ cong nhỏ(16). Vì nghiên cứu của các tác giả trên cho
kết quả không hoàn tòan thống nhất với nhau và cũng vì TNUN là một trong
những xét nghiệm phổ biến nhất nhằm chẩn đóan nhiễm H. pylori ở Việt
Nam hiện nay, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu này nhằm xác định vị trí
sinh thiết dạ dày tốt nhất trong chẩn đoán H. pylori ở người Việt Nam.
Đối tượng - phương pháp nghiên cứu
Đối tượng

Từ tháng 2/2006 đến tháng 05/2006, có 100 bệnh nhân đến nội soi
tiêu hóa trên tại bệnh viện Đại Học Y Dược được chọn lọc ngẫu nhiên và
đưa vào nghiên cứu. Các bệnh nhân có bằng chứng cho thấy đã cắt dạ dày,
ung thư dạ dày hoặc xuất huyết tiêu hóa trên tiến triển được loại ra khỏi
nghiên cứu. Đặc điểm tuổi, giới và tiền sử sử dụng các thuốc kháng tiết acid
và kháng sinh trong vòng 4 tuần trước khi nội soi và kết quả nội soi được ghi
nhận chi tiết.
Tiến trình nội soi và sinh thiết
Tiến hành nội soi các bệnh nhân trong nhóm nghiên cứu bằng máy nội
soi Olympus GIF 160 (Olympus Co., Tokyo, Japan). Trong quá trình nội soi ở
mỗi bệnh nhân, 3 mẫu mô sinh thiết dạ dày sẽ được lấy từ vùng tiền môn vị (vị
trí 1), vùng góc bờ cong nhỏ (vị trí 2) và vùng 1/3 dưới thân vị phía bờ cong
lớn tại vị trí cách chỗ vào hang vị (đối diện với góc bờ cong nhỏ) khoảng 2-
3cm (vị trí 3). Kềm sinh thiết được sử dụng trong quá trình lấy mẫu là Olympus
FB25K (Olympus Co., Tokyo, Japan).
Thử nghiệm Urease nhanh
TNUN được sử dụng trong nghiên cứu này là PyloriTek (Serim
Research Corp., Elkhart, Ind.). Kít thử này gồm có que thử và dung dịch
thuốc thử (hình 1). PyloriTek được chứng minh là có độ nhạy từ 90-98.5%

