
Một số Võ thuật của các nước trên thế giới
Phần 1
1. Võ thuật Myanma
Võ thuật Myanma, được gọi chung là Thaing, có một lịch sử lâu dài và chịu nhiều ảnh
hưởng của các môn võ thuật từ nhiều nơi.
Nguồn gốc
Myanma có biên giới với Ấn Độ, Thái Lan, và Trung Quốc. Do đó, nước này có một di
sản võ thuật phong phú. Các nhà sư Ấn Độ không chỉ đem tới cho Trung Quốc võ Thiếu
Lâm mà còn mang tới cho Myanma những môn võ thuật từ cách đây gần 2000 năm. Sau
này, võ thuật Trung Hoa phát triển và phổ biến xuống phía Nam trong đó có Myanma và
pha trộn với các dòng võ thuật được phát triển trước đó tại nước này mà tạo nên lối võ
thuật Myanma ngày nay được gọi là Thaing.
Traditional arakan naban
Các dân tộc lớn ở Myanma gồm người Myanma, người Myanma gốc Hoa, người
Myanma gốc Ấn, người Chin, người Kachin, người Karen, người Môn, người Shan,
người Talaing đều có một hình thức Thaing riêng. Thaing bao gồm cả võ tay không mà
nổi tiếng nhất là bando và võ với vũ khí như kiếm, gậy, dao mà Banshay là tiêu biểu. Các
môn phái võ thuật Myanma khác có Naban (vật) và Lethwei (tương tự kick boxing ở một
số nơi tại Đông Nam Á.

Có nhiều truyền thuyết kể rằng các nhà sư đã mật truyền võ cho môn đồ. Tới ngày nay,
người Myanma vẫn không có lệ phổ biến võ thuật cho người ngoài. Họ cho rằng khi mà
võ đã bị truyền ra ngoài thì hiệu quả chiến đấu sẽ mất đi. Do đó, các nhà sư thấy tốt hơn
là dạy võ một cách bí mật tại các tu viện.
Các văn kiện cổ cho biết từ thời vua Anawrahta (1044 - 1077 công nguyên) các nhà sư đã
dạy các bí quyết kiểm soát hơi thở và luyện thiền để kiểm soát sức mạnh. Những bí quyết
này được truyền qua nhiều thế hệ tới nay trở thành một bộ phận của hệ phái bando trong
võ thuật Myanma.
Có một kỹ thuật chiến đấu độc đáo trong võ thuật Myanma gọi là Thaing Byaing Byan có
một nguồn gốc rất huyền bí. Và có một nhân vật mà tên tuổi gắn với kỹ thuật này, đó là U
Maung Lay. Người ta đồn rằng, sư phụ của U Maung Lay là một người xuất thân từ miền
bắc bang Shan và chỉ nhận ba đệ tử. Người trẻ tuổi nhất trong số ba đệ tử đó là U Maung
Lay và ông này sau đó trở thành người sáng lập môn phái Thaing Byaing Byan ở
Myanma. Triết lý và các bài quyền của môn phái này khá khác biệt so với các phái võ
khác của Myanma.
Thaing Byong Byan hay còn gọi Khu-Kar-Chant có nghĩa là "Phản Thaing" là một phái
nhu thuật của Myanma. Những người luyện môn Thaing Byong Byan thường mặc trang
phục truyền thống của người Shan. Kỹ thuật Thaing Byong Byan nổi tiếng là hiệu quả
trong cận chiến. Người ta đồn rằng kỹ thuật chiến đấu này có nguồn gốc từ võ thuật của
các cao thủ nội cung ỏ Kanbawza. Tuy nhiên không rõ là Kanbawza này là Kanbawza ở
bang Shan (còn gọi Kanbawza Thadi) hay thành Hanthawadi ở Pegu.
Trong số các môn phái võ tay không cùng được gọi là thaing có:
Bando
Banshay
Lethwei
Naban


2. Nhu thuật – Nhật bản
Võ sĩ tập luyện Nhu Thuật ở Nhật Bản năm 1922
Nhu Thuật (柔術; Jujitsu, Jiu-Jitsu) là một danh từ gọi chung cho nhiều môn phái võ
thuật cổ truyền của người Nhật. Nhu Thuật xuất nguồn từ giai cấp võ sĩ samurai xưa ở
Nhật Bản dùng tay không để tự vệ và chống cự lại đối thủ có võ trang hay không võ
trang.[cần dẫn nguồn] Vì các samurai nhận thấy rằng phương pháp đấm đá của các bộ môn võ
khác không có hiệu nghiệm khi chống lại địch thủ mặc áo giáp, họ phát minh ra phương
pháp dùng quật ngã, đè, siết cổ, khóa tay, khóa chân,… để kháng cự địch thủ. Những
phương pháp này nói chung là dựa trên lý thuyết dùng sức công của đối phương để kềm
chế địch thủ, thay vì chống trả trực tiếp.
Phương pháp Khóa tay của Nhu Thuật
Nhu thuật có rất nhiều phương pháp khác nhau, vì thế từ nó đã nẩy sinh ra nhiều môn
phái khác nhau. Nhu Đạo (Judo) là môn võ nổi tiếng nhất được bắt nguồn từ Nhu thuật.
Ngoài ra còn có các môn võ khác như Aikido,… hoặc môn phái hiện đại khác như Nhu
thuật Brazil,… đều có nguồn gốc chính thức từ Nhu thuật

3. Shorinji Kempo – Nhật Bản
Shōrinji Kempō (少林寺拳法, âm Hán Việt: Thiếu Lâm Tự Quyền Pháp) là một trong
chín môn võ thuật lớn của Nhật Bản (theo nhận định của tổ chức Nippon Budōkan - Nhật
Bản Võ Đạo Quán) và là một chi phái của võ Thiếu Lâm, do Sō Dōshin (tên thật là
Nakano Michio) sáng lập vào năm 1947 trên cơ sở môn Kungfu của Trung Quốc (người
Nhật gọi môn này là kempo).
Nakano Michio vốn được lục quân Nhật Bản gửi sang Trung Quốc học võ để về xây
dựng lực lượng đặc công của Nhật. Tại Trung Quốc, Nakano được Trần Lương, một cao
thủ Kungfu của Nghĩa Hòa Đoàn nhận làm đệ tử và đặt cho tên Tôn Đạo Thần (âm Hán-
Nhật là Sō Dōshin). Sau khi bị điều tới vùng Đông Bắc Trung Quốc, Sō Dōshin tiếp tục
học võ từ Văn Thái Tôn, sư phụ đời thứ hai mươi của Bắc Thiếu Lâm Nghĩa Hòa Môn
Quyền.
Sau khi Nhật Bản đầu hàng quân Đồng Minh năm 1945, tinh thần người Nhật suy sụp
ghê gớm. Để góp phần động viên tinh thần cho người Nhật, Sō Dōshin lập ra môn võ
Shōrinji Kempō.
Từ Nhật Bản, môn võ này đã được phổ biến ra thế giới. Tại Đại hội thể thao Đông Nam
Á XXIV tổ chức năm vào năm 2007 tại Thái Lan, Shorinji Kempo đã được đưa vào làm
một môn biểu diễn.

