
Y HỌC TRONG XÃ HỘI NGUYÊN THỦY
VÀ XÃ HỘI CHIẾM HỮU NÔ LỆ - PHẦN 2
2.Y học thời cổ Hy lạp và La mã
Các quốc gia Hy lạp và La mã ra đời muộn hơn các quốc gia cổ đại
phương Đông 20-30 thế kỷ, lịch sử cổ đại Hy Lạp và La Mã được xem là lịch sử
của những xã hội chiếm hữu nô lệ điển hình.
2.1 Y học thời cổ Hy Lạp
Quan niệm về tự nhiên ở thời đại này có nhiều ảnh hưởng đến y học.
Các quan điểm về nguồn gốc sự sống:
- Thalès ( 640 - 548 trước công nguyên ) nước là khởi nguyên của mọi vật.
- Anaximandre ( 610 - 547 trước công nguyên) con người xuất phát từ loài
cá, ra khỏi nước rồi lên đất liền.
- Héraclite ( 576 - 480 trước công nguyên) lửa là khởi nguyên.

- Anaximène ( 480 trước công nguyên) : không khí là nguyên tố cơ bản.
- Pythagore ( 576- 496 trước công nguyên ) coi con số là bản chất của mọi
vật.
- Leucippe và Démocrite ( 499 - 404 trước công nguyên ): thế giới xuất
hiện ra từ nguyên tử.
- Alémeon đã phẫu tích súc vật, mô tả các rối loạn chức năng não, xác định
vai trò các màng mắt, phát hiện ống vòi ở dê cái.
Thời kỳ này giải phẫu người mới bắt đầu.
Theo huyền thoại thì ở Hy Lạp coi Appolon là vị thần sáng lập ra thuật
chữa bệnh. Appolon không những làm cho thân thể được thanh sạch mà còn làm
tan biến được những u ám trong tâm hồn, đem cái đẹp tới trước các thần nhân.
Appolon cũng làm dịu bớt những nỗi thắc mắc trong tư tưởng con người và khiến
cho tâm tính của con người trở nên hòa dịu hơn Esculape: con của Appolon và
Coronis, con gái của Phlégyas, vua xứ Thébes. Phlégyas nối ngôi vì Etéocle chết
đi không có con kế tự. Trong một cuộc viễn chinh của Phlégyas tại miền Nam Hy
Lạp, Coronis có đi theo cha. Nhân dịp này Coronis bỗng trở dạ sinh ra một đứa
con trai, nhưng Coronis trút linh hồn trước khi trông thấy mặt đứa nhỏ. Esculape
bản tính ưa quan sát và lớn lên ở giữa vùng thiên nhiên, nhận ra các giống cây có
dược tính chữa được bệnh hay cứu người sống lại được. Có truyền thuyết nói rằng

một hôm Esculape tới chơi nhà một người quen đang ốm, gặp một con rắn.
Esculape đưa cây gậy ra trước miệng con rắn, con rắn đớp lấy cây gậy rồi quấn
quanh. Esculape đập cây gậy xuống đất thì con rắn lăn ra chết. Esculape lại thấy
một con rắn khác miệng ngậm một cây cỏ leo tới dùng cây cỏ để làm cho con rắn
kia sống lại được.
Esculape chợt thấu hiểu rằng trong thiên nhiên có nhiều cây cỏ có thể dùng
làm thuốc được nên từ đó chuyên tâm nghiên cứu tìm tòi các loại cây cỏ trong núi
để chữa bệnh. Esculape được coi như thần bản mệnh của các thầy thuốc và được
thờ tự tại các vùng rừng núi ở bên những ngọn suối hay trên ngọn núi cao. Tại
khắp Hy Lạp đều có đền thờ Esculape. Ông thực sự được coi là thủy tổ nghề y.
Khi đi chữa bệnh Esculape thường mang theo con rắn quấn trên chiếc gậy. Người
Hy lạp cổ thường coi con rắn là biểu tượng của sự khôn ngoan, có quyền lực, biết
tiên tri và chữa bệnh.
Thời kỳ này các thầy thuốc thực hành dùng các phương pháp trị liệu nôi
khoa, ngoại khoa, xoa bóp, tắm, vận động...
Ở giai đoạn trước Hippocrate, trong bản trường ca” Iliade” nhà thơ lớn
Homère viết: “Không có một bệnh nào do ma qủy làm cả mà tất cả mỗi bệnh đều
có một nguyên nhân riêng”, “ Không có thần thánh mang bệnh cho người mà
chính con người truyền cho nhau”, Thiên nhiên là thầy thuốc chữa bệnh tốt”, “

Chính thiên nhiên hành động và hoàn tất nhiệm vụ của mình”, “ Nhiệm vụ của
thầy thuốc là hỗ trợ cho thiên nhiên hơn là cản trở”.
Sau Esculape, có 2 trường phái y học đã hình thành:
- Trường phái KNID nặng về lý luận nên phát triển kém.
- Trường phái COS ưa quan sát, coi trọng kinh nghiệm thực tế. Từ trường
phái này sinh ra Hippocrate và Galien.
* Hippocrate ( 460- 377 trước công nguyên ) sinh ở đảo Cos gần bờ biển
Tiểu Á. Đó là thế kỷ của Periclès, một thiên tài lãnh đạo quốc gia, đã làm cho Hy
Lạp nổi tiếng lừng lẫy. Đó là thời kỳ vàng son của nền văn minh Hy Lạp vì đã tập
trung một số nhân tài kiệt xuất như Socrate, Platon, Hérodate, Theucydide...
Qua trí tuệ, dựa vào lao động và đạo đức cao cả của mình, Hippocrate là
một trong những con người vĩ đại nhất, lớn tới mức khó mà phân biệt được truyền
thuyết với lịch sử. Ông là môn đồ của Esculape, ông du hành khắp nơi trên đất Hy
Lạp, Ai Cập, Tiểu Á, Libye...
Ông là người thầy thuốc vĩ đại thời cổ, có ảnh hưởng đến tòan bộ nền y
học phương Tây,
được thầy thuốc mọi thời đại tôn làm thầy. Ông viết các sách: quan điểm, lời thề,
luật pháp, người thầy thuốc nghệ thuật, tính chất con người, không khí, nơi ở,

nước, chế độ ăn và sức khỏe, châm ngôn, các bệnh dịch, tiên lượng, những cơn
đau, y học cổ, vết thương đầu, gãy xương, sai khớp, dược học thai nhi, tính chất
của xương răng, sự kiêng kỵ, các vết thương và vết loét, trĩ...Sau khi mất ông đã
để lại một sự nghiệp lớn lao là trước tác “ Corpus Hippocraticum” gồm 72 cuốn.
Hippocrate là một người có lương tâm nghề nghiệp, có tư tưởng lớn, đạo
đức cao cả. Lời thề Hippocrate có một nội dung rất cao đẹp, nêu lên một số tiêu
chuẩn đạo đức của người thầy thuốc: Kính thầy, yêu nghề, có ý thức trách nhiệm
đối với người bệnh, chỉ dẫn chu đáo, giữ lương tâm trong sạch, có quan điểm phu
nữ đúng đắn, ý thức giữ gìn bí mật. Những quan điểm và thực tiễn cơ bản
của Hippocrate về y học như sau:
* Tách rời tôn giáo và y học, xây dựng y học trên cơ sở vật chất, dựa và
quan sát cụ thể, tỉ mỉ những dấu hiệu của bệnh. Bệnh tật là một hiện tượng tự
nhiên của cơ thể, không có ma lực huyền bí gì gây nên.
* Nguyên tắc cơ bản để chữa bệnh chủ yếu là trợ lực cho sức đề kháng tự
nhiên của cơ thể, phải tránh tất cả những gì cản trở khả năng tự chữa và sức khỏe
tự nhiên của bệnh nhân. Cách điều trị của Hippocrate rất thận trọng” Không được
làm bất cứ điều gì một cách táo bạo. Đôi khi còn phải nghỉ ngơi hoặc chẳng làm gì
hết. Như vậy tuy anh không làm được gì cho bệnh nhân, nhưng anh cũng chẳng
tác hại gì họ.”

