ĐIỀU TRỊ BỆNH UNG THƯ BẰNG TIA BC XẠ
(PHẦN 1)
Xtrị phương pháp sử dụng các tia bức xạ ion hoá năng lượng
cao. Đó là các sóng điện từ (tia X, tia gama,...) hoặc các hạt nguyên tử (électron,
nơtron, proton,..) để điều trị bệnh ung thư. Phương pháp này đã được sdụng
từ 100 năm nay song nó vẫn là một trong những phương pháp chủ yếu và có kết
quả trong điều trị ung thư.
ĐIỀU TRỊ BỆNH UNG THƯ BẰNG TIA BỨC XẠ
Xtrị là phương pháp sử dụng các tia bức xạ ion hoá năng lượng cao.
Đó các sóng điện t (tia X, tia gama,...) hoặc các hạt nguyên t (électron,
nơtron, proton,..) để điều trị bệnh ung thư.
Phương pháp này đã được sử dụng từ 100 năm nay song vẫn là một
trong những phương pháp chủ yếu và có kết quả trong điều trị ung thư.
1. NGUYÊN TẮC ĐIỀU TRỊ
Tia bức xạ là một trong những nguyên nhân gây ung thư. Bởi vậy người ta
khuyên rằng chỉ dùng tia xđể điều trị bệnh ung thư, còn đối với các bệnh khác
(không phải ung thư) nên dùng các phương pháp điều trị khác (phẫu thuật,
thuốc…).
Chđịnh xạ trị cho bệnh nhân phải được cân nhắc cụ thể trong từng trường
hợp. Phải tuân thủ đầy đủ các nguyên tắc chung của điều trị bệnh ung thư, nghĩa là
phải một chẩn đoán thật chính xác (loại bệnh, vị trí tổn thương, giai đoạn bệnh
tiến triển tự nhiên của nó, loại bệnh học) từ đó mới đưa ra được phác đồ
điều trị cụ thể và trong toàn bqtrình điều trị phải theo dõi liên tục, sát sao
bằng các phương pháp thăm khám lâm sàng và cận lâm sàng.
Việc tính toán liều lượng chiếu xạ phải cụ thể, tỷ mỷ, chính xác đm bảo
nguyên tắc liều tại u là tối đa, liều tại chỗ chức lành tối thiểu nhằm hạn chế tới
mức thấp nhất các ảnh hưởng không mong muốn của tia xạ. Do vậy người thầy
thuốc phải có một kế hoạch điều trị rõ ràng.
2. CƠ SỞ SINH HỌC CỦA XẠ TRỊ
2.1. Đối với tế bào
Để đưa ra các kỹ thuật, chỉ định xạ trị người ta dựa trên các giai đoạn phân
chia của chu kỳ tế bào, bi lẽ sự nhạy cảm tia phụ thuộc vào các giai đoạn trong
chu kphân chia của tế bào(giai đoạn tế bào phân chia -M,tế bào nhậy cảm với
tia bức xạ nhất) và phthuộc vào các nhóm tế bào khác nhau (tế bào u, tế bào
lành). Tác dụng của tia xạ lên tế bào theo 2 cơ chế chủ yếu: Tác dụng trực tiếp (chỉ
vào khoảng 20 %) còn lại chủ yếu do tác dụng gián tiếp(chiếm 80%).
Tác dụng trực tiếp: X trị sẽ tác động ngay đến các chuỗi AND của tế bào,
làm cho chuỗi nhiễm sắc thnày btổn thương. Đa số các trường hợp, tổn thương
được hàn gắn và tế bào hồi phục bình thường, không để lại hậu quả. Một số trường
hợp gây nên tình trạng sai lạc nhiễm sắc thể như: "Gẫy đoạn, đảo đoạn, đứt đoạn
..." từ đó tạo ra các tế bào đột biến,làm biến đổi chức năng tế bào và dẫn tới tế bào
btiêu diệt. Tần xuất tổn thương phụ thuộc o cường độ, liều lượng chiếu xạ và
thời gian nhiễm xạ.
Tác dụng gián tiếp: Khi bức xạ tác dụng lên thchủ yếu gây ra tác động
ion hoá, tạo ra các cặp ion khả năng phá hoại cấu trúc phân tử của các tế bào,
làm tế bào biến đổi hay bị huỷ diệt. Trên thể con người chủ yếu nước (trên
85% H20). Khi bchiếu xạ, H20 phân chia thành H+ 0H- các cp ion này tạo
thành các cp bức xạ thứ cấp, tiếp tục phá huỷ tế bào, sphân chia tế bào sbị
chậm đi hoặc dừng lại.
Năng lượng và cường độ của tia bức xạ khi đi qua thể con người hoặc
thsinh vật bị giảm đi do sự hấp thụ năng lượng của các tế bào. Shấp thụ năng
lượng này dẫn tới hiện tượng ion hoá các nguyên tcủa vật chất sống và hậu quả
tế bào sbị phá huỷ. Năng lượng bức xạ càng ln, số cặp ion do chúng tạo ra
càng nhiều. Thường các hạt mang điện năng lượng như nhau thì tạo ra các cặp
ion bằng nhau xong tuỳ theo vận tốc của hạt nhanh hay chậm mà mật độ ion hoá
nhiều hay ít .
Đối với các hạt như nơtron, ngoài hiện tượng ion hoá, chúng còn gián tiếp
thu được một động năng lớn, nguyên nhân ca quá trình này khi đi vào thể,
nôtron chuyn động chậm lại sau đó bị c hạt nhân của vật chất trong cơ thể
hấp thụ. Những hạt nhân ấy trở thành những hạt nhân phóng xạ phát ra tia bêta và
gama. Những tia này lại có khả năng gây ra hiện tượng ion hoá trong một thời gian
nhất định.
Nước là thành phần chủ yếu trong tế bào. c phân tnước bị ion hoá và
kích thích gây ra một loạt các phản ứng khác nhau:
H20 + hv---------> H20+ + e-
Electron có thể bị các phân tử nước khác hấp thụ để tạo ra ion âm của nước
H20 + e--------> H20-
Các ion H20+ và H20- đều không bền và bị phân huỷ ngay sau đó:
H2O+ --------> H+ + OH *
H2O - -------> OH + + H *
Kết quả của phản ứng là tạo ra các gốc tự do H* OH* cùng hai ion bền
H+,OH-; chúng có thkết hợp với nhau tạo thành phân tnước hoặc xảy ra một số
các phản ứng khác:
H* + OH* -------> H2O
H* + H* -------> H2
OH * + OH* --------> H2O2
H* + O2 ----------> HO2* (Đây gốc tự do peroxy được tạo
ra với sự có mặt của O2 )
Các gốc tự do không cấu hình của một phân tử bền vững, chúng chính
nguyên nhân gây nên các phản ứng mạnh tác động trực tiếp tới các phân tử
sinh học như: Protein,Lipid,DNA… .Tđó tạo nên những rối loạn về cấu trúc và
hoá học ở các phân tử này. Những rối loạn đó có thể là:
- Ngăn cản sự phân chia tế bào
- Sai sót của bộ nhiễm sắc thể(DNA)
- Tạo ra các đột biến gen
- Làm chết tế bào