HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
VŨ TRUNG HIẾU
ẢNH HƯỞNG CỦA TUỔI, MÙA VỤ ĐẾN CHẤT LƯỢNG
TINH DỊCH CỦA TRÂU MURRAH NUÔI TẠI TRẠM
NGHIÊN CỨU VÀ SẢN XUẤT TINH ĐÔNG LẠNH
MONCADA
Chuyên ngành:
Chăn nuôi
Mã số:
60.62.01.05
Người hướng dẫn khoa học: 1. PGS.TS. Nguyễn Bá Mùi
NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2016
2. TS. Lê Văn Thông
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi. Các số liệu và kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kì công trình nghiên cứu nào khác.
Tôi xin cam đoan rằng các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ
nguồn gốc.
Hà Nội, ngày tháng năm 2016
Tác giả luận văn
Vũ Trung Hiếu
i
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình nghiên cứu để hoàn thành luận văn của mình, tôi đã nhận được sự chỉ bảo tận tình, sự giúp đỡ quý báu của các thầy giáo, cô giáo, các nhà khoa học, các nhà quản lý, cán bộ công nhân viên Trung tâm giống gia súc lớn Trung ương, Trạm nghiên cứu và sản xuất tinh đông lạnh Moncada.
Nhân dịp này, cho phép tôi được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới:
TS. Lê Văn Thông - Giám đốc Trung tâm Giống gia súc lớn Trung ương, PGS.TS. Nguyễn Bá Mùi – Bộ môn sinh lý tập tính động vật, Khoa chăn nuôi – Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam đã hướng dẫn, giúp đỡ và tạo điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài, đánh giá kết quả và hoàn thành luận văn đồng thời bồi dưỡng cho tôi những kiến thức chuyên môn và kinh nghiệm quý báu.
Tôi xin chân thành cảm ơn TS. Lê Bá Quế, chủ nhiệm đề tài cấp Bộ “Nghiên cứu sản xuất tinh trâu đông lạnh cọng rạ phục vụ công tác cải tạo giống trâu Việt Nam” giai đoạn 2011-2014, đã cho phép tôi được sử dụng các kết quả của đề tài và nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu, hoàn thành luận văn.
Với tình cảm sâu sắc, tôi xin gửi lời cảm ơn tới Ban lãnh đạo, cán bộ công nhân viên Trung tâm giống gia súc lớn Trung ương, Trạm nghiên cứu và sản xuất tinh đông lạnh Moncada đã tận tình giúp đỡ để tôi hoàn thành luận văn này.
Để hoàn thành luận văn này, tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn tới các Thầy giáo, Cô giáo, Ban Quản lý đào tạo, Bộ môn Sinh lý tập tính động vật, Khoa Chăn nuôi – Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam, đã ủng hộ, tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành các thủ tục cần thiết để bảo vệ thành công luận văn này.
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn toàn thể gia đình, bạn bè, anh em, đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôi hoàn thành luận văn này!
Hà Nội, ngày tháng năm 2016
Tác giả luận văn
Vũ Trung Hiếu
ii
MỤC LỤC
Lời cam đoan ..................................................................................................................... i Lời cảm ơn ........................................................................................................................ ii Mục lục ........................................................................................................................... iii Danh mục các từ viết tắt ................................................................................................... v Danh mục bảng ................................................................................................................ vi Danh mục hình ................................................................................................................. vi Danh mục hình ................................................................................................................. vi Trích yếu luận văn .......................................................................................................... vii Thesis abstract ................................................................................................................ viii
Phần 1. mở đầu ................................................................................................................ 1 1.1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu ................................................................... 1 1.2. Mục tiêu của đề tài .............................................................................................. 2 Ý nghĩa của đề tài ............................................................................................... 2 1.3.
Phần 2. Tổng quan tài liệu ............................................................................................. 3 Cơ sở khoa học ................................................................................................... 3 2.1. 2.2. Một số chỉ tiêu sinh vật học về tinh dịch trâu Murrah ........................................ 3 2.2.1. Màu sắc tinh dịch ................................................................................................ 4 2.2.2. Thể tích tinh dịch (ml) ........................................................................................ 4 2.2.3. pH tinh dịch ........................................................................................................ 6 2.2.4. Nồng độ tinh trùng C (tỷ/ ml) ............................................................................. 6 2.2.5. Hoạt lực tinh trùng A (%) ................................................................................... 7 2.2.6. Tỷ lệ tinh trùng kỳ hình ...................................................................................... 9 2.2.7. Tỷ lệ tinh trùng sống ......................................................................................... 10 2.3. Một số yếu tố ảnh hưởng tới phẩm chất tinh đông lạnh của trâu Murrah ........ 11 2.3.1. Giống và cá thể ................................................................................................. 11 2.3.2. Tuổi ................................................................................................................... 12 2.3.3. Mùa vụ .............................................................................................................. 12 2.3.4. Thức ăn ............................................................................................................. 13 2.3.5. Quản lý, chăm sóc và khai thác tinh ................................................................. 13 Thụ tinh nhân tạo trâu bằng tinh đông lạnh ...................................................... 14 2.4. 2.5. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước ....................................................... 15 2.5.1. Những nghiên cứu trong nước .......................................................................... 15 2.5.2. Những nghiên cứu ngoài nước ......................................................................... 17
Phần 3. Vật liệu và phương pháp nghiên cứu ............................................................ 19 Vật liệu, địa điểm và thời gian nghiên cứu ....................................................... 19 3.1. 3.1.1. Vật liệu nghiên cứu ........................................................................................... 19
iii
3.1.2. Địa điểm nghiên cứu ......................................................................................... 19 3.1.3. Thời gian nghiên cứu ........................................................................................ 19 Điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng ....................................................................... 19 3.2. Điều kiện khí hậu khu vực ba vì h nội .............................................................. 20 3.3. 3.4. Nội dung nghiên cứu ........................................................................................ 21 3.4.1. Ảnh hưởng của tuổi đến phẩm chất tinh dịch và khả năng sản xuất
tinh đông lạnh của trâu Murrah ........................................................................ 21
3.4.2. Ảnh hưởng của mùa vụ đến phẩm chất tinh dịch và khả năng sản xuất
tinh đông lạnh của trâu Murrah ........................................................................ 21
3.4.3. Tỷ lệ thụ thai ở lần phối đầu bằng tinh cọng rạ của trâu Murrah trên
đàn trâu cái địa phương. ................................................................................... 22 Phương pháp nghiên cứu .................................................................................. 22
3.5. 3.5.1. Phương pháp nghiên cứu ảnh hưởng của tuổi đến phẩm chất tinh dịch
và khả năng sản xuất tinh đông lạnh của trâu Murrah ...................................... 22
3.5.2. Phương pháp nghiên cứu ảnh hưởng của mùa vụ đến phẩm chất
tinh dịch và khả năng sản xuất tinh đông lạnh của trâu Murrah ....................... 22
3.5.3. Phương pháp đánh giá tỷ lệ thụ thai ở lần phối đầu bằng tinh đông lạnh
cọng rạ của từng trâu Murrah trên đàn trâu cái địa phương ............................. 26 Xử lý số liệu...................................................................................................... 27
3.6.
Phần 4. Kết quả và thảo luận ....................................................................................... 29 Ảnh hưởng của tuổi đến phẩm chất tinh dịch và khả năng sản xuất tinh 4.1. đông lạnh của trâu Murrah ................................................................................ 29 4.1.1. Ảnh hưởng của tuổi đến phẩm chất tinh dịch của trâu Murrah ........................ 29 4.1.2. Ảnh hưởng của tuổi đến khả năng sản xuất tinh đông lạnh của
4.2.
trâu Murrah ....................................................................................................... 36 Ảnh hưởng của mùa vụ đến phẩm chất tinh dịch và khả năng sản xuất tinh đông lạnh của trâu Murrah ........................................................................ 40 4.2.1. Ảnh hưởng của mùa vụ đến phẩm chất tinh dịch của trâu Murrah .................. 40 4.2.2. Ảnh hưởng của mùa vụ đến khả năng sản xuất tinh đông lạnh của
4.3.
trâu Murrah ....................................................................................................... 46 Tỷ lệ thụ thai của tinh trâu murrah đông lạnh dạng cọng rạ trên đàn trâu cái địa phương .................................................................................................. 50
Phần 5. Kết luận và kiến nghị ...................................................................................... 52 5.1. Kết luận ............................................................................................................. 52 Kiến nghị .......................................................................................................... 52 5.2. Tài liệu tham khảo .......................................................................................................... 53 Phụ lục .......................................................................................................................... 64
iv
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt
Nghĩa tiếng việt
Phần trăm
độ C
% 0C
Hoạt lực tinh trùng
A
Nồng độ tinh trùng
C
Centimet
Cm
Cộng sự
Cs
Đạt tiêu chuẩn
ĐTC
Tổ chức lương thực và nông nghiệp liên hiệp quốc
FAO
Follicle-stimulating hormone
FSH
Tinh trùng kỳ hình
K
kg
Kilogam
km
Kilomet
KTT
Khai thác tinh
LH
Lutenizing hormone
ml
Mililit
n
Dung lượng mẫu nghiên cứu
PGF2α SE
Prostaglandin F2α Standard Error
TTNT
Thụ tinh nhân tạo
V
VAC
Tổng số tinh trùng tiến thẳng
%
Phần trăm
v
Thể tích tinh dịch
DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1. Nhiệt độ và độ ẩm ở khu vực nghiên cứu theo từng mùa trong giai
đoạn 2013-2016 ........................................................................................... 21
Bảng 4.1. Ảnh hưởng của tuổi đến phẩm chất tinh dịch của trâu Murrah .................. 30
Bảng 4.2. Ảnh hưởng của tuổi đến tỷ lệ các lần khai thác tinh đạt tiêu chuẩn và
các chỉ tiêu số lượng, chất lượng tinh dịch đạt tiêu chuẩn của trâu
Murrah .......................................................................................................... 37
Bảng 4.3. Ảnh hưởng của tuổi đến số lượng tinh đông lạnh dạng cọng rạ trên lần
khai thác tinh đạt tiêu chuẩn ........................................................................ 39
Bảng 4.4. Ảnh hưởng của tuổi đến hoạt lực tinh trùng sau giải đông của trâu
Murrah .......................................................................................................... 39
Bảng 4.5. Ảnh hưởng của mùa vụ đến phẩm chất tinh dịch của trâu Murrah .............. 41
Bảng 4.6. Ảnh hưởng của mùa vụ đến tỷ lệ các lần khai thác tinh đạt tiêu chuẩn
và các chỉ tiêu số lượng, chất lượng tinh dịch ............................................. 47
Bảng 4.7. Số lượng tinh đông lạnh dạng cọng rạ trên lần khai thác tinh đạt tiêu
chuẩn của trâu Murrah theo mùa vụ ............................................................ 49
Bảng 4.8. Hoạt lực tinh trùng sau giải đông của trâu Murrah theo mùa vụ ................. 49
Bảng 4.9. Tỷ lệ thụ thai ở lần phối đầu của trâu Murrah ............................................. 50
DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1. Các dạng kỳ hình phổ biến của tinh trùng ....................................................... 9
vi
TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Tên tác giả: Vũ Trung Hiếu
Tên Luận Văn: Ảnh hưởng của tuổi, mùa vụ đến chất lượng tinh dịch của
trâu Murrah nuôi tại Trạm Nghiên cứu và Sản xuất tinh đông lạnh Moncada.
Ngành: Chăn Nuôi Mã số: 60.62.01.05
Tên Cơ sở đào tạo: Học viện Nông nghiệp Việt Nam
Mục đích nghiên cứu
Mục tiêu của nghiên cứu này nhằm đánh giá được ảnh hưởng của các yếu tố lứa tuổi, mùa vụ đến một số chỉ tiêu số lượng, chất lượng tinh dịch và khả năng sản xuất tinh cọng rạ của trâu Murah nuôi tại Trạm Nghiên cứu và sản xuất tinh đông lạnh Moncada, qua đó giúp cơ sở chăn nuôi trâu đực giống có biện pháp chăn nuôi, khai thác tinh đạt hiệu quả cao với từng lứa tuổi trâu và ở từng mùa vụ trong năm.
Phương pháp nghiên cứu
Tổng số có 800 mẫu tinh dịch của 5 trâu đực giống Murrah (có độ tuổi, khối lượng đồng đều) được nghiên cứu đánh giá. Mỗi trâu đực khai thác 160 mẫu tinh dịch ở 4 giai đoạn tuổi và 4 mùa trong năm. Các giai đoạn tuổi được phần chia gồm: từ 36 tháng tuổi trở xuống, từ 37 đến 48 tháng tuổi, từ 49 đến 60 tháng tuổi và trên 60 tháng tuổi. Các mùa trong năm gồm có: mùa xuân từ tháng 1 đến tháng 3, mùa hạ từ tháng 4 đến tháng 6, Mùa thu từ tháng 7 đến tháng 9, mùa đông từ tháng 10 đến tháng 12.
Kết quả chính và kết luận
Kết quả nghiên cứu về các chỉ tiêu thể tích tinh dịch, hoạt lực tinh trùng, nồng độ tinh trùng, tổng số tinh trùng tiến thẳng, tỷ lệ tinh trùng kỳ hình, tỷ lệ tinh trùng sống, tỷ lệ tinh trùng sống, số lượng tinh cọng rạ trong một lần khai thác theo từng giai đoạn tuổi, theo từng mùa vụ và tỷ lệ thụ thai ở lần phối đầu bằng tinh đông lạnh cọng rạ của từng trâu Murrah trên đàn trâu cái địa phương cho thấy, yếu tố tuổi và mùa vụ có ảnh hưởng đến một số chỉ tiêu số lượng, chất lượng tinh dịch và khả năng sản xuất tinh đông lạnh của trâu Murrah. Giai đoạn từ 49 đến 60 tháng tuổi có phẩm chất tinh dịch đạt tốt nhất, thể tích tinh dịchđạt 4,07ml, hoạt lực tinh trùng đạt 77,43%, nồng độ tinh trùng đạt 1,14 tỷ/ml, số lượng cọng rạ trong một lần khai thác tinh đạt tiêu chuẩn đạt 160,58 liều, hoạt lực sau giải đông đạt 45,82%. Chất lượng tinh dịch, số lượng cọng rạ trong một lần khai thác tinh đạt tiêu chuẩn của trâu Murrah thấp nhất trong mùa hạ, sau đó đến mùa xuân, mùa thu và tốt nhất là mùa đông (P<0,05) .Tỷ lệ thụ thai ở lần phối giống đầu của các trâu đực giống trên đàn trâu cái địa phương đạt 50,77% và dao động từ 50,00% đến 50,91% tùy theo từng cá thể trâu đực, tuy nhiên không thấy có sự sai khác có ý nghĩa thống kê (P>0,05).
vii
THESIS ABSTRACT
Master candidate: Vu Trung Hieu
Thesis title: “Effects of age, season on semen quality of Murrah buffaloes
raised at Moncada research and produce frozen semen station”.
Major: Husbandry Code: 60.62.01.05
University’s name: Vietnam National University of Agriculture
Research Objectives
The objective of this study was evaluating the influence of age, season on quantity, quality semen, and the ability to producing frozen semen of Murrah buffalo at Moncada research and produce frozen semen station. Thereby, helping breeding farms have effective management and semen collection depending on age and season.
Materials and Methods
800 semen samples from 5 Murrah buffalo bulls (the same: age, weight) is assessed. Each buffalo were collected 160 semen samples at stage 4 periods of age and 4 seasons. Age stages were divided into 4 groups: under 36 months of age, from 37 to 48 months of age, from 49 to 60 months and over 60 months of age. The seasons include: Spring: from January to March; Summer: from April to June; Autumn: from July to September and Winter: from October to December.
Results and conclusions
The results showed that there was a clear effect of age and season on semen quality and production of frozen semen Murrah buffaloes. The period from 49 to 60 months of age had the best quality semen: V (Volume) 4.07ml, motility (A) 77.43%, C (sperm concentration) 1.14 billion/ml, the number of straws per a standard ejaculation was 160.58 straws, post-thawing motility was 45.82%.
Semen quality, the number of straws per a standard ejaculation of Murrah buffalo was the lowest in Summer, followed by Spring, Autumn and Winter was the best (P<0.05). The fertility rate at first insemination on the swamp buffalo herd was 50.77% and about from 50.00% to 50.91% depending on each individual male buffalo (P> 0.05).
viii
PHẦN 1. MỞ ĐẦU
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
Hàng ngàn năm qua, trâu là loài động vật cung cấp sức kéo, sữa và thịt chất
lượng cao cho con người, cung cấp phân bón cho cây trồng và là một nguồn vốn tiết
kiệm góp phần cải thiện cuộc sống của người nông dân (Gupta and Das, 1994) .
Có 2 loại hình trâu gồm trâu sông (River buffalo) và trâu đầm lầy (Swamp
buffalo). Chúng có chung nguồn gốc từ trâu rừng và được tách biệt ước tính đã ít
nhất từ 10.000 đến 15.000 năm trước đây. Do quá trình chọn lọc và sử dụng mà
ngoại hình, khả năng sản xuất và số lượng nhiễm sắc thể của hai loại hình trâu có
những đặc điểm khác nhau. Trâu sông có 50 nhiễm sắc thể (Ahmad et al., 2004),
sống tập trung ở vùng Tây Á nhằm khai thác sữa và được chia làm nhiều giống
khác nhau như Murrah, Nili-Ravi, Kundi, Surti, Mehsana, Jafarabadi …
(Cockrill, 1974). Trâu trâu đầm lầy có 48 nhiễm sắc thể (Supanuam et al., 2009),
sống tập trung ở vùng Đông Nam Á, được sử dụng để cày kéo, lấy thịt và chỉ có
một giống (do ít được chọn lọc cải tạo) nhưng có những tên gọi địa phương khác
nhau như trâu Ngố, trâu Gié ở Việt Nam, trâu Carabo ở Philipin, trâu Krbau ở
Malaysia…(Lê Viết Ly và Mai Văn Sánh, 2004).
Trên thế giới có khoảng 198,88 triệu con trâu, phân bố chủ yếu ở Châu Á
(chiếm 97,17%) và tập trung ở 3 nước Ấn Độ (115,40 triệu con), Pakistan (32,70
triệu con), Trung Quốc (23,25 triệu con) (FAO, 2013). Việt Nam thuộc nhóm
những quốc gia có số lượng trâu đầm lầy lớn trên thế giới với 2,51 triệu con năm
2014 (Tổng Cục thống kê, 2015).
Trâu Việt Nam chỉ được nuôi để cày kéo, giết thịt mà không có đàn trâu
khai thác sữa, do vậy nước ta đã nhập nội giống trâu Murrah trong giai đoạn
1970-1978 từ Trung Quốc, Ấn Độ nhằm nhân thuần phát triển đàn trâu sữa và
đồng thời lai tạo với trâu cái Việt Nam. Trâu lai F1 (Murrah x trâu Việt Nam) có
tầm vóc lớn hơn, khả năng sinh trưỡng, sinh sản, cày kéo, cho thịt, sữa đều cao
hơn so với trâu nội và có thể phát triển tốt trong điều kiện nông thôn (Nguyễn
Đức Thạc, 1983; Nguyễn Đức Thạc và Nguyễn Văn Vực, 1984; Mai Văn Sánh,
1
1996; Tạ Văn Cần và cs., 2008).
Do khác nhau về đặc điểm giống loài, việc ghép đôi nhảy trực tiếp giữa
trâu đực Murrah và trâu cái Việt Nam gặp nhiều khó khăn. Vì vậy, kỹ thuật thụ
tinh nhân tạo đã giúp cho quá trình sinh sản tạo con lai F1 (Murrah x trâu Việt
Nam) trở nên dễ dàng hơn trong những năm gần đây. Việc tuyển chọn, nuôi
dưỡng những trâu đực Murrah có chất lượng giống tốt để sản xuất tinh đông lạnh
đã giúp làm tăng tốc độ cải tiến di truyền, góp phần thúc đẩy quá trình cải tạo cải
tạo giống trâu và tăng năng suất trong chăn nuôi trâu một cách bền vững (Lê Bá
Quế và cs., 2015).
Đã có nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả về khả năng sinh trưởng,
sinh sản, cho thịt sữa của trâu Murrah ở nước ta nhưng hiện nay chưa có công trình
nào nghiên cứu ảnh hưởng của của các yếu tố ngoại cảnh đến phẩm chất tinh dịch
của trâu Murrah sản xuất tinh đông lạnh. Chính vì vậy, việc nghiên cứu “Ảnh
hưởng của tuổi, mùa vụ dến chất lượng tinh của trâu Murrah nuôi tại Trạm
Nghiên cứu và Sản xuất tinh đông lạnh Moncada” là cần thiết và mang tính khoa
học, tính thực tiễn cao nhằm nâng cao khả năng sản xuất tinh đông lạnh của trâu
Murrah, góp phần phục vụ tốt công tác thụ tinh nhân tạo, cải tạo đàn trâu địa
phương, nâng cao hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi trâu thịt Việt Nam.
1.2. MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI
- Đánh giá được ảnh hưởng của các yếu tố lứa tuổi, mùa vụ đến một số chỉ
tiêu số lượng, chất lượng tinh dịch và khả năng sản xuất tinh cọng rạ của trâu
Murah nuôi tại Trạm Nghiên cứu và sản xuất tinh đông lạnh Moncada.
1.3. Ý nghĩa của đề tài
- Ý nghĩa khoa học: Kết quả của đề tài giúp bổ sung các dữ liệu khoa
học về ảnh hưởng của lứa tuổi, mùa vụ đến một số chỉ tiêu số lượng, chất lượng
tinh dịch và khả năng sản xuất tinh cọng rạ của trâu Murrah trong điều kiện chăn
nuôi ở miền Bắc. Ngoài ra, kết quả của luận văn là tài liệu tham khảo cho các
cơ sở nghiên cứu, các trường đại học, cao đẳng cũng như cho cơ sở chăn nuôi
trâu đực giống.
- Ý nghĩa thực tiễn: - Thông qua nghiên cứu ảnh hưởng của lứa tuổi,
mùa vụ đến một số chỉ tiêu số lượng, chất lượng tinh dịch và khả năng sản xuất
tinh cọng rạ của trâu Murah, giúp cơ sở chăn nuôi có biện pháp chăn nuôi, khai
2
thác tinh đạt hiệu quả cao với từng lứa tuổi trâu và ở từng mùa vụ trong năm.
PHẦN 2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
Trâu Murrah thuộc giống trâu sông (River buffalo Carabao) là giống trâu nổi tiếng nhất và được nuôi nhiều nhất trên thế giới. Đặc trưng về ngoại hình của trâu Murrah là thường có da và lông màu đen tuyền, da mỏng, mềm mại, nhẵn bóng, có lông thưa, ở cuối đuôi có chòm lông màu trắng sát với chân, sừng ngắn, quay ra sau và lên trên sau đó vòng vào trong thành hình xoắn ốc. Đầu trâu đực thô kệch và nặng nề, đầu con cái thì tương đối nhỏ, cân đối. Trán rộng và hơi gồ, mặt cân đối, lỗ mũi rộng. Tai trâu bé, mỏng và rủ xuống. Cổ trâu đực thô và mập, cổ trâu cái dài, mảnh. Ngực to, rộng, không có yếm. Trâu đực có phần thân trước nặng, phần sau nhẹ, trâu cái thì phần thân trước nhẹ và hẹp, phần thân sau nặng và rộng tạo thành hình cái nêm. Lưng rộng, dài và thon về phía đầu. Xương sườn rất tròn, núm rốn nhỏ, không có u bướu. Năng suất sữa của trâu Murrah đạt 1600 – 1800 Kg/ chu kỳ 270 - 300 ngày với tỷ lệ mở sữa tới 7%. Trâu đực trưởng thành có khối lượng: 650- 730kg/con, có thể tới 1000 kg, chiều cao trung bình 142 cm. Trâu cái: 350-
400kg/con, có thể tới 900 kg, chiều cao trung bình 133 cm, nghé sơ sinh: 30kg/con.
2.1. CƠ SỞ KHOA HỌC
Trong quá trình sinh trưởng, phát triển, một con đực hoặc cái đạt đến thành thục về tính dục là khi chúng có khả năng sản sinh giao tử và biểu hiện đầy đủ các hệ quả tập tính sinh dục. ở con đực, thành thục về tính là lúc bộ máy sinh sản đã đủ phát triển, sản sinh ra tinh trùng có khả năng làm con cái có chửa (Hiroshi, 1992;
Kunitada, 1992).
Sự thành thục về tính dục phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau như giống, tuổi, khối lượng cơ thể, điều kiện nuôi dưỡng và môi trường ...Nghé đực 3- 4 tháng đã có phản xạ nhảy (nhảy ôm lên những con nghé khác), một năm rưỡi
nghé đực đã có khả năng giao phối với cái.
Tuổi thành thục về tính của trâu phụ thuộc vào loại hình, giống trâu và đặc biệt là chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng nghé trước và sau khi tách mẹ. Theo tác giả Mai Văn Sánh (1996) thì trâu Murrah nuôi tại Sông Bé – Việt Nam có tuổi thành thục
sinh dục là 33,81 tháng.
3
2.2. MỘT SỐ CHỈ TIÊU SINH VẬT HỌC VỀ TINH DỊCH TRÂU MURRAH Cũng như bò và các gia súc khác, tinh dịch trâu Murrah có thể được khai thác bằng cách sử dụng âm đạo giả, bằng máy xung điện (electroejaculator), mát
xa qua trực tràng hoặc lấy ra từ âm đạo của con cái sau khi cho con đực xuất tinh vào. Tuy nhiên khai thác tinh bằng âm đạo giả được sử dụng phổ biến hơn bởi tính an toàn và phù hợp với tập tính sinh dục, các phương pháp còn lại hoặc có
chất lượng tinh dịch thấp hoặc có những phản ứng phụ không tốt cho vật nuôi.
Tinh dịch trâu Murrah thường được khai thác vào buổi sáng, trước khi cho ăn và có thể lấy một lần hoặc lấy đúp 2 lần, lần 2 cách lần 1từ 15 phút đến 30 phút, tùy thuộc vào độ hưng phấn sinh dục của gia súc (Jainudeen et al., 1982; Koonjaenak et al., 2007a, Vale, 2010; Bhakat et al., 2011). Một số chỉ tiêu phẩm chất tinh dịch được kiểm tra, đánh giá gồm màu sắc tinh dịch, thể tích tinh dịch (ml), nồng độ tinh trùng (tỷ/ml), hoạt lực tinh trùng (%), tỷ lệ tinh trùng kỳ hình (%), tỷ lệ tinh trùng sống (%), pH tinh dịch. Các chỉ tiêu này có ý nghĩa trong việc phát hiện các trường hợp sinh sản yếu hoặc vô sinh ở gia súc (Rodriguez –
Martinez, 1998).
2.2.1. Màu sắc tinh dịch
Tinh dịch trâu thường có màu trắng sữa hay trắng ngà. Màu sắc tinh dịch phụ thuộc vào nồng độ tinh trùng cũng như sự hiện diện của các chất khác (Vale, 1994). Tinh dịch có màu trắng sữa hoặc trắng ngà thường có nồng độ tinh trùng cao, màu trắng trong, loãng là tinh dịch có nồng độ tinh trùng thấp. Tinh dịch có màu xanh hoặc xám thường có lẫn mủ, có màu cà phê hay màu nâu thường do
lẫn máu hay sản phẩm viêm của đường sinh dục.
2.2.2. Thể tích tinh dịch (ml)
Chỉ tiêu này kiểm tra bằng mắt thường trên vạch chia mililit (ml) ở thành ống hứng tinh. Thể tích tinh dịch là số ml tinh dịch lấy được trong một lần xuất tinh thành công (ml/lần khai thác). Thể tích tinh dịch liên quan chặt chẽ tới giống, tuổi, chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng, kích thước dịch hoàn, mùa vụ, mức độ kích thích tính dục trước khi lấy tinh, phản xạ nhảy giá và kỹ thuật khai thác tinh. Đực giống trẻ thì thể tích tinh dịch thường ít nhưng sau 2 tuổi có thể đạt được hơn 4ml . Trâu đực trên 4 tuổi thể tích tinh dịch có thể đạt hơn 6ml(Vale 1994). Nếu lấy tinh hai lần thì thể tích lấy tinh lần hai thường ít hơn lần đầu (Nguyễn Tấn Anh và Nguyễn Quốc Đạt, 1997). Theo Bhakat et al. (2011) trâu Murrah ở Ấn Độ có độ tuổi từ 2,31-7,36 năm tuổi có thể tích tinh dịch đạt 2,58 ml, dao động từ 1,79-3,61 ml. Nghiên cứu của Manik và Mudgal (1984) cho biết, trâu
4
đực giống Murrah có thể tích tinh dịch bình quân đạt 3,25 ml/lần khai thác.
Trong thực tiễn, không phải tinh dịch của lần xuất tinh nào cũng đủ tiêu
chuẩn đông lạnh. Chỉ những lần lấy tinh qua kiểm tra đánh giá đạt tiêu chuẩn quy
định của từng nước, ở Việt Nam theo quy định số 675/QĐ-BNN-CN của Bộ
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ngày 04/4/2014 quy định đối với trâu đực
giống Murrah là hoạt lực tinh trùng ≥ 65%, nồng độ trên 0,7 tỷ tinh trùng/ml, kỳ
hình dưới 20 %... mới đủ tiêu chuẩn pha chế sản xuất tinh đông lạnh, nếu không
đạt thì loại bỏ ngay.
Nghiên cứu của Manik and Mudgal (1984) cho biết, trâu đực giống
Murrah có bình quân thể tích tinh dịch đạt 3,56-4,34 ml/lần khai thác ở mùa
xuân, ở mùa thể tích tinh dịch dao động từ 3,98-4,28 ml/lần khai thác tinh, ở mùa
thu dao động từ 3,48-4,38 ml/lần khai thác tinh và ở mùa đông thể tích tinh dịch
dao động từ 3,88-4,02 ml/lần khai thác tinh.
Nghiên cứu Bhakat et al. (2011) trên trâu đực giống Murrah có độ tuổi từ
2,31-7,36 tại Ấn Độ thể tích tinh dịch bình quân là 2,58 ml/lần khai thác, dao
động từ 1,79-3,61 ml/lần khai thác. Pawan Singh et al. (2001) công bố kết quả
khi nghiên cứu 12 trâu đưc giống Murrah 40 tháng tuổi tại Ấn Độ cho biết thể
tích tinh trùng đạt 4,26 ml/ lần khai thác.
Theo Pant et al. (2002) khi nghiên cứu 133 trâu đực giống Murrah ở các giai
đoạn cho biết: ở giai đoạn tuổi 25-36 tháng tuổi thể tích tinh dịch đạt 2,5ml/ lần
khai thác, ở giai đoạn 37-48 tháng tuổi thể tích tinh dịch đạt 3,1ml/ lần khai thác, ở
giai đoạn 49- 60 tháng tuổi thể tích tinh dịch đạt 3,5ml/ lần khai thác và trên 60
tháng tuổi thể tích tinh dịch 3,6ml/ lần khai thác.
Theo Vale. (1994) khi nghiên cứu về đặc điểm tinh dịch trâu đực Murrah
cho biết thể tích tinh dịch đạt 3ml/ lần khai thác. Theo kết quả nghiên cứu trâu
Murrah nuôi tại Trung tâm nghiên cứu trâu và đồng cỏ Sông Bé cho biết thể tích
tinh dịch trâu Murrah đạt 3,0-5,0ml/ lần khai thác.
Theo kết quả nghiên cứu trâu Murrah nuôi tại Trung tâm nghiên cứu và
phát triển chăn nuôi miền núi khi nghiên cứu về tinh trâu Murrah cho biết: thể
tích tinh dịch trâu Murrah đạt 3,25ml/ lần khai thác.
Trâu Murrah nuôi ở Ngọc thanh, Vĩnh Phú được huấn luyện lấy tinh lúc 24
tháng tuổi đến 34 tháng tuổi phẩm chất tinh dịch ổn định và có thể tích đạt là
5
3,29ml/ lần khai thác.
2.2.3. pH tinh dịch
Sau khi tinh vừa lấy xong cần kiểm tra độ pH của tinh dịch sẽ hỗ trợ cho đánh giá chất lượng tinh dịch chính xác. Đây là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá chất lượng tinh dịch trâu. Người ta có thể dùng máy đo pH để kiểm tra, hoặc dùng
giấy đo pH cũng chính xác và nhanh.
Tinh dịch trâu đực giống Murrah thường có pH dao động từ 6,8-7,0 (Tomar et al., 1966); pH dao động từ 6,4 – 7,0 (Kumar et al., 1993b). Theo Vale (1994) khi nghiên cứu về đặc điểm tinh dịch trâu đực Murrah đã công bố pH của
tinh dịch dao động từ 6,7 – 7,5.
Theo Mandal et al. (2000) công bố tinh dịch trâu đực giống Murrah ở Ấn
Độ có pH dao động từ 6,85 đến 6,97.
Tinh dịch có pH hướng kiềm là không tốt hoặc biểu hiện viêm các bộ phận sinh dục… Tinh dịch nguyên tươi của trâu đực giống không đạt tiêu chuẩn về chỉ
tiêu này phải loại bỏ và không cần kiểm tra các chỉ tiêu khác.
2.2.4. Nồng độ tinh trùng C (tỷ/ ml)
Nồng độ tinh trùng (C) là số lượng tinh trùng có trong một ml tinh dịch. Nồng độ tinh trùng là một chỉ tiêu quan trọng đánh giá chất lượng tinh dịch, là chỉ
tiêu cơ sở để tính số liều tinh sản xuất.
Có nhiều cách xác định nồng độ tinh trùng, nhưng hiện nay nồng độ tinh trùng được xác định bằng máy so màu rất nhanh và chính xác. Phương pháp này dựa trên nguyên tắc là: Tinh dịch có nồng độ tinh trùng khác nhau sẽ tạo nên các mức độ mờ đục khác nhau, làm cho độ sáng đến tế bào quang học có kết quả khác nhau và được chuyển thành dòng điện tích làm lệch kim điện kế, nhờ chương trình cài đặt sẵn máy tự động tính toán và hiện thông số nồng độ tinh trùng khá chính xác. Nếu ta nhập dữ liệu thể tích tinh dịch và hoạt lực tinh trùng thì máy có thể tính toán cho ta thông số về lượng môi trường cần pha, số lượng cọng rạ có thể sản xuất được. Nồng độ tinh trùng có ý nghĩa khoa học thực tiễn, nó xác định số lượng tinh trùng trên một lần lấy tinh, phân loại tinh dịch, quyết định loại bỏ hay sử dụng cho các công đoạn sau. Nồng độ tinh trùng (C) khi phối hợp với V và A cho biết tổng số tinh trùng hoạt động tiến thẳng của lần xuất tinh
đó (Hà Văn Chiêu, 1999).
Tổng số tinh trùng hoạt động tiến thẳng = VAC, từ thông số này giúp ta xác
6
định được số liều tinh có thể sản xuất, số lượng môi trường pha loãng cần sử dụng.
Theo Pant et al. (2002) khi nghiên cứu 133 trâu đực giống Murrah ở các
giai đoạn tuổi đã công bố trâu Murrah ở giai đoạn 25-36 tháng tuổi nồng độ tinh
trùng đạt 1,67 tỷ/ml, ở giai đoạn 37-48 tháng tuổi nồng độ tinh trùng đạt 1,49
tỷ/ml, ở giai đoạn 49- 60 tháng tuổi nồng độ tinh trùng đạt 1,47 tỷ/ml và trên 60
tháng tuổi nồng độ tinh trùng đạt 1,66 tỷ/ml.
Nghiên cứu của Manik and Mudgal (1984) cho biết, trâu đực giống
Murrah có nồng độ tinh trùng đạt 0,97 tỷ/ml đến 1,44 tỷ/ml.
Theo Mandal et al. (2000) cho biết tinh dịch trâu đực giống Murrah có
nồng độ tinh trùng dao động từ 0,96 tỷ/ml đến 1,18 tỷ/ml. Nghiên cứu Bhakat
et al. (2011) trên trâu đực giống Murrah tại Ấn Độ có nồng độ tinh trùng 0,99
tỷ/ml.
Pawan Singh et al. (2001) công bố kết quả khi nghiên cứu 12 trâu đưc
giống Murrah 40 tháng tuổi tại Ấn Độ cho biết nồng độ tinh trùng đạt 1,32 tỷ/ml.
Trâu Murrah nuôi ở Ngọc thanh, Vĩnh Phú được huấn luyện lấy tinh lúc
24 tháng tuổi đến 34 tháng tuổi phẩm chất tinh dịnh với nồng độ tinh trùng đạt
1,1 tỷ/ml.
Theo kết quả nghiên cứu trâu Murrah nuôi tại Trung tâm nghiên cứu và
phát triển chăn nuôi miền núi khi nghiên cứu về tinh trâu Murrah cho biết nồng
độ tinh trùng đạt 0,80 tỷ/ml.
2.2.5. Hoạt lực tinh trùng A (%)
Hoạt lực tinh trùng là sức sống hay sức hoạt động của tinh trùng, là chỉ
tiêu thể hiện số lượng tinh trùng hoạt động tiến thẳng trong tinh dịch và được xếp
theo phần trăm, từ 0% đến 100%.
Tinh trùng tiến thẳng được là nhờ cấu trúc đặc biệt của đuôi và nguồn
năng lượng từ lò xo ty thể. Tốc độ di chuyển tiến thẳng của tinh trùng phụ thuộc
vào các điều kiện nội tại và ngoại cảnh như giống, cá thể, niêm dịch đường sinh
dục tiết ra nhiều hay ít và độ co bóp của các bộ phận sinh dục của con cái.
Chỉ có tinh trùng vận động tiến thẳng mới có khả năng tham gia quá trình
thụ tinh. Do vậy người ta đánh giá chất lượng tinh dịch thông qua ước lượng tỷ lệ
tinh trùng tiến thẳng hoặc mức “sóng động” của mặt thoáng vi trường tinh dịch
7
do hoạt lực của tinh trùng tạo nên.
Đây là một chỉ tiêu rất quan trọng để đánh giá chất lượng tinh dịch, nó cho thấy khả năng pha loãng tinh dịch và khả năng thụ thai của tinh trùng. Trong thụ tinh nhân tạo gia súc chỉ có tinh dịch đạt A ≥ 60% thì mới dùng để pha chế bảo tồn ở dạng lỏng; A ≥ 70% thì tinh dịch đó mới đủ tiêu chuẩn để pha chế bảo
tồn ở dạng đông lạnh (Vale, 1994).
Với tinh sau khi đã bảo quản đông lạnh sâu thì phải có sức hoạt động là A≥30% (với tinh đông viên) và A≥40% (đối với tinh cọng rạ). Đánh giá sức hoạt động của tinh trùng là phương pháp chủ quan, quan sát qua kính hiển vi vì vậy kĩ thuật viên phải thành thạo. Có thể kiểm tra sức hoạt động của tinh trùng qua kính hiển vi bằng tinh nguyên tươi hoặc tinh pha loãng. Ở tinh dịch sau khi lấy tinh và duy trì nhiệt độ từ 37-39oC có thể gặp những loại hoạt động như: tiến thẳng, lắc lư, xoay tròn, giật lùi và không hoạt động, trong đó hoạt động tiến thẳng là biểu hiện
đặc trưng của sự sống của tinh trùng và có quan hệ chặt chẽ với tỷ lệ thụ tinh.
Nghiên cứu Bhakat et al. (2011) trên trâu đực giống Murrah tại Ấn Độ có hoạt lực tinh trùng 66,63 %. Theo Mandal et al. (2000) cho biết tinh dịch trâu
đực giống Murrah có hoạt lực tinh trùng từ 63,86% đến 67,99%.
Pawan Singh et al. (2001) công bố kết quả khi nghiên cứu 12 trâu đưc giống Murrah 40 tháng tuổi tại Ấn Độ cho biết hoạt lực tinh trùng trước đông
lạnh đạt 59,58%; hoạt lực sau giải đông đạt 32,91%.
Ramakrishnam et al. (1989) cho kết quả khi nghiên cứu 401 lần thu tinh trùng trâu Murrah công bố hoạt lực tinh trùng đạt 71,52 %. Bhosrekar et al. (1991) khi nghiên cứu về tinh dịch trâu Murrah cho biết hoạt lực của tinh trùng
từ 63% đến 86%.
Theo Shukla et al. (2006) khi nghiên cứu về bảo quản đông lạnh tinh trâu Murrah cho biết: hoạt lực tinh trùng đạt 73,4%, và hoạt lực tinh trùng sau giải đông đạt 56,3%. Theo Vale. (1994) khi nghiên cứu về đặc điểm tinh dịch trâu
đực Murrah đã công bố kết quả: hoạt lực tinh trùng lớn hơn 70%.
Theo kết quả nghiên cứu trâu Murrah nuôi tại trunng tâm nghiên cứu trâu và đồng cỏ sông bé cho biết hoạt lực tinh trùng đạt 60- 75% (Sharma và Đỗ Kim
Tuyên, 2006).
Trâu Murrah nuôi ở Ngọc thanh, Vĩnh Phú được huấn luyện lấy tinh lúc 24 tháng tuổi đến 34 tháng tuổi phẩm chất tinh dịch ổn định với hoạt lực tinh trùng
8
đạt 71,7%.
Trịnh Thị Kim Thoa và cs. (2005) nghiên cứu sản xuất tinh trâu đông lạnh dạng viên, mỗi viên chứa hơn 40 triệu tinh trùng và có hoạt lực sau giải đông đạt 30,64%. Môi trường pha loãng gồm Superoxide dismutase, Tris, axit citric, fructoza,
long đỏ trứng gà, glycerol, penicillin, streptomycin và nước cất.
Lưu Kỷ (1979); Vũ Ngọc Tý và Lưu Kỷ (1979) đã thành công trong nghiên cứu đông lạnh tinh dịch trâu trên mặt hơi nitơ lỏng (tinh viên), hoạt lực sau giải
đông đạt 30%.
2.2.6. Tỷ lệ tinh trùng kỳ hình
Trong điều kiện bình thường, tinh trùng có hình dạng đặc trưng cho mỗi loài, nhưng có thể vì một lý do nào đó trong quá trình sinh tinh hoặc xử lý tinh dịch, tinh trùng có hình thái khác thường như giọt bào tương bám theo; biến dạng hay khuyết tật ở đầu, đuôi như: đầu méo, to, hai đầu, đuôi gấp khúc, hai đuôi, đuôi xoăn, có giọt bào tương, thể đỉnh phù, tháo rời, vỡ vv... Tỷ lệ tinh trùng kỳ hình (K) được tính bằng %, được xác định bằng cách đếm trên kính hiển vi. Tỷ lệ tinh trùng kỳ hình phụ thuộc vào nhiều yếu tố như giống, điều kiện nuôi dưỡng, thời
tiết, bệnh tật, di truyền kỹ thuật xử lý tinh dịch (Trần Tiến Dũng và cs., 2002).
9
Hình 2.1. Các dạng kỳ hình phổ biến của tinh trùng
A - Acrosom lồi (dạng phổ biến)
I - Phản xạ xa tâm
B - Acrosom lồi (dạng hạt)
J - Đuôi gập đôi (đoạn giữa bị gãy)
C - Đầu quả lê (nghiêm trọng)
K - Đuôi gập đôi (đoạn giữa uốn cong)
D - Đầu quả lê (vừa phải)
L - Giọt bào tương gần tâm
E - Đầu quả lê (nhẹ)
M - Giọt bào tương xa tâm
F - Không bào nhân
N - Dạng quái lạ (nghiêm trọng)
G - Khiếm khuyết vòng miện
O - Dạng quái lạ (vừa phải)
H - Đầu tách rời
P - Tinh trùng bình thường
Tỷ lệ tinh trùng kỳ hình là tỷ số % tinh trùng kỳ hình đếm được với số tinh trùng kiểm tra. Trong thụ tinh nhân tạo, tinh dịch có tỷ lệ kỳ hình dưới 15% có thể
sử dụng, tuy nhiên tỷ lệ tinh trùng kỳ hình ở đầu không vượt qua 5%.
Nghiên cứu của Manik and Mudgal (1984) cho biết, trâu đực giống Murrah có tỷ lệ tinh trùng kỳ hình dao động trong khoảng 4,60% đến 6,53%. Theo Mandal et al. (2000) cho biết tinh dịch trâu đực giống Murrah có tỷ lệ tinh
trùng kỳ hình chiếm 7,32% đến 14,21%.
Ramakrishnam et al. (1989) cho kết quả khi nghiên cứu 401 lần thu tinh trùng trâu Murrah như cho biết tỷ lệ tinh trùng kỳ hình chiếm 12,2%. Bhosrekar et al. (1991) khi nghiên cứu về tinh dịch trâu Murrah cho biết tỷ lệ kỳ hình của
tinh trùng trâu Murrah từ 7,32% đến 14,21% .
Trâu Murrah nuôi ở Ngọc thanh, Vĩnh Phú được huấn luyện lấy tinh lúc 24 tháng tuổi đến 34 tháng tuổi phẩm chất tinh dịch ổn định với tỷ lệ tinh trùng kỳ
hình 12,78% (Nguyễn Đức Thạc và Nguyễn Văn Vực, 1985).
2.2.7. Tỷ lệ tinh trùng sống
Tỷ lệ tinh trùng sống xác định chất lượng của xuất tinh. Tinh dịch vừa thu
với hơn 30% tinh trùng chết có thể không thích hợp cho việc lưu trữ và đóng băng .
Tỷ lệ tinh trùng sống liên quan chặt chẽ đến tỷ lệ thụ tinh của tinh trùng. Dựa vào nguyên lý màng của tinh trùng chết hoặc đang chết có khả năng cho các chất nhuộm màu thấm qua, do sự rối loạn tính thẩm thấu của màng tinh trùng. Trong khi đó những tinh trùng sống màng tinh trùng không cho các chất nhuộm màu thấm qua nên không bắt màu khi nhuộm. Bằng cách này người ta đã sử dụng thuốc nhuộm màu eosine để nhuộm tinh trùng chết rồi đếm chúng trên kính hiển vi và tính tỷ lệ sống. Tỷ lệ tinh trùng sống phụ thuộc vào giống, độ tuổi, chế độ
10
chăm sóc nuôi dưỡng, khai thác tinh, môi trường pha loãng ...
Nghiên cứu của Manik and Mudgal (1984) cho biết, trâu đực giống
Murrah có tỷ lệ sống của tinh trùng dao động trong khoảng 72,94% đến 93,33%.
Theo Mandal et al. (2000) cho biết tinh dịch trâu đực giống Murrah có tỷ
lệ tinh trùng sống dao động từ 76,11% đến 83,08%.
Pawan Singh et al. (2001) công bố kết quả khi nghiên cứu 12 trâu đưc giống Murrah 40 tháng tuổi tại Ấn Độ cho biết tỷ lệ tinh trùng sống đạt 88,09%. Ramakrishnam et al. (1989) cho kết quả khi nghiên cứu 401 lần thu tinh trùng
trâu Murrah như sau: tỷ lệ tinh trùng sống đạt 86,87%.
Theo Shukla et al. (2006) khi nghiên cứu về bảo quản đông lạnh tinh trâu
Murrah cho biết: tỷ lệ tinh trùng sống đạt 81,6%.
Theo Vale (1994) khi nghiên cứu về đặc điểm tinh dịch trâu đực Murrah
đã cho biết tỷ lệ tinh trùng sống trên 70%.
2.3. MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI PHẨM CHẤT TINH ĐÔNG LẠNH CỦA TRÂU MURRAH Các chỉ tiêu đánh giá phẩm chất tinh dịch gia súc nói chung và trâu Murrah nói riêng có mối tương quan với nhau và chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố như giống, cá thể, lứa tuổi, mùa vụ, thức ăn, quản lý khai thác tinh. Đặc biệt, ảnh hưởng của môi trường pha loãng và quá trình đông lạnh tinh trùng có tác động lớn đối với chất lượng tinh trùng sau giải đông (Suryaprakasam et al., 1993; Pant et al., 2003; Shukla and Misra, 2005; Koonjaenak et al., 2007a; Bahakat et
al., 2009; Al Sahaf and Ibrahim, 2012.
2.3.1. Giống và cá thể
Trâu Murrah thuộc giống trâu đầm lầy (Swamp buffalo), kết quả nghiên cứu của nhiều tác giả đã chứng minh rằng, các giống khác nhau có các đặc điểm phẩm chất tinh dịch khác nhau. Nghiên cứu so sánh trâu địa phương, trâu Murrah và trâu Surti ở Sri Lanka. Rajamahendran and Manickavadivale (1981) thấy rằng, thể tích tinh dịch, nồng độ tinh trùng và tỷ lệ tinh trùng chết đạt cao nhất ở trâu Murrah. Trâu địa phương có lượng xuất tinh, tỷ lệ tinh trùng chết và kỳ hình lớn
hơn trâu Surti nhưng có nồng độ tinh trùng nhỏ hơn.
11
Thể tích tinh dịch trung bình của trâu đầm lầy trưởng thành đạt 3,7ml (Nordin et al., 1990), trâu Murrah đạt từ 2,58ml (Bhakat et al., 2011), trâu Nili- Ravi đạt tới 4,96ml (Javed et al., 2000). Các giống trâu đầm lầy, Murrah, Nili- Ravi, Surti…, pH dao động từ 6,26-7,5 (Younis, 1996; Vale, 1994; Mandal et al.,
2000; Koonjaenak et al., 2007a). Trâu đầm lầy trưởng thành có tỷ lệ tinh trùng sống 69,9% (Nordin et al., 1990), tỷ lệ tinh trùng sống của trâu Murrah đạt
77,77% (Capitan et al., 1990).
2.3.2. Tuổi
Quá trình sinh tinh ở trâu đực được bắt đầu khá sớm, từ 6 tháng tuổi đã có thể quan sát thấy sự phát triển của các tế bào sertoli trong ống sinh tinh, đến 12 tháng tuổi xuất hiện các tế bào sertoli hoàn chỉnh, từ 15 tháng tuổi trở đi bắt đầu có tế bào tinh trùng trong ống sinh tinh, đến 29 tháng tuổi trâu có tinh dịch hoàn chỉnh, nhưng đến 32 tháng tuổi các ống sinh tinh mới phát triển hoàn thiện
(Ahmad et al., 2010).
Trâu Murrah có mối tương quan mạnh mẽ giữa tuổi tác, chu vi dịch hoàn và khối lượng cơ thể (Suryaprakasam et al., 1993). Chu vi dịch hoàn tăng nhanh từ 3,5-4,5, tuổi và sau đó tăng trưởng chậm lại, thể tích tinh dịchvà nồng độ tinh trùng tăng tuyến tính đến 6 năm tuổi và sau đó có xu hướng giảm đi (Suryaprakasam et al., 1993). Mức độ testosterone huyết thanh của trâu có mối tương quan thuận với chu vi dịch hoàn và thể tích tinh dịch (Sajjad et al., 2007). Đây là lí do ham muốn tình dục của con đực trưởng thành cao hơn so với con đực già hay trẻ .Điều này phù hợp với công bố của nhiều tác giả đã khẳng định rằng tinh dịch trâu Murrah có chất lượng tốt nhất trong giai đoạn từ 3-5 tuổi
(Chinnaiya and Ganguli, 1990; Kumar et al., 1993; Singh et al., 2004).
2.3.3. Mùa vụ
Yếu tố mùa vụ ảnh hưởng tới gia súc thông qua nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa… ở cả khí hậu trong và ngoài chuồng nuôi và ảnh hưởng gián tiếp bởi stress nhiệt cao trong mùa hè sẽ ức chế ham muốn tình dục, giảm phẩm chất tinh và khả năng sinh sản của gia súc (Maldal et al., 2000; Pant, 2000). Stress nhiệt trong mùa hè có ảnh hưởng đa chiều đến khả năng sinh sản của trâu đực. Nó ức chế hoạt động tiết hormone sinh sản GnRH, FSH và LH bằng cách tăng nồng độ corticosteroid trong huyết tương. Trong mùa hè. Nồng độ thyroxin tiết giảm dẫn đến giảm lượng thức ăn ăn vào của động vật, giảm sự trao đổi chất và từ đó giảm quá trình sinh tinh .Do đó con gia súc bị stress nhiệt có thể kiệt sức và giảm hưng
phấn tình dục, giảm khả năng khai thác tinh (Mandal et al., 2000).
12
Vale (1997) cho rằng thời gian chiếu sáng là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng khả năng sinh sản và hoạt động tình dục của trâu đực. Ở các khu vực ôn
đới, tinh dịch gia súc có chất lượng tốt ở mùa đông và mùa xuân (Mohan and Sahni, 1990; Galli et al., 1993). Ở vùng nhiệt đới như Brazil, từ tháng giêng đến tháng sáu trâu có phẩm chất tinh dịch tốt nhất (Vale, 1994). Mandal et al.(2000) cho biết, hoạt lực tinh trùng trâu trong mùa xuân, mùa mưa tốt hơn trong mùa hè nóng ẩm. Koonjaenak (2007) thấy rằng, ảnh hưởng của mùa vụ trong năm ảnh hưởng tới dạng tinh trùng kỳ hình đầu quả lê.
Al Sahaf and Ibrahim (2012) cho biết, hoạt động sinh sản của trâu và phẩm chất tinh dịch tăng lên trong những tháng có nhiệt độ vừa và thấp, giảm trong những tháng có nhiệt độ cao. Sự gia tăng của nhiệt độ môi trường xung quanh trong những tháng nóng dẫn đến những xáo trộn trong hoạt động sinh
sản của trâu.
Tuy nhiên, Koonjaenak et al. (2007a) báo cáo rằng, mùa vụ không ảnh hưởng đến phẩm chất tinh dịch của trâu đầm lầy ở Thái Lan. Nguyên nhân có thể do các trâu thí nghiệm trong nghiên cứu này được quản lý, chăm sóc nuôi dưỡng cẩn thận trong một trung tâm sản xuất tinh do vậy đã hạn chế được ảnh hưởng
của các tác động stress nhiệt tới trâu đực.
2.3.4. Thức ăn
Thức ăn có vai trò đặc biệt quan trọng trong sinh trưỡng, phát triển và sinh sản của gia súc và là một trong những yếu tố quyết định đến phẩm chất tinh dịch của con đực (Chinnaiya and Ganguli, 1990; Dahiya et al., 2006). Thiếu hụt dinh dưỡng là một trong những nguyên nhân phổ biến nhất của việc suy giảm khả năng sinh sản gia súc như dậy thì muộn, giảm và mất tính hưng phấn sinh dục,
giảm chất lượng tinh dịch (Pant, 2002).
2.3.5. Quản lý, chăm sóc và khai thác tinh
13
Các yếu tố quản lý, chăm sóc, khai thác và sản xuất tinh đông lạnh cũng ảnh hưởng tới chất lượng tinh trâu (Chinnaiya and Ganguli, 1990; Dahiya and Singh, 2013). Việc phun nước làm mát cho trâu trong những tháng mùa hè nóng làm giữ ổn đinh chất lượng tinh dịch (Jainudeen et al., 1982; Pawan Singh et al., 2001). Kỹ thuật kích thích hưng phấn nhảy giá khai thác tinh ở trâu đực làm tăng nồng độ tinh trùng (Jainudeen et al., 1982). Nền khu vực khai thác tinh được trải đệm cao su sẽ có ảnh hưởng tốt hơn tới khả năng xuất tinh của gia súc so với nền đất sét và nền bê tông . Koonjaenak et al. (2007c) thấy rằng, ảnh hưởng của tần suất khai thác tinh ảnh hưởng đến các dạng kỳ hình kích thước đầu tinh trùng, kỳ
hình đuôi có mảng bám và đuôi cong và tuổi ảnh hưởng đến dạng tinh trùng kỳ
hình có giọt bào tương.
2.4. THỤ TINH NHÂN TẠO TRÂU BẰNG TINH ĐÔNG LẠNH Thụ tinh nhân tạo (TTNT) đã được sử dụng rộng rãi trên bò sữa và bò thịt với tỷ lệ thụ thai cao và ổn định nhưng đối với trâu, TTNT còn gặp nhiều khó khăn và có kết quả sinh sản chưa cao do ảnh hưởng của mùa vụ sinh sản, hiện tượng động dục ẩn, thời gian rụng trứng dài, tử cung nhỏ. Ngoài ra, tỷ lệ thụ thai thấp ở trâu còn do tỷ lệ chết phôi trong khoảng từ 24-40 ngày là rất cao từ 21- 50%). Vale (1997) và Cruz (1998) cho rằng hiệu quả TTNT trâu còn thấp do các yếu tố liên quan đến các yếu tố quản lý chăm sóc nuôi dưỡng, theo dõi phát hiện động dục và chất lượng tinh trâu sản xuất ra. Có thể sử dụng nhiều biện pháp kỹ thuật nhằm nâng cao hiệu quả TTNT ở trâu như đo điện trở âm đạo (Gupta, 1998; Gupta and Purohit, 2001). kiểm tra hàm lượng progesterone, siêu âm, sử dụng hormon sinh sản như GnRH, LH, FSH, progesterone, PGF2alpha hoặc đơn
giản hơn là dùng trâu đực thí tính để phát hiện trâu cái đông dục.
Theo Taraphder (2003) tỷ lệ thụ thai trung bình của trâu đạt 40,75% và dao động từ 22,66 – 54,54%. Tỷ lệ thụ thai của trâu Surti khi TTNT bằng tinh đông lạnh dao động từ 37,5 – 59,1% (Dhami and Kodagali, 1990; Dhami et al., 1994). Theo Gokhale and Bhagat (2000) tỷ lệ thụ thai trên các giống trâu ở Ấn Độ trung bình đạt 51,84%, tỷ lệ thụ thai tăng từ chu kỳ đầu (39,36%) đến chu kỳ
thứ 3 (56,25%) và sau đó giảm dần.
Kumaresan and Ansari (2001) cho rằng tỷ lệ thụ thai thay đổi tùy theo thời gian thục hiện TTNT, tác giả đã tiến hành TTNT cho trâu cái trong các khoảng thời gian từ 6-12 giờ, 12-18 giờ và 18-24 giờ sau khi động dục, tỷ lệ mang thai
lần lượt là 16,67%, 28,99% và 33,33%
Tỷ lệ thụ thai ở trâu đối với nhảy trực tiếp, TTNT bằng tinh lỏng và tinh đông lạnh đã có kết quả lần lượt là trên 60%, từ 35-60% và từ 25-45% (Jainudeen and Hafez, 1993c).
Ấn Độ đa sử dụng sản xuất tinh trâu đông lạnh phục vụ công tác TTNT trên đàn trâu từ năm 1955. Đến nay, tỷ lệ thụ thai khi sử dụng tinh đông lạnh trâu đạt tới 70-
80% và đã có hàng trăm ngàn trâu cái được TTNT (Bhattacharya, 1955; Vale, 2010).
14
Haranath et al. (1990) đánh giá hiệu quả TTNT giữa hai loại tinh trâu Murrah đông lạnh dạng cọng rạ 0,25 ml và 0,5 ml sử dụng môi trường pha loãng
gồm có lòng đỏ, tris và glycerol cho thấy tỷ lệ thụ thai đạt tương ứng là 52,7% và 50,4%. Tỷ lệ thụ thai của trâu Surti sau khi TTNT với tinh trâu đông lạnh sử dụng 3 loại môi trường có tris, citrate và lactose đạt lần lượt là 42,7%, 39,8%, 37,5% (Dhami and Kodagali, 1990). Dhami et al. (1994) công bố, tỷ lệ thụ thai của trâu Surti với tinh đông lạnh có môi trường gồm lòng đỏ, lactose và glycerol đạt tới tỷ lệ 59,1%. Trong một nghiên cứu khác của Dhami and Sahni (1994) nhằm so sánh các phương pháp cân bằng lạnh (làm mát) tinh trùng trâu Murrah khác nhau, kết quả cho thấy tỷ lệ thụ thai cao nhất đạt 68,1% đối với cho tinh dịch được cân bằng lạnh với tốc độ 0,20C/phút. El-Amrawi (1997) kiểm tra khả năng sinh sản của trâu với các phương pháp giải đông tinh khác nhau và cho biết, tỷ lệ thụ thai tốt nhất đạt 64,5% khi giải đông tinh trâu ở 350C trong 60 giây.
Bhosrekar and Ganguli (1976) nghiên cứu tinh dịch trâu đực Murrah có hoạt lực
ban đầu là 77-78%, pha loãng phối giống có tỷ lệ đậu thai 44,8%.
Việc cải thiện phương pháp đông lạnh hoặc phương pháp giải đông tinh trâu có thể cải thiện tỷ lệ thụ thai lên 65% (Dhami and Sahni, 1994; El-Amrawi, 1997). Theo Vale (1997), tỷ lệ thụ thai trên 50% được coi là tốt đối với kết quả TTNT bằng tinh đông lạnh. Thụ tinh kép trong thời gian động dục với khoảng cách thời gian từ 6-8 giờ góp phần tăng tỷ lệ thụ thai ở trâu (Rao and
Venkataramulu, 1994).
2.5. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC 2.5.1. Những nghiên cứu trong nước
Trâu Murrah ở Việt Nam được nhập trong giai đoạn 1970-1978 từ Trung Quốc và Ấn Độ, khối lượng trung bình của trâu đực đạt 570kg, trâu cái đạt 470kg (Nguyễn Đức Thạc và Nguyễn Văn Vực, 1984) nhưng tới nay chỉ còn một số ít nuôi tại Hà Nội, Thái Nguyên và Bình Dương. Hiện nay, ở nước ta những nghiên cứu về phẩm chất tinh dịch, kỹ thuật đông lạnh tinh và thụ tinh nhân tạo chủ yếu thực hiện trên bò sữa, bò thịt và đã mang lại những kết quả to lớn trong công tác phát triển chăn nuôi bò (Phùng Thế Hải, 2013). Con trâu chưa được quan tâm nghiên cứu nhiều, chỉ có một số ít công trình nghiên cứu về sinh sản của trâu, thụ
tinh nhân tạo cho trâu, lai tạo trâu, bảo tồn tinh lỏng và tinh đông viên...
15
Nguyễn Đức Thạc và cs. trong giai đoạn 1974 – 1985 đã nghiên cứu huấn luyện, khai thác và đánh giá chất lượng tinh trâu Murah. Lưu Kỷ (1979); Vũ Ngọc Tý và Lưu Kỷ (1979) đã thành công trong nghiên cứu đông lạnh tinh dịch
trâu trên mặt hơi ni tơ lỏng (tinh viên), hoạt lực sau giải đông đạt 30%, tỷ lệ thụ
thai khi phối TTNT đạt khoảng 50% khi phối kép.
Tác giả Cao Xuân Thìn (1987); Lê Viết Ly và Võ Sinh Huy (1982); Mai Văn Sánh(1996) nghiên cứu bảo tồn tinh trâu trong môi trường lỏng gồm: Citrat Natri, H2O, Glycacol, Trilon B, Tetracycline, lòng đỏ trứng gà và nước cất. Kết quả bảo tồn tinh trâu được 2 ngày, hoạt lực tinh trùng đạt 55,2-61%, tỷ lệ thụ thai
khi phối TTNT đạt 53,65%khi tiến hành phối kép.
Trung tâm giống trâu sữa Phùng Thượng (Ninh Bình) sản xuất tinh trâu lỏng trong giai đoạn 1976-1987 chủ yếu phục vụ tại chỗ, tỷ lệ phối giống đạt
khoảng 50%.
Trung tâm tinh đông viên Moncada (nay là trung tâm nghiên cứu và sản xuất tinh đông lạnh Moncada thuộc Trung tâm Giống gia súc lớn TW) từ năm 1981 – 1984 đã sản xuất tinh trâu đông lạnh dạng viên, số lượng khoảng 23.000 liều, số tinh trùng/viên là 35 triệu tinh trùng, hoạt lực sau giải đông đạt 30%, tỷ lệ
thụ thai khi phối TTNT đạt 40%.
Các tác giả Lê Việt Anh và cs. (1984), Nguyễn Hữu Trà và cs. (2001) nghiên cứu sản xuất tinh trâu đông lạnh Murrah dạng viên trong môi trường pha loãng đông lạnh của bò (Nagase) và môi trường Triladyl nhập của Đức. Hoạt lực sau giải đông đạt khoảng 35%, tỷ lệ thụ thai khi phối TTNT đạt khoảng 50% khi
phối kép.
Đỗ Kim Tuyên (1986) sử dụng môi trường pha loãng tổng hợp bảo quản tinh trâu lỏng ở 40C, sử dụng trong vòng 2 ngày. Môi trường pha loãng là Sodiumcitrate, pH= 6,75, tỷ lệ Glycerol 7%, lòng đỏ trứng gà 20%. Tỷ lệ thụ thai
đạt 63,7% khi phối kép.
Trịnh Thị Kim Thoa và cs. (2005) nghiên cứu sản xuất tinh trâu đông lạnh dạng viên, mỗi viên chứa hơn 40 triệu tinh trùng và có hoạt lực sau giải đông đạt 30,64%. Môi trường pha loãng gồm Superoxide dismutase, Tris, axit citric,
fructoza, lòng đỏ trứng gà, glycerol, penicillin, streptomycin và nước cất.
16
Theo Sharma và Đỗ Kim Tuyên (2006) trâu đực Murrah nuôi tại Bình Dương có thể tích tinh dịch dao động từ 3-5 ml, hoạt lực tinh trùng đạt 60- 70%. Tạ Văn Cần và cs. (2008) cho biết, trâu đực Murrah nuôi tại Thái Nguyên có thể tích tinh dịch dao động từ 2.35-3,51 ml, hoạt lực tinh trùng dao động từ 72,21-73,24%, nồng độ tinh trùng dao động từ 0,81-0,83 tỷ/ml, tổng
số tinh trùng tiến thẳng dao động từ 1,38-2,09 tỷ. Tinh đông viên có hoạt lực tinh trùng sau giải đông trên 30% và tổng số tinh trùng tiến thẳng đạt từ 12,0 đến 12,5 triệu được coi là đủ tiêu chuẩn để TTNT. Kết quả TTNT tinh đông viên cho đàn trâu cái địa phương có tỷ lệ thụ thai đạt 33,7%. Phối giống bằng tinh lỏng có tỷ lệ thụ thai đạt 39,1%. Khi cho trâu đực Murrah nhảy trực tiếp trâu cái nội, tỷ lệ thụ thai đạt 72,5%.
Vũ Đình Ngoan và cs. (2010) nghiên cứu trên trâu Murrah ở Thái Nguyên cho biết, tinh dịch trâu có màu trắng và trắng ngà, thể tích tinh dịch đạt 3,02 ml, hoạt lực tinh trùng đạt 73,67%, nồng độ tinh trùng đạt 0,947 tỷ/ml, tổng số tinh trùng tiến thẳng đạt 2,63 tỷ/lần khai thác, tỷ lệ kỳ hình là 9,73%, pH là 6,57.
Đinh Văn Cải và cs. (2010) cho biết, sử dụng tinh trâu Murrah đông lạnh dạng cọng rạ 0,25 ml phối TTNT cho trâu cái đạt tỷ lệ trâu có chửa trung bình cứ 3 lần phối là 34,84, hệ số phối 2,85. Tỷ lệ thụ thai khi phối đơn là 47,89%, thấp hơn so với phối kép (55,56%). Phối kép cho trâu 2 lần cách nhau 6-9 giờ tỷ lệ trâu có chửa đạt 66,67%, cao hơn phối kép cách nhau 10-13 giờ chỉ đạt 51,85%. Trong điều kiện chăn nuôi nhỏ nông hộ, người chăn nuôi không phát hiện đúng thời điểm bắt đầu trâu cái động dục thì có thể áp dụng kỹ thuật phối giống cho trâu cái trong khoảng thời gian từ 18-24 giờ kể từ khi phát hiện trâu cái có dấu hiệu động dục và sau 6-9 giờ phối lặp lại lần hai cho con trâu có biểu hiện động dục rõ sau khi phối lần một để đạt tỷ lệ có chửa cao.
Ở Việt Nam, các nghiên cứu về sản xuất tinh trâu đông lạnh nói chung và sản xuất tinh trâu dạng cộng rạ nói riêng chỉ dừng lại ở bước đầu xác định khả năng sản xuất tinh của một số ít trâu đực thực nghiệm, tinh đông lạnh sản xuất chưa được áp dụng đại trà mà chỉ được sử dụng trong phạm vi hẹp.
2.5.2. Những nghiên cứu ngoài nước
Nghiên cứu của Manik and Mudgal (1984) cho biết, trâu đực giống Murrah có thể tích tinh dịch bình quân đạt 3,25 ml/lần khai thác; nồng độ tinh trùng đạt 0,97 tỷ/ml đến 1,44 tỷ/ml; tỷ lệ tinh trùng kỳ hình dao động trong khoảng 4,60% đến 6,53%; tỷ lệ sống của tinh trùng dao động trong khoảng 72,94% đến 93,33%.
17
Nghiên cứu Bhakat et al. (2011) trên trâu đực giống Murrah tại Ấn Độ có độ tuổi từ 2,31-7,36 tuổi Thể tích tinh dịch bình quân là 2,58 ml/lần khai thác; hoạt lực tinh trùng 66,63 %; nồng độ tinh trùng 0,99 tỷ/ml; tỷ lệ tinh trùng kỳ hình là 11,1%.
Theo Tomar et al. (1966) cho biết tinh dịch trâu đực giống Murrah có pH dao động từ 6,8 đến 7,0; tỷ lệ tinh trùng sống ở mùa hè đạt 85,4%, mùa thu
đạt 85%, mùa đông đạt 82,4%, mùa xuân đạt 62,4%.
Theo Mandal et al. (2000) cho biết tinh dịch trâu đực giống Murrah có pH dao động từ 6,85 đến 6,97; nồng độ tinh trùng dao động từ 0,96 tỷ/ml đến 1,18 tỷ/ml; tỷ lệ tinh trùng kỳ hình chiếm 7,32% đến 14,21%; hoạt lực tinh trùng từ 63,86% đến 67,99%; tỷ lệ tinh trùng sống dao động từ 76,11% đến
83,08%.
Pawan Singh et al. (2001) công bố kết quả khi nghiên cứu 12 trâu đưc giống Murrah 40 tháng tuổi tại Ấn Độ cho biết thể tích tinh trùng đạt 4,26 ml; hoạt lực của tinh trùng trâu Murrah sau pha loãng là 70,83%; hoạt lực tinh trùng trước đông lạnh đạt 59,58% ; hoạt lực sau giải đông đạt 32,91%; tỷ lệ tinh trùng
sống đạt 88,09 %; nồng độ tinh trùng đạt 1,32 tỷ/ml.
Ramakrishnam et al. (1989) cho kết quả khi nghiên cứu 401 lần thu tinh trùng trâu Murrah như sau: thể tích tinh dịch 2,19 ml; hoạt lực tinh trùng đạt
71,52 %;tỷ lệ tinh trùng sống đạt 86,87 %; tỷ lệ tinh trùng kỳ hình chiếm 12,2 %.
Bhosrekar et al. (1991) khi nghiên cứu về tinh dịch trâu Murrah cho biết tỷ lệ sống của tinh trùng dao động trong khoảng 66% dến 89%; tỷ lệ kỳ hình của tinh trùng trâu Murrah từ 7,32% đến 14,21%; hoạt lực của tinh trùng
từ 63% đến 86%.
Theo Pant et al. (2002) khi nghiên cứu 133 trâu đực giống Murrah ở các giai đoạn tuổi 25-36 tháng tuổi; 37-48 tháng tuổi;49- 60 tháng tuổi và trên 60 tháng tuổi cho biết: Giai đoạn 25 – 36 tháng tuổi: thể tích tinh trùng đạt 2,5ml; nồng độ tinh trùng 1,67 tỷ/ml.Giai đoạn 37 – 48 tháng tuổi: thể tích tinh trùng đạt 3,1ml; nồng độ tinh trùng 1,49 tỷ/ml. Giai đoạn 49 – 60 tháng tuổi: thể tích tinh trùng đạt 3,5ml; nồng độ tinh trùng 1,47 tỷ/ml. Giai đoạn trên 60
tháng tuổi: thể tích tinh trùng đạt 3,6ml; nồng độ tinh trùng 1,66 tỷ/ml .
Kumar et al. (1993a) thấy rằng hoạt lực tinh trùng trâu Murrah ở Ấn Độ dao động từ 60,8-69% và có khoảng 30% số mẫu tinh trùng không di động nhưng sau khi pha loãng tinh trùng trở lại di động bình thường. Nồng độ tinh trùng dao
động từ 0,52-1,03 tỷ/ml.
Theo Capitan et al. (1990), tỷ lệ tinh trùng sống ở trâu Murrah đạt
18
77,77%, khi sử dụng GPF2 alpha tỷ lệ tinh trùng sống tăng lên 92,98%.
PHẦN 3. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. VẬT LIỆU, ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU
3.1.1. Vật liệu nghiên cứu
- Tinh dịch của 05 trâu đực giống Murrah, trâu được tuyển chọn từ giai
đoạn hậu bị (dưới 24 tháng tuổi) ở Trung tâm Nghiên cứu và Huấn luyện Chăn
nuôi gia súc lớn (Lai Hưng, Bến Cát, Bình Dương). Các trâu có ngoại hình đẹp,
khả năng sinh trưởng phát triển tốt, có độ tuổi và khối lượng khá đồng đều, thời
gian sinh trong năm 2010, khối lượng ở thời điểm bắt đầu đưa vào khai thác tinh
dao động từ 420kg đến 490kg.
- Đàn trâu cái địa phương là trâu Việt Nam (Swamp buffalo), khối lượng
từ 300kg đến 400kg, độ tuổi từ 5 năm tuổi đến 7 năm tuổi, có khả năng sinh sản
bình thường, đã đẻ được 1 lứa, sức khỏe tốt và chưa được phối giống.
3.1.2 Địa điểm nghiên cứu
- Các trâu đực Murrah sử dụng trong nghiên cứu này được chăm sóc nuôi
dưỡng và khai thác tinh tại Trạm Nghiên cứu và sản xuất tinh đông lạnh Moncada
(Tản Lĩnh, Ba Vì, Hà Nội) thuộc Trung tâm Giống gia súc lớn Trung ương.
- Đàn trâu cái sử dụng trong nghiên cứu này được lựa chọn tại các địa
phương có công tác TTNT trâu phát triển gồm: i) thị xã Bỉm Sơn và huyện Hà
Trung, tỉnh Thanh Hóa; ii) huyện Thanh Chương và huyện Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An.
3.1.3. Thời gian nghiên cứu
- Từ tháng 01/2015 đến tháng 04/2016.
- Đồng thời thu thập số liệu một số chỉ tiêu số lượng, chất lượng tinh dịch
và khả năng sản xuất tinh đông lạnh của trâu Murrah từ tháng 1/2013 đến tháng
12/2014 trong khuôn khổ đề tài cấp Bộ “Nghiên cứu sản xuất tinh trâu đông lạnh
cọng rạ phục vụ công tác cải tạo giống trâu Việt Nam” giai đoạn 2011-2014.
3.2. ĐIỀU KIỆN CHĂM SÓC NUÔI DƯỠNG
- Tất cả trâu đực giống sử dụng trong nghiên cứu này đều được chăm sóc,
19
nuôi dưỡng theo cùng quy trình kỹ thuật, được kiểm tra năng suất cá thể và đáp
ứng đầy đủ tiêu chí theo quy định của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
(Quyết định số 13/2007/QĐ-BNN ngày 09/02/2007 v/v Ban hành Quy định về
quản lý và sử dụng trâu đực giống; Quyết định số 2489/QĐ-BNN ngày
16/9/2010 v/v Phê duyệt các chỉ tiêu định mức kinh tế kỹ thuật chăn nuôi gia súc
gia cầm giống gốc).
- Mỗi cá thể trâu đực được nuôi trong một ô chuồng riêng với diện tích là 45m2, trong đó gồm 20m2 chuồng có mái che và 25m2 sân chơi không mái, có máng ăn và máng uống riêng cho từng con. Quản lý cá thể và phòng bệnh cho
đàn trâu được thực hiện nghiêm ngặt, kiểm tra thú y định kỳ 2 lần/năm. Trâu đực
giống trong nghiên cứu được cho ăn cùng chế độ dinh dưỡng tính sẵn cho từng
cá thể theo tiêu chuẩn cơ sở dựa trên tiêu chuẩn của Kearl (1982). Các loại thức
ăn thô được ăn tự do gồm có cỏ Alfalfa, cỏ pangola, cỏ ghinê và thức ăn tinh có
tỷ lệ protein không nhỏ hơn 16%, nước uống đầy đủ, ngoài ra còn bổ sung
khoáng bằng đá liếm.
- Đàn trâu cái trong nghiên cứu này được nuôi tại các nông hộ gia đình
có chuồng trại riêng, trâu được chăn thả vào ban ngày kết hợp bổ sung thức ăn
tại chuồng vào ban đêm theo quy trình kỹ thuật chăn nuôi trâu sinh sản kết
hợp cày kéo.
3.3. ĐIỀU KIỆN KHÍ HẬU KHU VỰC BA VÌ HÀ NỘI
Ba Vì là huyện thuộc vùng bán sơn địa, nằm về phía Tây Bắc thủ đô Hà
Nội. Địa hình của huyện thấp dần từ phía Tây Nam sang phía Đông Bắc. Về khí
hậu, Ba Vì nằm trong vùng đồng bằng sông Hồng chịu ảnh hưởng khí hậu nhiệt
đới gió mùa.
Thời tiết khí hậu khu vực Ba Vì được chia ra làm bốn mùa Xuân, Hạ, Thu,
Đông. Mùa Xuân từ tháng 1 đến tháng 3 hàng năm; mùa Hạ (hè) từ tháng 4 đến
tháng 6 hàng năm; mùa Thu từ tháng 7 đến tháng 9 hàng năm; mùa Đông từ
tháng 10 đến tháng 12 hàng năm.
- Số liệu quan trắc nhiệt độ và độ ẩm ngoài trời từ tháng 1 năm 2013 đến
tháng 4 năm 2016 được thu thập từ Trạm Khí Tượng Nông Nghiệp Ba Vì (Tản
20
Lĩnh, Ba Vì, Hà Nội).
Ẩm độ trung bình (%)
Mùa
Tháng
Mean
SD
Mean
SD
Xuân
1-3
89,33
6,39
17,96
4,53
Hạ
4-6
83,66
6,91
27,42
2,94
Thu
7-9
88,48
5,12
27,53
1,81
Đông
10-12
84,77
7,18
21,26
4,01
Bảng 3.1. Nhiệt độ và độ ẩm ở khu vực nghiên cứu theo từng mùa trong giai đoạn 2013-2016 Nhiệt độ trung bình (0C)
3.4. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 3.4.1. Ảnh hưởng của tuổi đến phẩm chất tinh dịch và khả năng sản xuất
tinh đông lạnh của trâu Murrah
- Ảnh hưởng của tuổi đến phẩm chất tinh dịch của trâu Murrah
Các chỉ tiêu nghiên cứu gồm: Thể tích tinh dịch (V - ml), hoạt lực tinh
trùng (A - %), nồng độ tinh trùng (C - tỷ/ml), tổng số tinh trùng sống tiến thẳng
(VAC - tỷ), pH, tỷ lệ tinh trùng kỳ hình (%) và tỷ lệ tinh trùng sống (%).
- Ảnh hưởng của lứa tuổi đến khả năng sản xuất tinh đông lạnh của
trâu Murrah
Các chỉ tiêu nghiên cứu gồm: Tỷ lệ các lần khai thác tinh đạt tiêu chuẩn
(%), một số chỉ tiêu số lượng, chất lượng tinh dịch đạt tiêu chuẩn (V, A, C, VAC,
pH, K, tỷ lệ tinh trùng sống), số lượng tinh đông lạnh dạng cọng rạ trên lần khai
thác tinh đạt tiêu chuẩn (cọng rạ) và hoạt lực tinh trùng sau giải đông (%).
3.4.2. Ảnh hưởng của mùa vụ đến phẩm chất tinh dịch và khả năng sản xuất
tinh đông lạnh của trâu Murrah
- Ảnh hưởng của mùa vụ đến một số đặc điểm số lượng, chất lượng tinh
dịch của trâu Murrah.
Các chỉ tiêu nghiên cứu gồm: Thể tích tinh dịch (V - ml), hoạt lực tinh
trùng (A - %), nồng độ tinh trùng (C - tỷ/ml), tổng số tinh trùng sống tiến thẳng
(VAC - tỷ), pH, tỷ lệ tinh trùng kỳ hình (%) và tỷ lệ tinh trùng sống (%).
- Ảnh hưởng của mùa vụ đến khả năng sản xuất tinh đông lạnh của
21
trâu Murrah.
Các chỉ tiêu nghiên cứu gồm: Tỷ lệ các lần khai thác tinh đạt tiêu chuẩn (%), một số chỉ tiêu số lượng, chất lượng tinh dịch đạt tiêu chuẩn (V, A, C, VAC, pH, K, tỷ lệ tinh trùng sống), số lượng tinh đông lạnh dạng cọng rạ trên lần khai
thác tinh đạt tiêu chuẩn (cọng rạ) và hoạt lực tinh trùng sau giải đông (%).
3.4.3. Tỷ lệ thụ thai ở lần phối đầu bằng tinh cọng rạ của trâu Murrah trên
đàn trâu cái địa phương.
3.5. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.5.1. Phương pháp nghiên cứu ảnh hưởng của tuổi đến phẩm chất tinh
dịch và khả năng sản xuất tinh đông lạnh của trâu Murrah
- Các lứa tuổi của trâu đực Murrah được chia ra làm 4 giai đoạn:
+ Giai đoạn từ 36 tháng tuổi trở xuống
+ Giai đoạn từ 37 tháng tuổi đến 48 tháng tuổi
+ Giai đoạn từ 49 tháng tuổi đến 60 tháng tuổi
+ Giai đoạn trên 60 tháng tuổi
- Để đánh giá ảnh hưởng của lứa tuổi đến một số chỉ tiêu số lượng, chất lượng tinh dịch và khả năng sản xuất tinh đông lạnh của trâu Murrah, mỗi cá thể trâu đực giống tiến hành lấy số liệu của 10 mẫu tinh dịch trong một giai đoạn tuổi (đồng thời trong một mùa vụ). Mỗi giai đoạn tuổi lấy tổng số 200 mẫu tinh dịch
của 5 trâu đực giống Murrah.
3.5.2. Phương pháp nghiên cứu ảnh hưởng của mùa vụ đến phẩm chất tinh
dịch và khả năng sản xuất tinh đông lạnh của trâu Murrah
- Mùa vụ trong năm được chia ra làm 4 mùa:
+ Mùa xuân từ tháng 1 đến tháng 3 hàng năm
+ Mùa hạ từ tháng 4 đến tháng 6 hàng năm
+ Mùa thu từ tháng 7 đến tháng 9 hàng năm
+ Mùa đông từ tháng 10 đến tháng 12 hàng năm
- Để đánh giá ảnh hưởng của mùa vụ đến một số chỉ tiêu số lượng, chất lượng tinh dịch và khả năng sản xuất tinh đông lạnh của trâu Murrah, mỗi cá thể trâu đực giống tiến hành lấy số liệu của 10 mẫu tinh dịch trong một mùa vụ (đồng thời trong một giai đoạn tuổi). Mỗi mùa vụ lấy tổng số 200 mẫu tinh dịch
22
của 5 trâu đực giống Murrah.
* Phương pháp khai thác tinh dịch
- Thời gian khai thác tinh: từ 7 giờ đến 8 giờ (buổi sáng)
- Tần suất khai thác tinh dịch: 2 lần/tuần
- Chuẩn bị âm đạo giả: Các bộ phận của âm đạo giả, đã được khử trùng rồi
lắp ráp và bảo quản trong tủ ấm 420C trước khi lấy tinh.
- Chuẩn bị trâu đực: Những trâu đực đến ngày khai thác tinh được tắm sạch sẽ và thụt rửa bao dương vật trước khi khai thác tinh 30 phút bằng nước
muối sinh lý 0,9%.
- Chuẩn bị trâu giá: Chọn trâu giá thích hợp, vệ sinh cơ thể trâu sạch sẽ và
cho vào giá.
- Lấy tinh: Kích thích cho trâu đực giống hưng phấn sinh dục, rồi cho
nhảy trâu giá và lấy tinh bằng âm đạo giả.
- Mẫu tinh dịch khai thác được đưa ngay vào phòng thí nghiệm và đặt trong bể nước ấm 350C để kiểm tra các chỉ tiêu số lượng, chất lượng tinh dịch sau đó đưa những mẫu tinh dịch đạt tiêu chuẩn vào sản xuất tinh đông lạnh dạng
cọng rạ.
* Phương pháp xác định một số chỉ tiêu số lượng, chất lượng tinh dịch trâu Murrah
- Thể tích tinh dịch: Xác định bằng cách quan sát trên ống nhựa có chia
vạch khắc ml.
- Hoạt lực tinh trùng: Dùng micropipét hút 0,01 ml tinh dịch + 0,09 ml dung dịch A (môi trường pha loãng tinh dịch không có glycerol) rồi nhỏ lên phiến kính chuyên dụng và được giữ ấm ở nhiệt độ 380C, đậy la men rồi đưa lên kính hiển vi phản pha có có gắn camera phóng đại 100 lần có kết nối với màn hình. Hoạt lực tinh trùng được đánh giá bởi 03 chuyên gia độc lập, giá trị hoạt lực là giá trị trung bình của các chuyên gia đánh giá (Jainudeen et al., 1982; Beheshti et al., 2011). Hoạt lực tinh trùng được kiểm tra ngay sau khi khai thác tinh dịch.
- Nồng độ tinh trùng: Dùng micropipét hút 0,02ml tinh dịch pha loãng trong 4ml nước muối sinh lý 0,9%, lắc nhẹ cho đều và đưa vào máy Photometer SDM5
(Minitub, Đức). Chỉ số hiện trên máy là nồng độ tinh trùng (tỷ/ml).
- Tổng số tinh trùng sống tiến thẳng: Xác định bằng tích của lượng xuất
23
tinh, hoạt lực tinh trùng và nồng độ tinh trùng (VAC = VxAxC).
- pH tinh dịch: Xác định bằng máy đo pH (Minitub, Đức).
- Tỷ lệ tinh trùng kỳ hình: Sử dụng Fucsin 5% nhuộm tinh trùng từ 5 đến 7 phút, phết lam kính và soi trên kính hiển vi có độ phóng đại 400 lần. Đếm số lượng tinh trùng kỳ hình và không kỳ hình, tổng số 500 tinh trùng, rồi tính toán
theo công thức sau:
Số lượng tinh trùng kỳ hình K (%) = x 100 500
- Tỷ lệ tinh trùng sống (%): Xác định theo phương pháp của Blom (1950), nhỏ 1 giọt tinh dịch lên lam kính lõm và 2 giọt Eosin 5%, đảo nhẹ, sau đó nhỏ 4 giọt Nigrosin 10%, đảo nhẹ, để ấm 370C trong 30 giây. Lấy 1 giọt tinh dịch đã nhuộm phết kính dàn mỏng đều đưa lên kính hiển vi với độ phóng đại 400 lần. Đếm tổng số 500 tinh trùng gồm cả tinh trùng sống và tinh trùng chết (tinh trùng chết là những tinh trùng bắt màu đỏ Eosin). Tính tỷ lệ tinh trùng sống theo công
thức sau:
Số lượng tinh trùng sống Tỷ lệ tinh trùng sống (%) = x 100 500
* Phương pháp đánh giá khả năng sản xuất tinh đông lạnh của trâu Murrah a) Quy trình sản xuất tinh trâu đông lạnh dạng cọng rạ
- Tiêu chuẩn số lượng, chất lượng tinh dịch đưa vào sản xuất tinh đông
lạnh dạng cọng rạ: Các lần khai thác tinh đưa vào sản xuất tinh đông lạnh cần
phải đạt tiêu chuẩn gồm: hoạt lực tinh trùng không nhỏ hơn 70%, nồng độ tinh
trùng không nhỏ hơn 0,6 tỷ/ml, tỷ lệ tinh trùng kỳ hình không lớn hơn 20%, tỷ lệ
tinh trùng sống không nhỏ hơn 70% (Herdis et al., 1999; Vale, 2010; Ansari et
al., 2011, Swelum et al., 2011, El Kon, 2011)
- Pha môi trường: Sử dụng môi trường gồm có Tris, axit Citric, Fructose,
Lactose, Raffinose, Penicillin G, Streptomycin, glycerin, lòng đỏ trứng gà. Các
môi trường được pha làm 2 loại dung dịch, dung dịch A không có glycerin, dung
dịch B gồm dung dịch A và glycerin theo tỷ lệ của từng môi trường (theo quy
24
trình kỹ thuật của cơ sở). Bảo quản môi trường trong tủ bảo quản có nhiệt độ 50C. Trước khi sử dụng, môi trường được lấy ra và đặt trong Autobath có nhiệt độ 350C để cân bằng nhiệt độ với nhiệt độ tinh dịch
- In nhãn mác lên vỏ cọng rạ bằng máy in chuyên dùng (Linx 4900) với
các chỉ số:
+ VN: là mã nước Việt Nam.
+ MR 3095: là trâu đực giống Murrah số hiệu 3095.
+ NSX: là ngày sản xuất tinh 25/08/2015.
+ VINALICA: là thương hiệu Trung tâm giống gia súc lớn Trung ương.
- Pha loãng tinh dịch: Sử dụng các dung dịch A và B của môi trường pha loãng tinh dịch sao cho nồng độ tinh trùng đạt 0,12 tỷ/ml tương đương 30
triệu/cọng rạ 0,25ml (Ansari et al., 2011).
- Làm mát và cân bằng glycerol: Giảm nhiệt độ tinh dịch xuống 400C trong 2h và tiếp tục cân bằng ở 400C trong 4h (Shukla and Misra, 2007; Akhter et al., 2011; Beheshti et al., 2011; El-Kon, 2011; Sadeg et al., 2011; Ansari et
al., 2011).
- Đóng gói tinh dịch: Sử dụng máy nạp hàn cọng rạ (hãng Minitub, Đức)
để nạp tinh dịch vào cọng rạ 0,25ml (hãng IMV, Pháp).
- Bảo quản: Tinh cọng rạ đạt tiêu chuẩn thì được đóng vào ống 25 cọng rạ/ống và sắp vào cóng đựng tinh theo từng đực giống, từng ngày sản xuất (có ghi sơ đồ quản lý từng ngày sản xuất và của từng đực giống) và bảo quản trong bình chuyên dụng chứa đầy nitơ lỏng (-1960C).
b) Phương pháp xác định các chỉ tiêu nghiên cứu
- Tỷ lệ các lần khai thác tinh đạt tiêu chuẩn ở từng chỉ tiêu số lượng, chất
lượng tinh dịch được tính toán theo phép tính số học thông thường:
Số lần khai thác tinh ĐTC Tỷ lệ ĐTC (%) = x 100 Tổng số lần khai thác tinh
- Các chỉ tiêu số lượng, chất lượng tinh dịch đạt tiêu chuẩn (V, A, C,
25
VAC, pH, K, tỷ lệ tinh trùng sống), số lượng tinh đông lạnh dạng cọng rạ trên
lần khai thác tinh đạt tiêu chuẩn (cọng rạ) được tính toán bằng phép tính số
học thường quy sau khi đưa mẫu tinh dịch trâu đạt tiêu chuẩn vào sản xuất tinh
đông lạnh.
- Hoạt lực tinh trùng sau giải đông (%) được xác định sau khi bảo quản tinh
đông lạnh 24 giờ, kiểm tra ngẫu nhiên 1 cọng rạ của từng lô tinh cọng rạ của từng
lần khai thác tinh đạt tiêu chuẩn của từng trâu đực, giải đông ở nhiệt độ 37°C trong
30 giây, kiểm tra hoạt lực tinh trùng trên kính hiển vi phản pha có màn hình nếu hoạt
lực A 40% thì đạt tiêu chuẩn.
3.5.3. Phương pháp đánh giá tỷ lệ thụ thai ở lần phối đầu bằng tinh đông
lạnh cọng rạ của từng trâu Murrah trên đàn trâu cái địa phương
- Xác định tỷ lệ thụ thai ở lần phối đầu bằng tinh đông lạnh cọng rạ của
từng trâu Murrah với đàn trâu cái địa phương cụ thể như sau:
+ Tinh cọng rạ của 6 trâu Murrah được lấy ngẫu nhiên ở các lô sản xuất
trong các bình nitơ bảo quản tinh đông lạnh. Tinh cọng rạ đảm bảo tiêu chuẩn
hoạt lực tinh trùng sau giải đông không nhỏ hơn 40%. Mỗi trâu đực sử dụng tối
thiểu 50 cọng rạ đạt tiêu chuẩn để phối TTNT với tối thiểu 50 trâu cái địa
phương, tổng cộng sử dụng 260 cọng rạ tinh trâu đông lạnh phối TTNT cho 260
trâu cái.
+ Dẫn tinh viên là người đã và đang làm công tác TTNT tại cơ sở đều
được đào tạo cơ bản và có ít nhất 5 năm kinh nghiệm.
+ Chọn trâu cái nền: Tiến hành chọn lựa 260 trâu cái địa phương từ 5 đến
7 năm tuổi, sinh sản bình thường, đã đẻ được một lứa, sức khỏe tốt, khối lượng từ
300kg đến 400kg.
+ Theo dõi trâu cái động dục và phối giống: Theo dõi trâu cái động dục
bằng các biện pháp thông thường là quan sát niêm dịch và niêm mạc âm đạo vào
ban đêm, buổi sáng và những biểu hiện nhảy nhau, bỏ ăn, theo đực khác, âm hộ
căng mòng, niêm dịch tiết nhiều, niêm mạc âm đạo xung huyết... Trâu cái động
dục được phối giống TTNT với tinh đông lạnh dạng cọng rạ của các trâu Murrah.
+ Quản lý trâu thí nghiệm: Tất cả các trâu cái sinh sản được đánh số, có sổ
theo dõi từng khu vực. Khi trâu cái động dục được phối giống và giữ tại nhà đến
26
khi hết động dục mới cho đi chăn thả.
+ Thời gian thực hiện phối giống TTNT: Thời gian phối giống TTNT trong khoảng từ tháng 9 đến tháng 2 hàng năm. (Mai Văn Sánh, 1996; Mai Thị
Thơm và Mai Văn Sánh, 2004; Nguyễn Văn Thanh, 2005)
- Xác định trâu có chửa và tỷ lệ thụ thai ở lần phối đầu: Sử dụng phương pháp khám thai qua trực tràng sau khi phối 90 ngày để xác định trâu cái có chửa.
Tỷ lệ thụ thai ở lần phối đầu tính theo công thức:
Số trâu cái có chửa Tỷ lệ thụ thai ở lần phối đầu (%) = x 100 Tổng số trâu cái phối lần một
3.6. XỬ LÝ SỐ LIỆU
- Sử dụng phần mềm Microsoft Excel 2007 (Microsoft, Redmond, WA) để
xử lý sơ bộ các số liệu thu thập được. Trong quá trình xử lý số liệu một số chỉ
tiêu số lượng và chất lượng tinh dịch trâu Murrah, tiến hành loại bỏ những số liệu
đặc biệt (quá cao hoặc quá thấp). Các số liệu có bản chất là phần trăm như hoạt
lực tinh trùng, tỷ lệ tinh trùng kỳ hình, tỷ lệ tinh trùng sống được chuyển dạng số
liệu theo công thức: y = asin[sqrt(x/100)] trước khi đưa vào xử lý thống kê. Sau
khi tính toán xong, giá trị trung bình (Mean) và độ lệch chuẩn (SD - Standard
Deviation) của các chỉ tiêu này được chuyển dạng trở lại công thức x = [sin(y)]2x100 (Nguyễn Văn Đức và Lê Thanh Hải, 2002).
- Các số liệu về số lượng, chất lượng tinh dịch trâu (Thể tích tinh dịch,
hoạt lực tinh trùng, nồng độ tinh trùng, tổng số tinh trùng sống tiến thẳng, pH, tỷ
lệ tinh trùng kỳ hình, tỷ lệ tinh trùng sống), số lượng cọng rạ sản xuất, số lượng
cọng rạ đạt tiêu chuẩn, chất lượng tinh đông lạnh (hoạt lực tinh trùng sau giải
đông, tỷ lệ tinh trùng sống sau giải đông, tỷ lệ tinh trùng kỳ hình sau giải đông)
được phân tích phương sai (ANOVA) một nhân tố, sử dụng phương pháp kiểm
tra Tukey trong phần mềm Minitab (Version 14; Minitab Inc., State College, PA)
nhằm đánh giá sự sai khác giá trị trung bình của các chỉ tiêu theo từng lứa tuổi và
theo từng mùa vụ trong năm (P<0,05).
- Các số liệu tỷ lệ các lần khai thác tinh đạt tiêu chuẩn, tỷ lệ các lần sản xuất
tinh cọng rạ đạt tiêu chuẩn theo từng lứa tuổi và theo từng mùa vụ, tỷ lệ thụ thai
của từng cá thể trâu đực giống được so sánh theo phương pháp Chi-square, sử
27
dụng bảng tương liên (2x2), kiểm định chính xác theo Fisher (P<0,05).
- Các mô hình phân tích:
Mô hình phân tích phương sai một nhân tố:
y
a
ij
i
e ij
Trong đó:
+ yij là giá trị quan sát của các chỉ tiêu theo dõi
+ µ là trung bình chung
e)
28
+ ai là ảnh hưởng của yếu tố thứ i + eij là sai số dư thừa ngẫu nhiên với giả thiết N (0,σ2
PHẦN 4. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1. ẢNH HƯỞNG CỦA TUỔI ĐẾN PHẨM CHẤT TINH DỊCH VÀ KHẢ NĂNG SẢN XUẤT TINH ĐÔNG LẠNH CỦA TRÂU MURRAH 4.1.1. Ảnh hưởng của tuổi đến phẩm chất tinh dịch của trâu murrah
4.1.1.1 Ảnh hưởng của tuổi đến thể tích tinh dịch
Thể tích tinh dịch (V - ml) là lượng tinh dịch thu được trong một lần khai thác tinh (ml/lần) của mỗi trâu đực giống Murrah. Chỉ số này có ý nghĩa quan trọng khi kết hợp với nồng độ tinh trùng (C) và hoạt lực tinh trùng (A), giúp đánh giá khả năng sản xuất tinh của trâu đực giống, cũng như tính được tổng số tinh trùng tiến thẳng/ lần khai thác tinh, từ đó cho phép xác định được số liều tinh cọng rạ sản xuất được và lượng môi trường pha loãng cần thiết của lần lấy tinh đó. Thể tích tinh dịch chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố như giống, lứa tuổi, chế độ chăm sóc nuôi dưỡng, quản lý... và liên quan chặt chẽ với các chỉ tiêu khác của tinh dịch, từ đó xác định được lượng môi trường và số liều tinh sẽ sản xuất trong lần khai thác tinh đó và có thể xác định được nguyên nhân ảnh hưởng đến thể tích tinh dịch
nhằm đạt hiệu quả cao nhất trong sản xuất.
Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của lứa tuổi đến thể tích tinh dịch của trâu đực giống Murrah nuôi tại Trạm Nghiên cứu và Sản xuất tinh đông lạnh
Moncada được thể hiện qua bảng 4.1.
29
Qua bảng 4.1 cho thấy, thể tích tinh dịch của trâu Murrah ở các lứa tuổi lần lượt: Từ 36 tháng tuổi trở xuống là thấp nhất (2,07ml), tiếp đến giai đoạn từ 37 đến 48 tháng tuổi (2,73ml), trên 60 tháng tuổi (3,61ml), và cao nhất giai đoạn từ 49 đến 60 tháng tuổi (4,07ml). (P<0,05). Ta thấy Trâu Murrah có mối tương quan mạnh mẽ giữa tuổi tác, chu vi dịch hoàn và khối lượng cơ thể (Suryaprakasam et al., 1993;). Chu vi dịch hoàn tăng nhanh từ 3,5 - 4,5 tuổi và sau đó tăng trưởng chậm lại, thể tích tinh dịch và nồng độ tinh trùng tăng tuyến tính đến 6 năm tuổi và sau đó có xu hướng giảm đi (Suryaprakasam et al., 1993). Mức độ testosterone huyết thanh của trâu có mối tương quan thuận với chu vi dịch hoàn và lượng xuất tinh Đây là lí do ham muốn tình dục của con đực trưởng thành cao hơn so với con đực già hay trẻ (Younis et al., 2003). Điều này phù hợp với công bố của nhiều tác giả đã khẳng định rằng tinh dịch trâu Murrah có chất lượng tốt nhất trong giai đoạn từ 3-5 tuổi (Chinnaiya and Ganguli, 1990; Kumar et al., 1993; Singh et al., 2004).
n= 05 trâu đực giống
Từ 36 tháng tuổi
Từ 37 tháng tuổi
Từ 49 tháng tuổi
Trên 60
Lứa tuổi
trở xuống
đến 48 tháng tuổi
đến 60 tháng tuổi
tháng tuổi
Chỉ tiêu
Mean
SE
Mean
SE
Mean
SE
Mean
SE
Số lần khai
thác tinh (lần)
200
2,07c
0,02
2,73bc
0,02
4,07a
0,02
3,61b
0,02
Thể tích tinh dịch (ml)
200
70,46c
0,01
73,59b
0,01
77,43a
0,01
76,14ab
0,01
Hoạt lực tinh trùng (%)
Nồng độ tinh trùng
200
0,77b
0,01
0,91ab
0,01
1,14a
0,01
1,05a
0,01
(tỷ/ml)
Tổng số tinh trùng tiến
200
1,15b
0,03
1,85b
0,03
3,59a
0,03
2,87ab
0,03
thẳng (tỷ/lần khai thác)
200
6,78
0,01
6,81
0,01
6.83
0,01
6.76
0,01
pH
200
15,59a
0,01
13,59b
0,01
10,45c
0,01
11,43c
0,01
Tỷ lệ tinh trùng kỳ hình (%)
200
77,55c
0,01
80,51b
0,01
88,76a
0,01
86,88a
0,01
Tỷ lệ tinh sống (%)
Ghi chú: Trong cùng một hàng, các giá trị trung bình có chữ cái khác nhau là sai khác có ý nghĩa thống kê (P<0,05)
30
Bảng 4.1 Ảnh hưởng của tuổi đến phẩm chất tinh dịch của trâu Murrah
Một số nghiên cứu có kết quả khác. Theo Pant et al. (2002) khi nghiên cứu 133 trâu đực giống Murrah ở các giai đoạn tuổi 25-36 tháng tuổi; 37-48 tháng tuổi;49- 60 tháng tuổi và trên 60 tháng tuổi cho biết: Giai đoạn 25 – 36 tháng tuổi: thể tích tinh dịch đạt 2,5ml, giai đoạn 37 – 48 tháng tuổi: thể tích tinh dịch đạt 3,1ml, giai đoạn 49 – 60 tháng tuổi: thể tích tinh dịch đạt 3,5ml, giai đoạn trên 60 tháng tuổi: thể tích tinh dịch đạt 3,6ml.
Pawan Singh et al. (2001) công bố kết quả khi nghiên cứu 12 trâu đưc
giống Murrah 40 tháng tuổi tại Ấn Độ cho biết thể tích tinh dịch đạt 4,26 ml.
Nguyên nhân có sự khác biệt về thể tích tinh dịch có ở trong các báo cáo có thể do sự khác nhau về điều kiện nghiên cứu như khí hậu, thời tiết, điều kiện, chăm sóc nuôi dưỡng.... Nhưng nhìn chung thể tích tinh dịch cao nhất vẫn trong giai đoạn từ 3-5 tuổi.
4.1.1.2. Ảnh hưởng của tuổi đến hoạt lực tinh trùng của trâu Murrah
Hoạt lực tinh trùng thể hiện số lượng tinh trùng hoạt động tiến thẳng trong tinh dịch và được đánh giá ước tính tỷ lệ phần trăm thông qua việc quan sát mức độ chuyển động của tinh trùng trên kính hiển vi phản pha có gắn với màn hình (Agnieszka et al., 2012). Hoạt lực tinh trùng là chỉ tiêu rất quan trọng trong việc đánh giá chất lượng tinh dịch vì nó có tương quan chặt chẽ với các chỉ tiêu số lượng, chất lượng khác của tinh dịch (Shelke and Dhami, 2001; Shukla and Misra, 2005). Hoạt lực tinh trùng cũng chịu ảnh hưởng bởi rất nhiều yếu tố nội tại, ngoại cảnh như giống, cá thể, mùa vụ, chăm sóc nuôi dưỡng, kỹ thuật khai
thác, đánh giá chất lượng tinh dịch
31
Kết quả đánh giá Ảnh hưởng của lứa tuổi đến hoạt lực tinh trùng của trâu Murrah cho thấy, trong tất cả các lần khai thác tinh, hoạt lực tinh trùng ở các giai đoạn tuổi có sự ảnh hưởng cụ thể : giai đoạn từ 49 – 60 tháng tuổi hoạt lực là cao nhất đạt 77,43%, trên 60 tháng tuổi đạt 76,14%, giai đoạn từ 37 – 48 tháng tuổi đạt 73,59%, và giai đoạn từ 36 tháng tuổi trở xuống hoạt lực là thấp nhất đạt 70,46%. Kết quả phù hợp với kết quả nghiên cứu của Nordin et al. (1990) trên trâu đầm lầy ở Malaysia cho thấy, hoạt lực tinh trùng có sự khác nhau giữa các độ tuổi. Koonjaenak et al. (2007a) và Nair et al. (2012) công bố kết quả tương tự ở trâu đực trưởng thành. Pawan Singh et al. (2001) công bố kết quả khi nghiên cứu 12 trâu đưc giống Murrah 40 tháng tuổỉ hoạt lực của tinh trùng trâu Murrah sau pha loãng là 70,83%, Nghiên cứu Bhakat et al. (2011) trên trâu đực giống Murrah tại Ấn Độ có độ tuổi từ 2,31-7,36 tuổi hoạt lực tinh trùng 66,63 %, Trâu
Murrah nuôi ở Ngọc thanh, Vĩnh Phú được huấn luyện lấy tinh lúc 24 tháng tuổi đến 34 tháng tuổi phẩm chất tinh dịch ổn định với hoạt lực tinh trùng đạt 71,7%. Kế quả của chúng tôi cao hơn kết quả của Bhakat et al. (2011) và của Pawan Singh et al. (2001) công bố. Nguyên nhân có thể do có sự khác nhau về điều
kiện nghiên cứu như chăm sóc, nuôi dưỡng, quản lý …
4.1.1.3. Ảnh hưởng của lứa tuổi đến nồng độ tinh trùng
Nồng độ tinh trùng được tính là số lượng tinh trùng có trong một mililit tinh dịch. Việc sử dụng máy đo quang phổ để đo nồng độ tinh trùng đã mang lại độ chính xác cao hơn, thời gian nhanh và giảm được lỗi kỹ thuật do con người so với các phương pháp sử dụng buồng đếm hồng cầu, buồng đếm Neubauer hoặc buồng đếm Makler (Anzar et al., 2009; Atiq et al., 2011). Cũng như các chỉ tiêu số lượng, chất lượng khác của tinh dịch, nồng độ tinh trùng của gia súc cũng chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố khác nhau như giống, mùa vụ, lứa tuổi …. (Javed et al., 2000; Phùng Thế Hải, 2013, Lê Bá Quế, 2013). Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của lứa tuổi đến nồng động tinh trùng của các trâu Murah được thể hiện ở
bảng 4.1.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, nồng độ tinh trùng đạt cao nhất ở giai đoạn tuổi từ 49 – 60 tháng tuổi(1,14 tỷ/ml), tiếp theo các giai đoạn trên 60 tháng tuổi, giai đoạn từ 37 – 48 tháng tuổi, lần lượt là 1,05 tỷ /ml, 0,91 tỷ/ml và thấp nhất là giai đoạn từ 36 tháng tuổi trở xuống đạt 0,77 tỷ/ml (P<0,05). Kết quả của chúng tôi tương đương với tác giả Bhakat et al. (2011) cũng nghiên cứu ở Ấn Độ đã công bố trâu Murrah từ 2,31 đến 7,36 năm tuổi có nồng độ tinh trùng dao động từ 0,85
tỷ/ml đến 1,13 tỷ/ml, trung bình đạt 0,99 tỷ/ml.
Nordin et al. (1985) cho biết, trâu đầm lầy từ 30 đến 72 tháng tuổi, nồng độ tinh trùng 1,13 tỷ/ml, kết quả này tương đương với nghiên cứu của Jainudeen et al. (1982) trên trâu đầm lầy ở Malaysia từ 2 đến 6 năm tuổi, nồng độ tinh trùng
đạt 1,06 tỷ/ml.
32
Kết quả của chúng tôi khác với kết quả nghiên cứu của một số tác giả Theo Pant et al. (2002) khi nghiên cứu 133 trâu đực giống Murrah ở các giai đoạn tuổi đã công bố trâu Murrah ở giai đoạn 25-36 tháng tuổi nồng độ tinh trùng đạt 1,67 tỷ/ml, ở giai đoạn 37-48 tháng tuổi nồng độ tinh trùng đạt 1,49 tỷ/ml, ở giai đoạn 49- 60 tháng tuổi nồng độ tinh trùng đạt 1,47 tỷ/ml và trên 60 tháng tuổi nồng độ tinh trùng đạt 1,66 tỷ/ml. Pawan Singh et al. (2001) công bố kết quả khi nghiên cứu 12 trâu đưc giống Murrah 40 tháng tuổi tại Ấn Độ cho biết
nồng độ tinh trùng đạt 1,32 tỷ/ml. Trâu Murrah nuôi ở Ngọc thanh, Vĩnh Phú được huấn luyện lấy tinh lúc 24 tháng tuổi đến 34 tháng tuổi phẩm chất tinh dịnh với nồng độ tinh trùng đạt 1,1 tỷ/ml. Nguyên nhân có thể do ảnh hưởng của thức ăn, nuôi dưỡng …. đến các kết quả nghiên cứu, do vậy có sự khác nhau giữa các
công bố của các tác giả.
4.1.1.4. Ảnh hưởng tuổi đến tổng số tinh trùng tiến thẳng trong tinh dịch của trâu Murrah
Tổng số tinh trùng sống tiến thẳng là chỉ tiêu tổng hợp của 3 chỉ tiêu lượng xuất tinh, hoạt lực tinh trùng và nồng độ tinh trùng (V x A x C). Qua chỉ tiêu tổng số tinh trùng sống tiến thẳng có thể đánh giá được số lượng tinh đông lạnh sản xuất của gia súc (Phùng Thế Hải, 2013; Lê Bá Quế, 2013). Kết quả nghiên cứu tổng số tinh
trùng tiến thẳng của trâu Murah ở các giai đoạn tuổi được thể hiện qua bảng 4.1.
Tổng số tinh trùng tiến thẳng ở giai đoạn từ 36 tháng tuổi trở xuống là thấp nhất 1,15 tỷ/lần khai thác, tiếp đến giai đoạn 37 -48 tháng tuổi đạt 1,85 tỷ/lần khai thác, trên 60 tháng tuổi là 2,87 tỷ/lần khai thác, và cao nhất giai đoạn từ 49 đến 60 tháng tuổi đạt 3,59 tỷ/lần khai thác.(P<0,05) Giữa các giai đoạn tuổi của trâu Murah có sự khác nhau về tổng số tinh trùng tiến thẳng là do các chỉ tiêu lượng xuất tinh, hoạt lực tinh trùng và nồng độ tinh trùng của từng giai đoạn tuổi có
sự khác nhau (P<0,05).
Tác giả Vũ Đình Ngoan và cs. (2010) nghiên cứu trên trâu Murrah ở Việt Nam cho biết, tổng số tinh trùng tiến thẳng đạt 2,36 tỷ/lần khai thác. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cao hơn có thể do có sự khác nhau điều kiện chăm sóc
nuôi dưỡng … các đối tượng nghiên cứu.
4.1.1.5. Ảnh hưởng của lứa tuổi đến pH
PH của tinh dịch do nồng độ ion H+ quyết định, nếu nồng độ H+ cao tinh dịch có tính toan và ngược lại pH sẽ có tính kiềm. Độ pH tinh dịch có liên quan đến nồng độ tinh trùng (Sajjad et al., 2007), hoạt lực tinh trùng (Settergren, 1994)
và tỷ lệ thụ thai trên con cái (Anderson, 1952).
33
Qua bảng 4.1 cho ta thấy, pH ở giai đoạn tuổi trên 60 tháng tuổi là thấp nhất (6,76), tiếp đến là giai đoạn từ 36 tháng tuổi trở xuống(6,78), Ở giai đoạn 37 – 48 Tháng tuổi pH đạt 6,81, giai đoạn từ 49 đến 60 tháng tuổi pH đạt 6,83. Tuy nhiên sự sai khác này không có ý nghĩa thống kê (P >0,05). Kết quả này là phù hợp với kết quả của một số tác giải nghiên cứu về trâu đầm lầy và trâu sông trên thế giới. Singh and Sadhu (1973) thông báo, pH tinh dịch trâu Murrah dao
động từ 6,4 đến 6,9 và có thể lên đến 7. Herdis et al. (1999) cho biết, trâu Indonesia có pH tinh dịch đạt 6,83. Trịnh Thị Kim Thoa (2006) thấy rằng, trâu nội có pH đạt 6,87. Theo Alavi-Shoushtari and Babazadeh-Habashi (2006), pH tinh dịch trâu Azarbaijani là 6,97. Như vậy pH tinh dịch của bò đực Murrah nuôi tại Trạm Nghiên cứu và sản xuất tinh đông lạnh Moncada tương đối ổn định, không bị ảnh hưởng bởi các giai đoạn tuổi.
4.1.1.6. Ảnh hưởng của lứa tuổi đến tỷ lệ tinh trùng kỳ hình của trâu Murrah
Trong quá trình sinh tinh hoặc đông lạnh tinh trùng, hình thái của tinh trùng có thể bị biến dạng khác thường như đầu biến dạng, hình quả lê, chỉ có đầu, đầu không hoàn thiện, đuôi cuộn quanh đầu, cuộn đuôi, cong đuôi, gấp đuôi, đuôi ngắn, cổ biến dạng, acrosom biến dạng, giọt bào tương gần tâm, giọt bào tương xa tâm ... (Saeed et al., 1990; Koonjaenak et al., 2007b). Việc đánh giá hình dạng tinh trùng được sử dụng để bổ sung cho việc đánh giá hoạt lực tinh trùng, cho phép giám sát chất lượng của tinh dịch tốt hơn, đặc biệt tỷ lệ tinh trùng kỳ hình có liên quan chặt chẽ với kết quả thụ thai ở gia súc .Tỷ lệ tinh trùng kỳ hình là tỷ lệ tinh trùng bị dị dạng về hình thái học so với tổng số tinh trùng trong một lần khai thác tinh và nó phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như giống, , chế độ chăm sóc,
nuôi dưỡng, mùa vụ…
Qua nghiên cứu cho thấy, tỷ lệ tinh trùng kỳ hình qua các giai đoạn tuổi cụ thể cao nhất ở giai đoạn từ 36 tháng tuổi trở xuống đạt 15,59%, tiếp đến giai đoạn từ 37 đến 48 tháng tuổi đạt 13,59%, sau đó giai đoạn trên 60 tháng tuổi đạt
11,43%, và thấp nhất ở giai đoạn từ 49 đến 60 tháng tuổi đạt 10,45%(p<0,05).
Ở giai đoạn từ 36 tháng tuổi trở xuống tỷ lệ tinh trùng kỳ hình cao nhất 15,59%, nguyên nhân có thể là do ở giai đoạn này trâu còn non, sự hoạt động điều
tiết của cơ thể cũng như bộ phận sinh sản chưa hoàn thiện.
Shukla and Misra (2005) nghiên cứu thấy trâu Murrah Ấn Độ có tỷ lệ tinh trùng kỳ hình là 12,57%. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi có tỷ lệ tinh trùng kỳ hình ở các giai đoạn tuổi nằm trong khoảng kết quả nghiên cứu của Shukla and
Misra (2005).
34
Một số tác giả có những báo cáo khác nhau về tỷ lệ tinh trùng kỳ hình ở trâu đực. Nordin et al. (1990) nghiên cứu ở trâu đầm lầy Malayssia thấy rằng, các khuyết tật tinh trùng phổ biến nhất là đuôi uốn cong và mất đầu. Trâu ở các độ tuổi từ 29 đến 32 tháng tuổi, 33 đến 41 tháng tuổi, 42 đến 53 tháng tuổi, 54 đến 65 tháng tuổi
và trên 65 tháng tuổi, tỷ lệ tinh trùng kỳ hình lần lượt là 12,3%, 11,1%, 11,5%, 13,2% và 10,6%. Cùng đối tượng trâu đầm lầy ở Malaysia, Jainudeen et al. (1982) cho biết tỷ lệ tinh trùng kỳ hình chiếm 16% nhưng Nair et al. (2012) thấy rằng tỷ lệ tinh tỷ lệ tinh trùng kỳ hình là 9,25%. Theo Sajjad et al. (2007), trâu Nili-Ravi có tỷ lệ tinh trùng kỳ hình chiếm 11,67%. El-Sisy et al. (2010) cho biết trâu Ai Cập có tỷ lệ tinh trùng kỳ hình dao động từ 4,78% đến 6,04% nhưng một nghiên cứu khác của Mahmoud et al. (2013) lại thấy rằng trâu Ai Cập có tỷ lệ tinh trùng kỳ hình là 15,19%. Theo chúng tôi nguyên nhân có thể do có sự khác nhau về giống, điều kiện
chăm sóc nuôi dưỡng, quản lý … ở các nghiên cứu.
4.1.1.7. Ảnh hưởng của tuổi đến tỷ lệ tinh trùng sống của trâu Murrah
Tinh trùng sống là tinh trùng còn hoạt động được ở trạng thái di động, có thể di động tiến thẳng, di động vòng quanh hoặc dao động và được tính bằng phần trăm so với tổng số tinh trùng trong lần khai thác tinh đó (Phùng Thế Hải, 2013). Tỷ lệ tinh trùng sống tương quan đến các các chỉ tiêu chất lượng tinh dịch, đặc biệt là tương quan thuận chặt chẽ với hoạt lực của tinh trùng (Shelke and
Dhami, 2001; Shukla and Misra, 2005).
Qua bảng 4.7, tỷ lệ tinh trùng sống cao nhất ở lúa tuổi từ 49-60 tháng tuổi đạt 88,76%, tiếp theo giai đoạn trên 60 tháng tuổi đạt 86,88%, giai đoạn từ 37-48 tháng tuổi đạt 80,51%, và thấp nhất giai đoạn 36 tháng tuổi trở xuống đạt 77,55% (p<0,05). Kết quả của chúng tôi tương đương với kết quả nghiên cứu của tác giả Jainudeen et al. (1982), trâu đầm lầy Malaysia từ 2-6 tuổi tỷ lệ tinh trùng sống đạt 87%, và trâu Surti có tỷ lệ tinh trùng sống lên tới 85,87% (Khawaskar et al., 2012). Nhưng cao hơn so với báo cáo của Nordin et al. (1990) cho biết, trâu đầm lầy ở Malaysia có tỷ lệ tinh trùng sống ở các độ tuổi từ 29 đến 32 tháng tuổi, 33 đến 41 tháng tuổi, 42 đến 53 tháng tuổi, 54 đến 65 tháng tuổi và trên 65 tháng
tuổi lần lượt là 64,2%, 67,2%, 66,9%, 65,5% và 69,9%.
Nhiều nghiên cứu của các tác giả cũng có những kết quả khác nhau về tỷ lệ tinh trùng sống của trâu đực. Kanwal et al. (2000) cho biết trâu Nili-Ravi có tỷ lệ tinh trùng sống đạt 91,58%. Alavi-Shoushtari and Babazadeh-Habashi (2006) nghiên cứu ở trâu Azarbaijani ở Iran thấy có tinh trùng sống là 73,2%. Trâu Ai Cập có tỷ lệ tinh trùng sống đạt 70,9%. Theo chúng tôi nguyên nhân có thể do có sự khác nhau về giống, điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng, quản lý
35
… ở các nghiên cứu.
4.1.2. Ảnh hưởng của tuổi đến khả năng sản xuất tinh đông lạnh của trâu murrah 4.1.2.1. Ảnh hưởng của tuổi đến tỷ lệ các lần khai thác tinh đạt tiêu chuẩn và các chỉ tiêu số lượng, chất lượng tinh dịch đạt tiêu chuẩn của trâu Murrah
Tỷ lệ các lần khai thác tinh đạt tiêu chuẩn là một chỉ tiêu đánh giá khả năng sản xuất tinh đông lạnh của con đực, nếu tỷ lệ khai thác tinh đạt tiêu chuẩn cao thì khả năng sản xuất tinh tốt và ngược lại. Kết quả nghiên cứu tỷ lệ các lần khai thác tinh đạt tiêu chuẩn của một số chỉ tiêu số lượng, chất lượng tinh dịch
của trâu Murrah được trình bày ở bảng 4.2.
Qua bảng 4.2 cho thấy, trâu đực Mura ở giai đoạn tuổi từ 49 tháng tuổi đến 60 tháng tuổi có tỷ lệ các lần đạt tiêu chuẩn cao nhất ( 86,00%) và thấp nhất ở giai đoạn tuổi từ 36 tháng tuổi trở xuống đạt( 63,50%). Sai khác có ý nghĩa thống kê (P<0,05). Nguyên nhân có thể do trâu đực giống Murrah ở giai đoạn tuổi từ 36 tháng tuổi trở xuống còn trẻ và đang trong giai đoạn sinh trưởng nên chất
36
lượng tinh dịch chưa ổn định, chất lượng tinh dịch chưa cao.
n= 05 trâu đực giống
n (lần)
Chỉ tiêu số lượng, chất lượng tinh dịch ĐTC
Tỷ lệ các
Tỷ lệ tinh
V (ml)
A (%)
C (tỷ/ml)
VAC (tỷ)
pH
K (%)
Lứa tuổi
KTT
trùng sống (%)
Khai thác
ĐTC
lần KTT ĐTC
tinh
Mean SE Mean SE Mean SE Mean SE Mean SE Mean
SE Mean
SE
(%)
200
127
63,50c
2,12b 0,02 75,62 0,01
0,80
0,01 1,31b 0,04
6,81
0,01
15,27a
0,01
79,61b
0,01
Từ 36 tháng tuổi trở xuống
Từ 37 tháng tuổi
200
155
77,50b
2,77b 0,02 76,46 0,01
0,93
0,01 1,98ab 0,04
6,80
0,01 12,78ab 0,01 82,21ab 0,01
đến 48 tháng tuổi
Từ 49 tháng tuổi
200
172
86,00a
4,13a 0,02 79,73 0,01
1,16
0,01 3,82a 0,04
6,86
0,01
9,78b
0,01
90,30a
0,01
đến 60 tháng tuổi
Trên 60 tháng tuổi 200
161
80,50ab
3,64ab 0,02 79,35 0,01
1,05
0,01 3,03a 0,04
6,77
0,01
10,79b
0,01
88,33a
0,01
Ghi chú: Trong cùng một cột, các giá trị Mean có chữ cái khác nhau là có sự sai khác có ý nghĩa thống kê (P<0,05).
37
Bảng 4.2. Ảnh hưởng của tuổi đến tỷ lệ các lần khai thác tinh đạt tiêu chuẩn và các chỉ tiêu số lượng, chất lượng tinh dịch đạt tiêu chuẩn của trâu Murrah
Các chỉ tiêu số lượng, chất lượng tinh dịch của trâu đực giống Murrah ở
giai đoạn tuổi từ 49 tháng tuổi đến 60 tháng tuổi ở các lần khai thác tinh đạt tiêu
chuẩn đều cho giá trị cao nhất so với các nhóm tuổi khác, tương ứng: Thể tích
tinh dịch là 4,13 ml, hoạt lực tinh trùng là 79,73%, nồng độ tinh trùng là 1,16
tỷ/ml, tổng số tinh trùng tiến thẳng là 3,82 tỷ và tỷ lệ tinh trùng sống là 90,30%;
chỉ tiêu tỷ lệ tinh trùng kỳ hình là 9,78%, thấp nhất trong các giai đoạn tuổi. Điều
này có thể giải thích rằng giai đoạn tuổi của trâu đực giống Murrah từ 49 tháng
tuổi đến 60 tháng tuổi là giai đoạn tuổi đã thành thục về tính, chất lượng tinh dịch
trong giai đoạn này là ổn định.
4.1.2.2. Ảnh hưởng của tuổi đến số lượng tinh đông lạnh dạng cọng rạ trên
lần khai thác tinh đạt tiêu chuẩn của trâu Murrah
Sau khi kiểm tra, đánh giá một số chỉ tiêu số lượng, chất lượng của các
mẫu tinh dịch khai thác, chỉ những mẫu tinh có tất cả các chỉ tiêu kiểm tra cùng
đạt tiêu chuẩn mới được đưa vào sản xuất tinh đông lạnh. Do vậy số lượng tinh
cọng rạ sản xuất được trong một lần khai thác tinh đạt tiêu chuẩn cũng chịu ảnh
hưởng của nhiều yếu tố như giống, tuổi, cá thể, chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng,
mùa vụ, kỹ thuật khai thác tinh, quản lý...tương tự như các chỉ tiêu số lượng, chất
lượng tinh dịch. Đặc biệt, chỉ tiêu này có liên quan chặt chẽ với Thể tích tinh
dịch, hoạt lực tinh trùng và nồng độ tinh trùng trong tinh dịch. Nếu thể tích tinh
dịch, hoạt lực tinh trùng và nồng độ tinh trùng càng cao thì số lượng tinh cọng rạ
sản xuất được trong một lần khai thác tinh càng nhiều. Ngược lại, chỉ cần thể tích
tinh dịch thấp hoặc hoạt lực tinh trùng không cao hay nồng độ tinh trùng thấp thì
số lượng tinh cọng rạ sản xuất được trong một lần khai thác tinh sẽ bị giảm theo
(Phùng Thế Hải, 2013). Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của tuổi đến số lượng
tinh đông lạnh dạng cọng rạ trên lần khai thác đạt tiêu chuẩn trâu Murrah được
thể hiện qua bảng 4.3.
Xem bảng 4.3 cho thấy số lượng tinh đông lạnh cọng rạ của trâu đực
giống trong giai đoạn tuổi từ 49 tháng tuổi đến 60 tháng tuổi có số lượng nhiều
nhất (160,58 liều tinh/lần khai thác đạt tiêu chuẩn) và thấp nhất ở giai đoạn tuổi
từ 36 tháng tuổi trở xuống (57,26 liều tinh/lần khai thác), sai khác có ý nghĩa
thống kê (P<0,05). Kết quả này phù hợp với kết quả về các chỉ tiêu số lượng,
38
chất lượng tinh dịch của trâu đực giống ở các giai đoạn tuổi.
n= 05 trâu đực giống
Số lần
Lứa tuổi
Số lượng cọng rạ sản xuất/lần KTT ĐTC (cọng rạ)
Từ 36 tháng tuổi trở xuống Từ 37 tháng tuổi đến 48 tháng tuổi Từ 49 tháng tuổi đến 60 tháng tuổi Trên 60 tháng tuổi
sản xuất tinh (lần 127 155 172 161
Mean 57,26b 86,41b 160,58a 128,02ab
SE 1,19 1,20 1,59 1,55
Ghi chú: Trong cùng cột, các giá trị trung bình có chữ cái khác nhau là sai khác có ý nghĩa thống
kê (P<0,05)
Bảng 4.3. Ảnh hưởng của tuổi đến số lượng tinh đông lạnh dạng cọng rạ trên lần khai thác tinh đạt tiêu chuẩn
Tác giả Pal et al. (2012) cho biết, nghiên cứu trên trâu đực giống Murrah trong giai đoạn tuổi ổn định, ở Iran có số lượng cọng rạ sản xuất được trong một
lần khai thác tinh dịch là 133,59 cọng rạ.
4.1.2.3. Ảnh hưởng của tuổi đến hoạt lực tinh trùng sau giải đông của tinh đông lạnh trâu Murrah
Chất lượng tinh trâu đông lạnh bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố, trong đó đặc biệt là môi trường pha loãng và phương pháp đông lạnh tinh trùng (Sansone et al., 2000; Andrabi, 2009). Đặc biệt, hoạt lực tinh trùng sau giải đông là chỉ tiêu cơ bản để đánh giá chất lượng tinh đông lạnh và có liên quan chặt chẽ đến tỷ lệ thụ thai ở lần phối giống đầu trên gia súc cái (El-Sisy et al., 2010; Mahmoud et al., 2013). Kết quả
nghiên cứu chất lượng tinh trâu sau giải đông được thể hiện ở bảng 4.4.
n= 05 trâu đực giống
Số lần
Hoạt lực sau giải đông (%)
Lứa tuổi
SE
sản xuất tinh (lần
127 155 172 161
Mean 41,15b 44,06a 45,82a 45,14a
0,01 0,01 0,01 0,01
Từ 36 tháng tuổi trở xuống Từ 37 tháng tuổi đến 48 tháng tuổi Từ 49 tháng tuổi đến 60 tháng tuổi Trên 60 tháng tuổi
Ghi chú: Trong cùng cột, các giá trị trung bình có chữ cái khác nhau là sai khác có ý nghĩa thống
kê (P<0,05)
39
Bảng 4.4. Ảnh hưởng của tuổi đến hoạt lực tinh trùng sau giải đông của trâu Murrah
Hoạt lực sau giải đông của tinh đông lạnh cọng rạ trâu đực giống Murrah trong giai đoạn tuổi từ 49 tháng tuổi đến 60 tháng tuổi cao nhất (45,82%) và thấp nhất ở giai đoạn tuổi từ 36 tháng tuổi trở xuống (41,15%), sai khác có ý nghĩa thống kê (P<0,05). Theo Shelke and Dhami (2001), chất lượng tinh sau giải đông có tương quan chặt chẽ với chất lượng của tinh dịch trước khi đưa vào đông lạnh, kết quả của chúng tôi cũng phù hợp kết quả trên khi chất lượng tinh dịch ở hai giai đoạn tuổi này trước khi đưa vào đông lạnh cũng có sai khác có ý nghĩa thống kê.
Pawan Singh et al. (2001) công bố kết quả khi nghiên cứu 12 trâu đưc giống Murrah 40 tháng tuổi tại Ấn Độ cho biết hoạt lực sau giải đông đạt 32,91 %. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cao hơn của Pawan Singh et al. (2001), điều này chứng tỏ môi trường pha chế tinh, tay nghề kỹ thuật, các quy trình kỹ thuật trong sản xuất tinh đông đông lạnh tại Moncada là khá tốt và được thực
hiện nghiêm túc.
4.2. ẢNH HƯỞNG CỦA MÙA VỤ ĐẾN PHẨM CHẤT TINH DỊCH VÀ KHẢ NĂNG SẢN XUẤT TINH ĐÔNG LẠNH CỦA TRÂU MURRAH
Các trâu đực giống Murrah trong nghiên cứu này được chăm sóc, nuôi dưỡng và khai thác tinh tại Trạm Nghiên cứu và sản xuất tinh đông lạnh Moncada (Tản Lĩnh, Ba Vì, Hà Nội) thuộc miền Bắc của Việt Nam, có điều kiện thời tiết khí hậu phân chia thành bốn mùa xuân, hạ, thu, đông khá rõ rệt (Phùng Thế Hải, 2013). Theo Marai and Haeeb (2010), yếu tố mùa vụ có tác động lớn tới khả năng sinh sản của trâu, do vậy chúng tôi tiến hành đánh giá ảnh hưởng của yếu tố mùa vụ đến một số chỉ tiêu số lượng, chất lượng tinh dịch của trâu Murrah để có quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và khai thác tinh phù hợp, khai thác tốt nhất khả năng sản xuất của các trâu đực tùy theo từng mùa vụ trong năm. Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của yếu tố mùa vụ đến một số chỉ tiêu số lượng, chất
lượng tinh được thể hiện cụ thể.
4.2.1. Ảnh hưởng của mùa vụ đến phẩm chất tinh dịch của trâu Murrah
4.2.1.1. Ảnh hưởng của mùa vụ đến thể tích tinh dịch
Để nghiên cứu ảnh hưởng của mùa vụ đến thể tích tinh dịch của trâu Murah, chúng tôi phân tích các mẫu tinh dịch của trâu Murrah nuôi tại Trạm Nghiên cứu và sản xuất tinh đông lạnh Moncada theo bốn mùa Xuân, Hè, Thu,
40
Đông cho kết quả trình bày ở bảng 4.5.
(n= 05 trâu đực giống)
Xuân
Hạ
Thu
Đông
Mùa vụ
Chỉ tiêu
Mean
SE
Mean
SE
Mean
SE
Mean
SE
Số lần khai
thác tinh (lần)
3,05a
0,06
2,78b
0,06
3,33a
0,06
3,32a
0,06
200
Thể tích tinh dịch (ml)
73,64b
0,01
68,47c
0,01
77,07a
0,01
78,27a
0,01
200
Hoạt lực tinh trùng (%)
0,93a
0,01
0,86b
0,01
1,03a
0,01
1,05a
0,01
200
Nồng độ tinh trùng (tỷ/ml)
Tổng số tinh trùng tiến
2,21ab
0,07
1,70b
0,07
2,74a
0,07
2,82a
0,07
200
thẳng (tỷ/lần khai thác)
6.76
0,01
6.79
0,01
6.79
0,01
6.83
0,01
200
pH
14,18ab
0,01
16,70a
0,01
10,28b
0,01
10,14b
0,01
200
Tỷ lệ tinh trùng kỳ hình(%)
81,31ab
0,01
77,34c
0,01
88,96a
0,01
86,15a
0,01
200
Tỷ lệ tinh trùng sống (%)
Ghi chú: Trong cùng một hàng, các giá trị Mean có chữ cái khác nhau là có sự sai khác có ý nghĩa thống kê (P<0,05).
41
Bảng 4.5. Ảnh hưởng của mùa vụ đến phẩm chất tinh dịch của trâu Murrah
Thể tích tinh dịch của trâu Murrah trong mùa thu (3,33ml) và mùa đông (3,32ml) đạt cao nhất, tiếp theo là mùa xuân (3,05ml) và thấp nhất là mùa hạ (2,87ml) (P<0,05). Theo chúng tôi, nguyên nhân do ảnh hưởng của điều kiện thời tiết trong khu vực nghiên cứu (Ba Vì, Hà Nội) có sự biến động mạnh về nhiệt độ không khí giữa các mùa trong năm đã ảnh hưởng tới khả năng sản xuất tinh của trâu Murrah.
Theo Sharma et al. (1983a,b), các yếu tố khí hậu như nhiệt độ, bức xạ mặt trời, độ ẩm không khí ... và tương tác giữa các yếu tố này đã gây những tác động
bất lợi làm giảm năng suất của vật nuôi.
Theo Tarr (2007), ở môi trường nhiệt độ thấp, gia súc phải tăng cường trao đổi chất và tăng nhu cầu năng lượng để duy trì nhiệt độ của cơ thể. Khi nhiệt độ trực tràng giảm xuống dưới 280C, gia súc không thể tự điều chỉnh nhiệt độ cơ thể trở về bình thường nếu không có sự hỗ trợ bởi các biện pháp tăng nhiệt. Việc hạ thân nhiệt khiến quá trình trao đổi chất và quá trình sinh lý giảm xuống, máu chuyển hướng từ các chi tới bảo vệ các bộ phận khác quan trọng hơn bên trong cơ thể, các bộ phận như tinh hoàn, núm vú, tai dễ bị tê cóng, nếu nhiệt độ tiếp tục xuống thấp, quá trình hô hấp, tuần hoàn bị ngưng trệ, gia súc sẽ mất ý thức và chết. Do vậy, tác động của stress lạnh tới gia súc cũng nghiêm trọng không kém stress nhiệt. Nghiên cứu của tác giả Somparn et al. (2004) cho biết, gia súc ở vùng Đông Bắc của Thái Lan giảm khả năng sản xuất trong điều kiện thời tiết có nhiệt độ thấp, giá lạnh. Javed et al. (2000) cũng cho rằng, thời tiết lạnh ảnh hưởng đến chất lượng tinh trùng trong quá trình thu thập, chế biến tinh. Ở miền Bắc nước ta, hiện tượng rét đậm (nhiệt độ trung bình trong ngày trong khoảng từ 130C đến 150C), rét hại (nhiệt độ trung bình trong ngày ≤130C) thường gặp từ tháng 11 đến tháng 3 hàng năm (Vũ Thanh Hằng và cs., 2010) đã gây hiện tượng stress lạnh và làm chết nhiều
gia súc (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2013).
Trong mùa xuân (từ tháng 1 đến tháng 3), khu vực nghiên cứu có nhiệt độ trung bình thấp (17,960C), kết hợp với độ ẩm cao (89,33%) đã ảnh hưởng tới sức khỏe và khả năng sinh sản của trâu đực giống. Ảnh hưởng này có thể đã kéo dài
42
từ mùa xuân sang đến mùa hạ (từ tháng 4 đến tháng 6), nhiệt độ trung bình tăng lên 27,420C với độ ẩm cao tương đương (83,65%). Chênh lệch nhiệt độ khi chuyển từ mùa xuân sang mùa hạ là lớn nhất, đây có thể là nguyên nhân làm ảnh
hưởng tới sức khỏe của trâu và ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của chúng, làm
giảm sút lượng xuất tinh trong mùa hạ. Mùa hạ sang mùa thu (từ tháng 7 đến tháng 9, nhiệt độ trung bình là 27,530C) và mùa thu sang mùa đông (từ tháng 10 đến tháng 12, nhiệt độ trung bình là 21,260C) có nền nhiệt độ biến động giữa các mùa thấp hơn, do vậy khả năng sinh sản của trâu đực giống Murra ít bị ảnh
hưởng hơn, kéo theo lượng xuất tinh của mùa thu và mùa đông cao hơn.
Tác giả Koonjaenak et al. (2007a) cũng cho biết, ở Thái Lan các mùa trong năm có nền nhiệt độ trung bình dao động từ 32,10C đến 35,30C và độ ẩm trung bình dao động từ 89,4% đến 95,5% đã không tác động đến thể tích tinh
dịch của trâu bản địa nuôi trong trung tâm sản xuất tinh đông lạnh.
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cũng tương đồng với công bố của Javed et
al. (2000), ở Pakistan trâu Nili-Ravi có thể tích tinh dịch thấp nhất trong mùa hạ ẩm
ướt (P<0,05). Tác giả Gokhale et al. (2003) cũng có kết quả nghiên cứu tương tự trên
trâu Murrah, thể tích tinh dịch cao trong mùa đông và thấp nhất trong mùa hạ.
4.2.1.2. Ảnh hưởng mùa vụ đến hoạt lực tinh trùng
Hoạt lực tinh trùng (A) là tỷ lệ (%) tinh trùng sống và hoạt động tiến thẳng
trong tinh dịch. Hoạt lực tinh trùng phụ thuộc vào sức hoạt động của từng cá thể tinh
trùng và quần thể tinh trùng sống trong tinh dịch trong một điều kiện nhất định. Hoạt
lực tinh trùng có tầm quan trọng đặc biệt trong pha loãng tinh dịch và khả năng thụ
tinh. Nó phụ thuộc vào giống, tuổi, mùa vụ, chế độ dinh dưỡng. Kết quả nghiên cứu
về hoạt lực tinh trùng của trâu Murrah theo mùa vụ nuôi tại Trạm Nghiên cứu và
sản xuất tinh đông lạnh Moncada được trình bày ở Bảng 4.5.
Qua bảng 4.5 cho thấy, hoạt lực tinh trùng của các trâu Murrah cao nhất ở
mùa đông đạt 78,27%, tiếp theo là hoạt lực tinh trùng ở mùa thu đạt 77,07%, mùa
xuân có hoạt lực tinh trùng đạt 73,64% và thấp nhất ở mùa hạ, hoạt lực tinh trùng
chỉ đạt 68,47% (P<0,05).
Nhiều tác giả khác cũng đã thông báo những kết quả tương đồng với kết quả
nghiên cứu của chúng tôi. Nghiên cứu của Mandal et al. (2000) cho biết, trong mùa
đông hoạt lực tinh trùng trâu Murrah đạt cao nhất. Nghiên cứu của Hà Minh Tuân
(2015) về sản xuất tinh đông lạnh dạng cọng rạ của Trâu Việt Nam chỉ ra rằng, hoạt
lực tinh trùng dao động từ 71,32% đến 77,88% giữa các tháng trong năm, ở các
43
tháng có nhiệt độ vừa và thấp thì hoạt lực tinh trùng cao, các tháng có nhiệt độ cao
thì hoạt lực tinh trùng thấp (P<0,05). Theo Igna et al. (2010), nhiệt độ không chỉ ảnh
hưởng vào ngày khai thác tinh dịch mà còn ảnh hưởng tới toàn bộ quá trình sản xuất
tinh trùng trong tinh hoàn.
Như vậy, stress lạnh trong mùa xuân và sự biến động nhiệt độ lớn từ mùa
xuân sang mùa hạ đã ảnh hưởng đến khả năng sản xuất tinh trùng trong tinh hoàn
của gia súc. Do đó, mặc dù các trâu Murrah là trâu đã được nuôi thích nghi, đồng
thời chúng được chăm sóc nuôi dưỡng cẩn thận với các biện pháp chống nóng trong
mùa hạ (như quạt, phun sương, tắm mát ...) và chống rét trong mùa đông (như che
chắn chuồng trại, đốt lửa sưởi ấm....) nhưng chất lượng tinh vẫn bị ảnh hưởng bởi sự
khắc nghiệt của điều kiện thời tiết ở miền Bắc, Việt Nam. Chính vì vậy, ở mùa thu
và mùa đông có nhiệt độ ổn định hơn, ít ảnh hưởng đến quá trình sản xuất tinh trong
tinh hoàn và quá trình khai thác tinh dịch, vì vậy hoạt lực tinh trùng của trâu Murrah
cao hơn các mùa còn lại (P<0,05).
4.2.1.3. Ảnh hưởng mùa vụ đến nồng độ tinh trùng
Kết quả đánh giá nồng độ tinh trùng của trâu Murrah qua các mùa vụ trong
năm cho thấy.Nồng độ tinh trùng trong mùa đông đạt cao nhất là 1,05 tỷ/ml,
tiếp theo là mùa thu đạt 1,03 tỷ/ml, mùa xuân đạt 0.93 tỷ/ml và thấp nhất ở
mùa hạ, chỉ đạt 0,86 tỷ/ml (P<0,05).
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi khá tương đồng với kết quả nghiên cứu
của các tác giả Javed et al. (2000), Gokhale et al. (2003), Wei and Jea (2006),
Ibrrhem et al. (2014), Hà Minh Tuân (2015). Trâu Nili-Ravi ở Pakistan có nồng
độ tinh trùng cao vào mùa thu và mùa xuân (Javed et al., 2000), trâu Murrah có
nồng độ tinh trùng thấp nhất trong mùa hạ (Gokhale et al., 2003).
Theo chúng tôi, trâu Murrah có nồng độ tinh trùng thấp trong mùa hạ
ngoài ảnh hưởng bởi nhiệt độ và độ ẩm cao còn do tác động của stress lạnh trong
mùa xuân đã ảnh hưởng đến quá trình sinh tinh trong dịch hoàn của trâu.
Tác giả Koonjaenak et al. (2007a) cho biết một kết quả khác với kết quả
của chúng tôi. Nồng độ tinh trùng của trâu đầm lầy ở Thái Lan không bị ảnh
hưởng bởi yếu tố mùa vụ (P>0,05), nồng độ tinh trùng trâu trong mùa mưa đạt
1,2 tỷ/ml, mùa đông có nồng độ tinh trùng đạt 1,2 tỷ/ml và mùa hạ có nồng độ
tinh trùng đạt 1,1 tỷ/ml. Theo chúng tôi, nguyên nhân có thể do sự khác biệt của
44
điều kiện khí hậu vùng nghiên cứu.
4.2.1.4. Ảnh hưởng mùa vụ đến tổng số tinh trùng tiến thẳng
Để đánh giá số lượng và chất lượng tinh dịch và khả năng sản xuất tinh của trâu Murrah theo mùa vụ chúng tôi tiến hành nghiên cứu chỉ tiêu tổng hợp VAC của các mẫu tinh dịch của trâu Murrah nuôi tại Trạm Nghiên cứu và sản xuất tinh đông lạnh Moncada theo bốn mùa Xuân – Hạ – Thu - Đông. Kết quả
được trình bày ở bảng 4.5.
Qua bảng 4.5 cho thấy, tổng số tinh trùng tiến thẳng của trâu Murrah giảm dần từ mùa đông (2,82 tỷ/lần khai thác), mùa thu (2,74 tỷ/lần khai thác), mùa xuân (2,21 tỷ/lần khai thác) đến mùa hạ là thấp nhất (1,70 tỷ/lần khai thác) (P<0,05). Nguyên nhân do mùa vụ ảnh hưởng đến lượng xuất tinh, hoạt lực tinh trùng và nồng độ tinh trùng nên chỉ tiêu tổng số tinh trùng tiến thẳng của trâu
Murrah cũng bị ảnh hưởng.
Theo Al-Sahaf and Ibrahim (2012), ở các tháng có nhiệt độ vừa và lạnh bộ phận dịch hoàn phụ (mào tinh hoàn) của tinh hoàn gia tăng khối lượng và chiều dài, đuôi dịch hoàn phụ gia tăng về khối lượng và đường kính, kéo theo sự gia tăng hoạt động của các ống sinh tinh sản xuất tinh trùng, nguyên nhân do có sự gia tăng các hoóc môn testosterone, FSH và LH. Ibrrhem et al. (2014) cho biết, chất lượng tinh trùng trâu tăng lên trong các tháng mùa đông, giảm mạnh trong mùa hạ, do nhiệt độ cao của mùa hạ ảnh hưởng xấu đến cơ quan sinh sản và quá
trình sinh tinh, dẫn đến một số lượng lớn các tinh trùng bất thường.
4.2.1.5. Ảnh hưởng mùa vụ đến pH
Kết quả nghiên cứu chỉ tiêu pH cho thấy, các mùa trong năm không ảnh hưởng đến pH tinh dịch trâu Murrah (P>0,05). Độ pH tinh dịch ở mùa thu và mùa hạ là 6,79, còn ở mùa xuân và mùa đông lần lượt là 6,76 và 6,83. Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Wei and Jea (2006), độ pH tinh dịch của trâu Đài Loan cũng không có sự khác nhau giữa các mùa trong năm. Koonjaenak et al., (2007a) cũng cho biết, mùa vụ không ảnh hưởng đến chỉ tiêu pH tinh dịch của trâu đầm lầy ở Thái Lan, pH đạt 6,9 trong mùa mưa, đạt 7 trong mùa đông và mùa hạ.
4.2.1.6. Ảnh hưởng mùa vụ đến tỷ lệ tinh trùng kỳ hình
45
Khi nghiên cứu tỷ lệ tinh trùng kỳ hình của trâu Murrah giữa các mùa trong trong năm cho thấy, tỷ lệ tinh trùng kỳ hình cao nhất là ở mùa hạ (16,70%), mùa xuân và mùa thu đạt lần lượt chiếm 14,18% và 10,28%, thấp nhất là ở mùa đông là 10,14% (P<0,05). Nhiệt độ không khí cao sẽ ảnh hưởng xấu đến các hoạt động tự nhiên của con vật. Nhiệt độ không khí quá cao, thân nhiệt con vật cao và
ảnh hưởng xấu đến quá trình sinh tinh, hoạt lực tinh trùng, mật độ tinh trùng giảm và làm tăng tinh trùng kỳ hình, theo Cheng (1992). Chính vì vậy, tỷ lệ tinh
trùng kỳ hình của trâu Murrah cao nhất trong mùa hạ.
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi tương đồng với nghiên cứu của tác giả Hà Minh Tuân.(2015) trên trâu đầm lầy Việt Nam, Koonjaenak et al. (2007a) trên trâu đầm lầy Thái Lan cho biết yếu tố mùa vụ ảnh hưởng đến các biến dạng hình thái của tinh trùng (P<0,05-0,001). Ibrrhem et al. (2014) cũng thấy rằng tỷ lệ tinh trùng kỳ hình ở trâu Irắc giảm đi trong những tháng có nhiệt độ vừa và thấp, tăng lên trong những tháng có nhiệt độ cao và dao động từ 9,32% đến
15,56% (P<0,05).
4.2.1.7. Ảnh hưởng mùa vụ đến tỷ lệ tinh trùng sống
Để nghiên cứu ảnh hưởng của mùa vụ tới tỷ lệ sống của tinh trùng, chúng tôi tiến hành nghiên cứu 800 mẫu tinh dịch của trâu Murrah theo mùa vụ (Xuân – Hạ – Thu – Đông) nuôi tại Trạm nghiên cứu và sản xuất tinh đông lạnh
Môncađa, kết quả được trình bày ở Bảng 4.5
Qua kết quả nghiên cứu cho thấy, tỷ lệ tinh trùng sống của trâu Murrah thay đổi giữa các mùa trong năm (P<0,05). ở mùa thu tỷ lệ tinh trùng sống cao nhất đạt 88,96%, và mùa hạ tỷ lệ là thấp nhất (77,34%). Trong mùa xuân và mùa thu kết quả lần lượt là 81,31% và 88,96%. Điều này có thể giải thích do điều kiện thời tiết ở khu vực nghiên cứu có nền nhiệt thấp trong mùa xuân, khi chuyển sang mùa hạ nền nhiệt tăng cao và nhanh. Làm ảnh hưởng đến chức năng sinh sản của gia súc (Marai and Haeeb, 2010), làm thay đổi số lượng, chất lượng của tinh dịch và thay đổi độ lớn tinh hoàn (Wildeus and Hammond, 1993). Tác giả Saeed (1988) cũng cho biết rằng chất lượng tinh dịch của gia súc bị ảnh hưởng đáng kể bởi yếu tố mùa vụ trong năm, đặc biệt có sự thay đổi chất lượng tinh dịch ngay trong một
mùa và cùng một độ tuổi ở các địa phương khác nhau.
4.2.2. Ảnh hưởng của mùa vụ đến khả năng sản xuất tinh đông lạnh của trâu
murrah
4.2.2.1. Ảnh hưởng của mùa vụ đến tỷ lệ các lần khai thác tinh đạt tiêu chuẩn
và các chỉ tiêu số lượng, chất lượng tinh dịch đạt tiêu chuẩn của trâu Murrah
Kết quả đánh giá ảnh hưởng của mùa vụ đến tỷ lệ các lần lấy tinh đạt tiêu chuẩn và các chỉ tiêu số lượng, chất lượng tinh dịch đạt tiêu chuẩn của chúng tôi được
46
trình bày ở bảng 4.6.
Bảng 4.6. Ảnh hưởng của mùa vụ đến tỷ lệ các lần khai thác tinh đạt tiêu chuẩn và các chỉ tiêu số lượng, chất lượng tinh dịch
n= 05 trâu đực giống
n (lần)
Chỉ tiêu số lượng, chất lượng tinh dịch ĐTC
Tỷ lệ
Tỷ lệ tinh
các
trùng sống
V (ml)
A (%)
C (tỷ/ml)
VAC (tỷ)
pH
K (%)
Mùa
Khai
KTT
(%)
vụ
thác tinh
ĐTC
lần KTT
Mean
SE Mean
SE
Mean
SE Mean
SE Mean SE Mean
SE Mean
SE
ĐTC (%)
Xuân
200
146 73,00b 3,24a
0,06
77,50
0,01
0,97
0,01
0,08
6,76
0,01
13,68ab
0,01
83,28ab 0,01
2,52a
Hạ
200
96 48,00c 2,70b
0,06
75,54
0,01
0,84
0,01
0,08
6,87
0,01
16,53a
0,01
80,90a 0,01
1,81b
Thu
200
185 92,50a 3,39a
0,06
78,22
0,01
1,04
0,01
0,08
6,80
0,01
10,18b
0,01
88,75a 0,01
2,85a
Đông
200
188 94,00a 3,38a
0,06
79,31
0,01
1,06
0,01
0,08
6,83
0,01
10,05b
0,01
86,86a 0,01
2,92a
Ghi chú: Trong cùng một cột, các giá trị Mean có chữ cái khác nhau là có sự sai khác có ý nghĩa thống kê (P<0,05)
47
đạt tiêu chuẩn của trâu Murrah
Bảng 4.6 cho thấy, tỷ lệ các lần lấy tinh đạt tiêu chuẩn ở mùa đông có tỷ lệ
các lần đạt tiêu chuẩn cao nhất (đạt 94,00%) và thấp nhất ở mùa hạ (đạt 48,00%),
sai khác có ý nghĩa thống kê (P<0,05). Nguyên nhân do biến động nhiệt cao
trong mùa xuân và mùa hạ đã làm giảm số lượng, chất lượng tinh dịch của các
trâu đực..
Các chỉ tiêu các chỉ tiêu hoạt lực tinh trùng, nồng độ tinh trùng và pH tinh
dịch đạt tiêu chuẩn không bị ảnh hưởng bởi yếu tố mùa vụ (P>0,05). Nguyên
nhân do tất cả các mẫu tinh dịch đều đạt tiêu chuẩn về chỉ tiêu pH, còn các mẫu
tinh dịch có chỉ tiêu hoạt lực tinh trùng, nồng độ tinh trùng không đạt tiêu chuẩn
đã bị loại bỏ nên triệt tiêu được ảnh hưởng của yếu tố mùa vụ.
Yếu tố mùa vụ tác động đến các chỉ tiêu lượng xuất tinh, tổng số tinh trùng
tiến thẳng, tỷ lệ tinh trùng sống và tỷ lệ tinh trùng kỳ hình đạt tiêu chuẩn
(P<0,05). Nguyên nhân do biến động nhiệt cao trong mùa xuân và mùa hạ đã làm
giảm số lượng, chất lượng tinh dịch của các trâu đực.
4.2.2.2. Ảnh hưởng của mùa vụ đến số lượng tinh đông lạnh dạng cọng rạ trên
lần khai thác tinh đạt tiêu chuẩn của trâu Murrah
Nếu lượng xuất tinh, hoạt lực tinh trùng và nồng độ tinh trùng càng cao thì
số lượng tinh cọng rạ sản xuất được trong một lần khai thác tinh càng nhiều.
Ngược lại, chỉ cần lượng xuất tinh thấp hoặc hoạt lực tinh trùng không cao hay
nồng độ tinh trùng thấp thì số lượng tinh cọng rạ sản xuất được trong một lần
khai thác tinh sẽ bị giảm theo (Phùng Thế Hải, 2013). Kết quả nghiên cứu ảnh
hưởng của mùa vụ đến số lượng tinh đông lạnh dạng cọng rạ trên lần khai thác
đạt tiêu chuẩn trâu Murrah được thể hiện qua bảng 4.7.
Qua kết quả nghiên cứu cho thấy, số lượng tinh cọng rạ sản xuất được trên
một lần khai thác tinh đạt tiêu chuẩn của trâu Murrah cao nhất trong mùa đông
(122,68 cọng rạ) và mùa thu (121,46 cọng rạ), thấp nhất trong mùa hạ (79,35
cọng rạ) (P<0,05).
Kết quả này là phù hợp với các kết quả nghiên cứu về chất lượng tinh trâu
theo từng mùa trong năm, các chỉ tiêu số lượng, chất lượng tinh dịch đều thấp
48
trong mùa hạ (P<0,05) do trâu đực giống bị ảnh hưởng bởi yếu tố stress nhiệt.
n= 05 trâu đực giống Số lượng cọng rạ sản xuất/lần KTT ĐTC (cọng rạ)
Mùa
Mean
SE
Số lần sản xuất tinh (lần)
146
2,93
Xuân
96
3,59
Hạ
185
3,13
Thu
Đông
188
107,84ab 79,35b 121,46a 122,68a
3,13
Ghi chú: Trong cùng một cột, các giá trị Mean có chữ cái khác nhau là có sự sai khác có ý nghĩa
thống kê (P<0,05).
Bảng 4.7. Số lượng tinh đông lạnh dạng cọng rạ trên lần khai thác tinh đạt tiêu chuẩn của trâu Murrah theo mùa vụ
Kết quả cũng chỉ ra, mặc dù các trâu Murrah có bị ảnh hưởng bởi yếu tố mùa vụ dẫn đến một số chỉ tiêu số lượng, chất lượng tinh dịch giảm sút trong mùa hạ và có sự tác động của yếu tố lứa tuổi . Tuy nhiên chất lượng sinh sản của các trâu đực giống Murrah trong nghiên cứu này đảm bảo tốt để sản xuất tinh
đông lạnh dạng cọng rạ phục vụ công tác TTNT trâu ở nước ta.
4.2.2.3. Ảnh hưởng của mùa vụ đến hoạt lực tinh trùng sau giải đông của trâu Murrah
Hoạt lực tinh trùng sau giải đông có ý nghĩa quan trọng trong TTNT bởi nếu hoạt lực tinh trùng sau giải đông cao thì tỷ lệ thụ thai cao và ngược lại. Tinh cọng rạ sản xuất được bảo quản ở nhiệt độ lạnh sâu -1960C, khi sử dụng cần phải được giải đông. Hoạt lực tinh trùng sau giải đông ở thời điểm sau đông lạnh 24 giờ chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố như: Chất lượng tinh tươi đưa vào sản xuất tinh, kỹ thuật pha chế tinh, môi trường pha loãng, sức kháng đông của tinh trùng, quy trình đông lạnh và kỹ thuật giải đông. Kết quả nghiên cứu về ảnh hưởng của mùa vụ đến hoạt
lực tinh trùng sau giải đông của trâu Murrah được trình bày ở bảng 4.8.
n= 05 trâu đực giống
Hoạt lực tinh trùng sau giải đông (%)
Mùa
Số lần sản xuất tinh (Lần)
Mean
SE
Xuân
146
44,60
0,01
Hạ
96
43,20
0,01
Thu
185
45,10
0,01
Đông
188
43,38
0,01
49
Bảng 4.8. Hoạt lực tinh trùng sau giải đông của trâu Murrah theo mùa vụ
Qua bảng 4.8 ta thấy hoạt lực tinh trùng (A) sau giải đông của trâu Murrah ở mùa thu đạt cao nhất (45,10 %), sau đó đến mùa Xuân (44,60 %) và mùa Thu (45,10 %), mùa Hè hoạt lực tinh trùng sau giải đông đạt thấp nhất (43,20 %). Hoạt lực tinh trùng sau giải đông ở bốn mùa có sự sai khác nhau, song sự sai
khác này không có ý nghĩa thống kê (P > 0,05)
Kết quả này tương đồng với kết quả nghiên cứu của tác giả Koonjaenak et al. (2007c), và tác giả Hà Minh Tuân (2015) (P>0,05). Nguyên nhân do tinh đông lạnh được sản xuất từ những mẫu tinh dịch đạt tiêu chuẩn đồng thời được bảo quản trong nitơ lỏng -1960C, do vậy đã triệt tiêu được ảnh hưởng của yếu tố mùa vụ.
4.3. TỶ LỆ THỤ THAI CỦA TINH TRÂU MURRAH ĐÔNG LẠNH DẠNG CỌNG RẠ TRÊN ĐÀN TRÂU CÁI ĐỊA PHƯƠNG
Đánh giá chất lượng tinh đông lạnh trong phòng thí nghiệm chỉ có thể xác định được mức độ thiệt hại của tinh trùng trong quá trình đông lạnh và giải đông mà không thể dự đoán chính xác khả năng sinh sản của tinh trùng. Do vậy, tỷ lệ thụ thai ở lần phối giống đầu là chỉ tiêu tốt nhất để đánh giá chất lượng của tinh
đông lạnh (Vale, 1997).
Trong TTNT, tỷ lệ phối lần một có chửa chịu ảnh hưởng bởi rất nhiều yếu tố của cả trâu cái nội và trâu đực như giống, lứa tuổi, chế độ chăm sóc nuôi dưỡng, mùa vụ, chất lượng tinh cọng rạ, trình độ tay nghề của dẫn tinh viên ..., trong đó chất lượng tinh cọng rạ có vai trò rất quan trọng. Nếu chất lượng tinh cọng rạ tốt sẽ giúp cho khả năng thụ thai cao hơn. Kết quả nghiên cứu tỷ lệ phối lần một có chửa trên đàn trâu cái nội bằng tinh cọng rạ của các trâu đực giống
Murrah được thể hiện qua bảng 4.9.
n= 05 trâu đực giống
TT
Số hiệu trâu đực
Số trâu cái phối giống TTNT (con)
Số trâu cái có chửa (con)
Tỷ lệ thụ thai lần đầu (%)
1
3085
28
55
50,91
2
3094
25
50
50,00
3
3095
28
55
50,91
4
3096
25
50
50,00
5
3097
26
50
52,00
Trung bình
132
260
50,77
50
Bảng 4.9.Tỷ lệ thụ thai ở lần phối đầu của trâu Murrah
Qua bảng 4.9 cho thấy, tỷ lệ phối lần 1 có chửa trung bình của các trâu đực Murrah nghiên cứu là 50,77 %, và giao động từ 50,00% - 50,91%. Haranath et al. (1990) đánh giá hiệu quả TTNT giữa hai loại tinh trâu Murrah đông lạnh dạng cọng rạ 0,25 ml và 0,5 ml sử dụng môi trường pha loãng gồm có lòng đỏ, tris và
glycerol cho thấy tỷ lệ thụ thai đạt tương ứng là 52,7% và 50,4%.
Theo kết quả nghiên cứu của tác giả Vale (1997) tỷ lệ thụ thai của tinh
trâu Murrah sau giải đông đạt hơn 50% .
Theo kết quả nghiên cứu của tác giả Đinh Văn Cải và cs. (2010) tỷ lệ thụ thai khi phối đơn tinh trâu Murrah đông lạnh dạng cọng rạ 0,25 ml cho trâu cho
trâu cái là 49,89%.
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi nằm trong khoảng kết quả công bố của các tác giả Haranath et al. (1990); Vale, (1997) và cao hơn kết quả nghiên cứu của tác giả Đinh Văn Cải và cs. (2010). Điều này chứng tỏ chất lượng giống, chất lượng tinh trâu Murrah đông lạnh được sản xuất tại Trạm Nghiên cứu và Sản xuất tinh đông lạnh Moncada thương hiệu VINALICA luôn được cải tiến
51
nhằm không ngừng nâng cao.
PHẦN 5. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
5.1. KẾT LUẬN
- Tuổi có ảnh hưởng đến một số chỉ tiêu số lượng và chất lượng tinh dịch của trâu Murrah. Giai đoạn từ 49 tháng tuổi đến 60 tháng tuổi có phẩm chất tinh dịch đạt tốt hơn các giai đoạn còn lai. Các chỉ tiêu thể tích tinh dịch đạt 4,07ml, hoạt lực
đạt 77,43%, nồng độ đạt 1,14 tỷ/ml.
-Yếu tố mùa vụ có ảnh hưởng đến một số chỉ tiêu số lượng, chất lượng tinh dịch (P<0,05). Chất lượng tinh dịch trâu thấp nhất trong mùa hạ, sau đó đến mùa
xuân, mùa thu và tốt nhất là mùa đông.
-Tuổi cũng ảnh hưởng đến khả năng sản xuất tinh đông lạnh và hoạt lực sau giải đông của trâu Murrah nuôi tại Trạm Nghiên cứu và sản xuất tinh đông lạnh Moncada. Giai đoạn từ 49 đến 60 tháng tuổi đạt cao nhất 160,58 liều cọng rạ/lần
khai thác đạt tiêu chuẩn, hoạt lực sau giải đông đạt 45,82% .
-Yếu tố mùa vụ có ảnh hưởng đến số lượng tinh đông lạnh dạng cọng rạ trên lần khai tác tinh đạt tiêu chuẩn (P<0,05). Số lượng tinh đông lạnh dạng cọng rạ cao
nhất trong mùa đông, sau đó đến mùa thu, mùa xuân, và thấp nhất là mùa hạ.
- Tỷ lệ thụ thai ở lần phối giống đầu của các trâu đực giống trên đàn trâu cái địa phương đạt 50,77% và dao động từ 50,00% đến 50,91%, không có sự sai
khác giữa các cá thể trâu về chỉ tiêu này.
5.2. KIẾN NGHỊ
- Đề nghị mở rộng nghiên cứu đánh giá ảnh hưởng của các yếu, thức ăn, quản lý khai thác tinh, thời gian bảo quản tinh … tới số lượng, chất lượng tinh và
khả năng sản xuất tinh đông lạnh dạng cọng rạ của trâu đực giống Murrah.
- Mở rộng nghiên cứu các biện pháp nâng cao tỷ lệ thụ thai của đàn trâu cái địa phương khi sử dụng tinh trâu Murra đông lạnh dạng cọng rạ để phát triển
52
công tác TTNT trâu trong cả nước.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2003). Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 5286 - 90 Trâu bò giống hướng thịt và cày kéo - Phương pháp phân cấp chất lượng, Tuyển tập tiêu chuẩn nông nghiệp Việt Nam, Tập V, Tiêu chuẩn Chăn nuôi, phần 1: Chăn nuôi - Thú y. Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội. tr. 199-204.
2. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ( 2013). Báo kết quả thực hiện kế hoạch tháng 1 năm 2013 ngành Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Trung tâm tin học thống kê. Truy cập ngày 25/01/2013 tại http://www.mard.gov.vn/Lists/appsp01_statistic/Attachments/64/Baocao_1_2013.pdf
3. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2014). Quyết định số 675/QĐ-BNN-CN, ngày 04/4/2014, Phê duyệt các chỉ tiêu định mức kinh tế kỹ thuật cho các đàn vật nuôi giống gốc, Hà Nội.
4. Cao Xuân Thìn (1987). Xác định thời gian dẫn tinh thích hợp của trâu cái Murrah nuôi tại Trung tâm trâu sữa sông Bé. Tạp chí khoa học kỹ thuật nông nghiệp.(30). tr. 36-39.
5. Đặng Thị Tùng Loan (2012). Kỹ thuật bảo quản tế bào động vật, Giáo trình Kỹ thuật nuôi cấy tế bào động vật và ứng dụng, Trường Đại học Khoa học tự nhiên – Đại học Quốc gia Tp. Hồ Chí Minh. tr. 4.
6. Đinh Văn Cải, Nguyễn Hữu Trà, Lưu Công Hòa, Thái Khắc Thanh, Hàn Quốc Vương, Hoàng Khắc Hải và Lê Trần Thái (2011). Hiệu quả phối giống nhân tạo trên trâu cái nội và thời điểm dẩn tinh thích hợp. Tạp chí Nông nghiệp và PTNT. (23).tr. 80-84.
7. Đỗ Kim Tuyên và Hoàng Kim Giao (2009). Chăn nuôi Việt Năm năm 2009. Cục
Chăn nuôi. tr: 18-20.
8. Hà Minh Tuân (2015). Nghiên cứu sản xuất tinh đông lạnh dạng cọng dạ của trâu
việt nam. Luận án tiến sỹ, Hà Nội.
9. Hà Văn Chiêu (1999). Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học tinh dịch bò (HF, Zebu) Và khả năng sản xuất tinh đông lạnh của chúng tại Việt Nam. Luận án Tiến Sỹ Khoa học Nông nghiệp. Viện Chăn nuôi.
10. Lê Bá Quế (2013). Đánh giá bò đực giống Holstein Friesian nuôi tại Moncada thông qua số lượng, chất lượng tinh dịch và sản lượng sữa của đàn con gái. Luận án tiến sĩ nông nghiệp. Viện Chăn nuôi. Hà Nội.
53
Tài liệu tiếng việt
11. Lê Việt Anh, Lê Minh Châu, Nguyễn Văn Trừng (1984). Kết quả thí nghiệm sản xuất và dẫn tinh đông viên trâu Murrah. Tạp chí khoa học kỹ thuật nông nghiệp.tr.270.
12. Lê Viết Ly và Võ Sinh Huy (1982). Nghiên cứu một số môi trường pha chế bảo tồn tinh dịch trâu Murrah.Tạp chí khoa học kỹ thuật nông nghiệp.( 235).tr. 36-39.
13. Lê Viết Ly và Mai Văn Sánh (2004). Cẩm nang chăn nuôi trâu, Cẩm nang chăn nuôi gia súc ăn cỏ, Cẩm nang chăn nuôi gia súc gia cầm, tập III. Hội Chăn nuôi Việt Nam.Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội.tr 135-202
14. Lưu Kỷ (1979). Nghiên cứu môi trường pha loãng tinh dịch trâu. Kết quả nghiên
cứu khoa học kỹ thuật chăn nuôi. Viện Chăn nuôi. tr.174 – 178.
15. Mai Thị Thơm và Mai Văn Sánh (2004). Nghiên cứu đặc điểm sinh sản và một số biện pháp nâng cao khả năng sinh sản của trâu ở huyện mê Linh-Vĩnh Phúc. Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.(2).tr. 127-131.
16. Mai Văn Sánh. (1996). Khả năng sinh trưởng, sinh sản, cho sữa, thịt của trâu Murrah nuôi tại Sông Bé và kết quả lai tạo với trâu nội. Luận án Phó Tiến sĩ khoa học nông nghiệp, Hà Nội.
17. Nguyễn Đức Thạc (1983). Một số đặc điểm về sinh trưởng, cho thịt, sữa của loại hình trâu to Miền Bắc và khả năng cải tạo nó với trâu Murrah. Luận án phó tiến sỹ, Hà nội.
18. Nguyễn Đức Thạc, Nguyễn Văn Vực (1984). Kết quả nuôi dưỡng đàn trâu Murrah tại Trung tâm nghiên cứu trâu Sông Bé, Tạp chí khoa học kỹ thuật nông nghiệp.( 268). tr. 456-462.
19. Nguyễn Hữu Trà, Đặng Đình Hanh, Hoàng Kim Giao, Phan Văn Kiểm, Mai Văn Sánh, Đào Đức Thà (2001). Kết quả sản xuất tinh đông viên trâu Murrah tại Trung tâm nghiên cứu và phát triển chăn nuôi miền Núi. Báo cáo khoa học năm 2001. Viện Chăn nuôi.tr. 91-95.
20. Nguyễn Quang Tuyên, Phan Đình Thắm, Dương Mạnh Hùng, Nguyễn Thị Liên và Hồ Thị Bích Ngọc (2006). Nghiên cứu đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp phát triển đàn trâu tại tỉnh Thái Nguyên. Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. ( 1&2). tr.88-90.
21. Nguyễn Văn Đức và Lê Thanh Hải (2002). Phương pháp kiểm tra thống kê sinh
học, NXB Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội.
22. Nguyễn Văn Thanh (2005). Khảo sát một số chỉ tiêu sinh sản của đàn trâu nội nuôi tại một số tỉnh thuộc vùng Tây Bắc, Việt Nam. Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Nông Nghiệp. ( 3).
54
23. Phan Kim Ngọc, Phạm Văn Phúc (2006). Công nghệ sinh học trên người và động
vật, Nxb Giáo dục. tr. 5.
24. Phùng Thế Hải (2013). Đánh giá khả năng sản xuất tinh của bò đực giống Brahman và Holstein Friesian nhập từ Australia nuôi tại Việt Nam. Luận án tiến sỹ nông nghiệp, Trường Đại học nông nghiệp Hà Nội.
25. Sharma P.A. và Đỗ Kim Tuyên (2006). Khả năng sinh sản của trâu đực giống
Murrah nuôi tại Sông Bé, Tạp chí khoa học nông nghiệp, (292).
26. Tạ Văn Cần, Nguyễn Hữu Trà, Vũ Văn Tý, Nguyễn Đức Chuyên và Mai Văn Sánh (2008). Nghiên cứu lai tạo giữa trâu đực Murrah với trâu cái địa phương và đánh giá khả năng sinh trưởng của con lai F1 nuôi trong nông hộ. Tạp chí Nông nghiệp và phát triển nông thôn. (9). Tr.41-46.
27. Tổng Cục Thống Kê (2015). Niên giám thống kê tóm tắt năm 2014. Nhà xuất bản
Thống Kê, Hà Nội, tr .147.
28. Trịnh Thị Kim Thoa, Cao Thị Vân Hậu, Lê Thị Huệ, Đào Đức Thà và Nguyễn Hữu Trà (2005). Bảo tồn tinh trâu, Những vấn đề nghiên cứu cơ bản trong khoa học sự sống. Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật. tr. 765-767.
29. Trịnh Thị Kim Thoa ( 2006). Báo cáo tổng kết nhiệm vụ nghiên cứu khoa học đề tài Nghiên cứu và phát triển công nghệ tinh đông lạnh trong thụ tinh nhân tạo trâu. Viện Công nghệ sinh học, Hà nội.
30. Vũ Đình Ngoan, Đào Đức Thà, Đặng Đình Hanh, Nguyễn Hữu Trà, Nguyễn Đức
Chuyên, Tạ Văn Cần, Hàn Quốc Vương, Nguyễn Thị Hương và Nguyễn Thị Tuyết Nhung (2010). Nghiên cứu kỹ thuật đông lạnh tinh dịch trâu dạng cọng rạ tại Bá vân Thái nguyên, http://http://vcn.vnn.vn/uploads/files/Bao%20cao%20khoa%20hoc %20hang%20nam/2010/B8_CNSH.pdf (ngày 11/4/2012).
31. Vũ Ngọc Tý và Lưu Kỷ (1979). Nghiên cứu pha loãng tinh dịch trâu ở bội số 1:10 và
1:15, Báo cáo khoa học kỹ thuật chăn nuôi. tr. 170-173.
32. Vũ Thanh Hằng, Phạm Thị Lê Hằng, Phan Văn Tân ( 2010). Dao động và biến đổi của hiện tượng rét đậm, rét hại ở Việt Nam. Tạp chí Khoa học Đại học Quốc Gia Hà Nội, Khoa học Tự nhiên và Công nghệ. 26(3). tr 334-343.
Tài liệu tiếng nước ngoài.
33. Abdou M. S .S.,M El-Guindi., A. A. El-Menoufy and K.Zaki (1978). Enzymic profile of the semen of bovines (Bubalus bubalis and Bos taurus) . II. Parellelism between acid and alkaline phosphatases and various measures of semen quality. Vol 25. pp. 222-230.
55
34. Agnieszka P., N Wojciech and O Małgorzata (2012). Methods of Assessment of
Cryopreserved Semen, Current Frontiers in Cryobiology, Prof.
35. Ahmad I., K. Javed and A. Sattar (2004). Screening of breeding bulls of different
breeds through karyotyping. Pakitan Veterinary Journal. Vol 24(4). pp.190-192.
36. Ahmad N., S. Umair, M. Shahab and M. Arslan (2010).Testicular development and establishment of spermatogenesis in Nili-Ravi buffalo bulls. Theriogenology. Vol 73. pp. 25–30.
37. Akhter S., M. Ansari, S. Rakha, S. M. H. Andrabi, M. Khalid and N. Ullah ( 2011). Effect of low density lipoproteins in extender on freezability and fertility of buffalo (Bubalus bubalis) bull semen. Theriogenology. 76(4): 759-764.
38. Alavi-Shoushtari S. M. And B. Babazadeh Habashi (2006). Seasonal variation in the characteristics of the Azarbaijani buffalo (Bubalus bubalis) semen. Iranian Journal of Veterinary Research.Vol 7(1) pp. 49-54.
39. Al-Sahaf M. M. and N. S. Ibrahim (2012). Monthly changes in testes and epididymis measurements with some semen characteristics of tail epididymis for Iraqi buffalo. Iraqi. Journal of Veterinary Medical.Vol 36(2). pp. 204-208.
40. Anderson, J ( 1952). The pH change in bull semen and fertility. Journal of
Agricultural Science.Vol 42(1-2). pp. 172-174 (Abstract).
41. Andrabi S. M. H. ( 2009). Factors Affecting the Quality of Cryopreserved Buffalo (Bubalus bubalis) Bull Spermatozoa. Reprod Dom. Anim. Vol 44. pp. 552–569.
42. Ansari M. S., B. A Rakha, S. M . Andrabi. And S. Akhter ( 2011). Effect of straw size and thawing time on quality of cryopreserved buffalo (Bubalus bubalis) semen. Reprod. Biol. Vol 11(1). pp. 49-54.
43. Anzar M., T. Kroetsc and M. M. Buhr (2009). Comparison of different methods for assessment of sperm concentration and membrane integrity with bull semen. J. Androl.Vol 30(6). pp. 661-668.
44. Atiq N., N. Ullah, S. M. H. Andrabi and S. Akhter (2011). Comparison of photometer with improved Neubauerhemocytometer and Makler counting chamber for sperm concentration measurement in cattle. Pakitan Veterinary Journal. Vol 31. pp.83-84.
45. Barile V. L., A. Galasso., E. Marchiori, C. Pacelli, N. Montemurro. and A. Borghese (2001). Effect of PRID treatment on conception rate in Mediterranean buffalo heifers. Livest, Prod.Sci.,Vol 68. pp. 283-287
56
46. Beheshti R., A. Asadi, B. Eshratkhah, K. J. G Ghale. and A. Ghorbani ( 2011). The effect of cysteine on post-thawed buffalo bull (Bubalus Bubalis) sperm parameters. Advances in Environmental Biology.Vol 5(6). pp. 1260-1263.
47. Bhakat M., T. K. Mohanty, A. K. Gupta. And V. S Raina (2009). Effect of season and management on semen quality of breeding bulls - A review. Agric. Rev. Vol 30. pp. 79-93.
48. Bhakat M., T. K. Mohanty, V. S. Raina, A. K. Gupta. And H. M. Khan
(2011). Frozen semen production performance of Murrah buffalo bulls. Buffalo Bulletin. Vol 30(2). pp. 157-162.
49. Bhattacharya P. And P. N. Srivastava. (1955). Studies in deep freezing of buffalo semen. 42nd Indian Science Cong., New Delhi, Vol.III, Baroda-India: 348.
50. Bhosrekar M. R., S. Mokashi, J. R. Purohit, S. B. Gokhal and B. R.Mangurkar (1991). Studies on the extracellular effect of deep freezing and seasons on the leakage of aspartate amino transferase into medium and sperm morphology of Murrah buffalo bulls. Animal Reproduction Science. Vol 26(3).pp. 219-226
51. Capitan S. S., G. S. Antiporda and V. G. Momongan (1990). Reaction time, semen output and semen quality of buffalo bulls after pre-collection injection of prostaglandin F2 alpha (PGF2 Alpha). Asian-Australasian Journal of Animal Sciences. Vol 3(4). pp.343-346.
52. Chinnaiya G. P. And N. C. Ganguli. Journal of Veterinary Medical science (1990). Effect of age and season on the initial attributes and preservability of buffalo bull semen. R. M. Acharya, R. R. Lokeshwar, S. Kumar. Recent Advances in Buffalo Research.Vol 3. pp. 80-86.
53. Cockrill W. R. (1974). The Husbandry and Health of the Domestic Buffalo. Food and Agriculture Organization [for] the Australian Freedom from Hunger Campaign ; [London] : [H.M.S.O.], Rome
54. Cruz L. C. (1998). Reproductive Biotechnique in Buffaloes. 8th World
Conference on Animal Production. Symposium series. pp. 286-289.
55. Dahiya S. S., P. Singh and A. Bharadwaj (2006). Feeding and Management of
buffalo bulls. Technical Bulletin CIRB, Hisar, India.
56. Dhami A. J. and S. B. Kodagali. (1990). Freezability, enzyme leakage and fertility of buffalo spermatozoa in relation to the quality of semen ejaculates and extenders. Theriogenology.Vol 34(5). pp. 853-863.
57. Dhami A. J. And K. L. Sahni ( 1994). Effects of various cooling (from 300C to freezability, post-thaw
50C). equilibration and diluent
treatments on
57
thermoresistance, enzyme leakage and fertility of bubaline spermatozoa. Buffalo J. 2. pp. 147-159.
58. El-Amrawi G. A. (1997). Effect of thawing time and post-thaw temperature on fertility of buffalo spermatozoa frozen in straws. Proc. 5th World Buffalo Congr., 13-16 Caserta, Italy. Vol 1. pp.850-855.
59. El-Kon, I. (2011). Testing Usability of Bovine Serum Albumin (BSA) for Preservation of Egyptian Buffalo Semen. American-Eurasian J. Agric and Environ. Sci. Vol 11(4). pp.495-502.
60. El-Sisy, G. A., R. I. El-Sheshtawy , A. A. Mohamed and W. S. El-Nattat in (2010). Correlations between semen parameters and conception rate buffaloes. Global. Vol 5(1) .pp.15-21.
61. FAO. (2013). Statistics/databases, Global Livestock Production and Health Atlas (GLiPHA), World - Livestock population - Number (Region x Year), Livestock species = buffaloes. http://kids.fao.org/glipha/#.
62. Gokhale, S. B. And R.L. Bhagat (2000). Status of reproductive performance in rural buffaloes artificially inseminated using deep frozen semen. Indian J. Anim. Sci. Vol 70. pp.366-368.
63. Gokhale, S. B., M. Mushtaque, N. L. Phadke, V. V. Dindorkar and G. S. Ambhore ( 2003). Studies on the effect of hydrogen ion concentration of extender on semen characters of Murrah buffalo bulls. Indian Journal of Animal Reproduction. Vol 24(2) . pp.158-160.
64. Gupta K. A. (1998). Studies on vaginal electrical resistance and plasma progesterone profile in relation to oestrus cycle in buffaloes, M.V. Sc. Thesis submitted to Rajasthan Agricultural University, Bikaner, India. pp. 65-69.
65. Gupta S. K. and G. K . Das (1994). Post partum anoestrus in buffaloes Factors
responsible. J. Remount Vet. Corps.Vol 33. pp.141-151.
66. Gupta K.A. and G. N. Purohit (2001). Use of vaginal electrical resistance to predict estrus and ovarian activity, its relationship with plasma progesterone and use for insemination in buffaloes, Theriogenology. Vol 56. pp. 235-245.
67. Haranath G. B., T. B. Suryaprakasa, A. V. N. Rao and G. Somasekharam (1990). Freezability of semen and fertility of frozen semen packaged in mini and medium French straws: a note. In: Acharya, R. M., Lokeshwar, R. R. and Kumar, A. T. (eds) Proceedings of 2nd World Buffalo Cong, New Delhi, India. International Buffalo Federation, Roma, Italy .pp.87-88.
58
68. Herdis B. P., I. Supriatna and I. G. Putu ( 1999). Integrity of swamp buffalo sperm on a variety of semen freezing process. Jurnal Ilmu Ternakdan Veteriner. Vol 4(1). pp. 7-12.
69.
Ibrrhem N. S., M. M. H Al-Sahaf and A. F. Alwan (2014). Reproductive activity of mature Iraqi bull buffaloes Epididymis sperm quality and histological picture. Journal of Agriculture and Veterinary Science. Vol 7(4). pp.56-62.
70.
Igna V., A. Moje, C. Mirci, M. Roman, C. Ghiurca, D. Casalean and H. Cernescu (2010). The influence of some environmental factors and age on semen production of Fleckvieh bulls. Lucrǎri Stiintifice Med. vol 43.pp. 56-63.
71.
Jainudeen M. R. and E. S. E. Hafez. (1993c). Reproduction in cattle and buffalo. In Reproduction in Farm Animals Edited by ESE Hafez 6th edition Lea and Febriger, Philadelphia, pp. 205- 212.
72.
Jainudeen M. R., T. A. Bongso and S. Dass (1982). Semen characteristics of the swamp buffalo Bubalus bubalis). Anita. Reprod. Sci. Vol 4. pp. 213-217.
73.
Januskauskas A and H. Zilinskas (2002). Bull semen evaluation post thaw and relation of semen characteristics to bull’s fertility. Vet. Zootec. Vol 17. pp. 29-36.
74.
Javed M. T., A. Khan and R. Kausar ( 2000). Effect of age and season on some semen parameters of Nili-Ravi buffalo (Bubalus bubalis) bulls. Vet. Arhiv. Vol 70. pp. 83-94.
75. Kanwal M. R., N. U. Rehman, N. Ahmad, H. A. Samad, Zia-Ur-Rehman, N. Akhtar and S. Ali ( 2000). Bulk Cations and Trace Elements in the Nili-Ravi Buffalo and Crossbred Cow Bull Semen. Int. J. Agri. Biol.Vol 2(4). pp. 303-305.
76. Khawaskar M. V., M. T. Panchal, A. J. Dhami and J. A. Patel (2012). Seasonal variation in physico-morphological and functional characteristics of semen of Surti buffalo bulls and their interrelationships. Indian Journal of Field Veterinarians. Vol 8(2). pp. 55-61.
77. Koonjaenak S., P. Pongpeng, S.Wirojwuthikul, A. Johannisson, A. Kunavongkrit and H. Rodriguez-Martinez ( 2007b). Seasonality affects post-thaw plasma membrane intactness and sperm velocities in spermatozoa from Thai AI swamp buffaloes (Bubalus bubalis). Theriogenology. Vol 67(9). pp. 1424-1435.
78. Koonjaenak S., V. Chanatinart, S. Aiumlamai, T. Pinyopumimintr and H. Rodriguez- Martinez (2007a.) Seasonal variation in semen quality of swamp buffalo bulls (Bubalus bubalis) in Thailand. Asian J. Androl. Vol 9(1). pp. 92-101.
79. Kumar S., K.L. Sahni and G.S. Bistha (1993a). Cytomorphological characteristics of
motile and static semen of buffalo bulls. Buffalo J. Vol 2. pp.117-127.
59
80. Kumar S., K. L. Sahni, B. N. Benjamin, G. Mohan (1993b). Effect of various levels of yolk on deep freezing and storage of buffalo semen in different diluters without adding glycerol. Buffalo J. Vol 1. pp.79-85.
81. Kumaresan A. And M.R. Ansari (2001). Evaluation of conception rate in buffaloes (Bubalus bubalis) with reference to semen quality, stage of oestrus and inseminator. Indian J. Anim.Sci.Vol 71 (2). pp.144-145.
82. Kunitada Sato (1992). The male Reproductive system, Artificial inseminstion manual for cattle, Assosiation of livestock technology. Tokyo Japan, pp. 7-13.
83. Mahmoud K. G. M., A.A.E. El-Sokary, M.E.A. Abou El-Roos, A.D. Abdel- Ghaffar and M. Nawito (2013). Sperm Characteristics in Cryopreserved Buffalo Bull Semen and Field Fertility. Iranian Journal of Applied Animal Science. Vol 3(4). pp.777-783.
84. Mandal D. K., P. K. Nagpaul and A. K. Gupta ( 2000). Seasonal variation in seminal attributes and sexual behaviour of Murrah buffalo bulls. Indian Journal of Dairy Science. Vol 53(4). pp.278-283.
85. Manik, R. S. and V. D. Mudgal (1984). Monthly and seasonal variation in physiochemical and biochemical attributes of buffalo semen. World Review of Animal Prod. Vol 20(4). pp. 46-51
86. Marai I. F. M. and A. A. Haeeb ( 2010). Buffalo's biological functions as affected by heat stress - A review. Livestock Science. Vol 127. pp. 89-109.
87. Marshall, C. E. (1984). Considerations for cryopreservation of semen. Zoo
Biol. Vol 3. pp.343–-356.
88. Mazur P. (1989). Fundamental aspects of the freezing of cells with emphasis on mammalian ova and embryos, International Congress on Animal, pp. 234-238
89. Mohan G. and K. L. Sahni (1990). Efficiency of semen production in buffalo bulls. Acharya, R. M., Lokeshwar and R. R., Kumar, S. (Eds.). Recent Advances in Buffalo Research. Vol 3. pp.14-16.
90. Nasir M., Zuhairah Abu Bakar, Md Zuki Saad, Mohd Zamri and Kassim Azhar (2012). Evaluation of the semen quality of a buffalo bull in the Buffalo Breeding and Research Centre, Telupid, Sabah, Malaysia. In: 7th Proceedings of the Seminar in Veterinary Sciences, 27 February - 02 March, Universiti Putra Malaysia.
91. Nordin W., M. Hilimi, and T. A. Bongso (1990). Semen characteristics related
to age in growing Swamp buffalo (Bubalus bubalis). Buffalo J. Vol. pp.161-166.
60
92. Nordin W., T. A. Bongso and H. S (1985). Relationship of semen characteristics and testosterone profiles with age in growing swamp buffalo bulls (Bubalus bubalis). In: Buffalo Seminar, 29 April - 2 May, Bangkok, Thailand.
93. Pal A., P. N. Chatterjee, and A. K. Chakravarty (2012). Genetic study of dairy cattleand buffalo bulls based on growth, milk production and reproductive traits. Iranian Journal of Applied Animal Science.Vol 2(3).pp.239-245.
94. Pant H C., R. K. Sharma, S. H. Patel (2002). Testicular development and its relationship to semen production in Murrah buffalo bulls. Theriogenology 60, pp. 27-34.
95. Pant H. C ( 2002). Increasing reproductive efficiency and productivity of cattle and buffaloes. In: Proceedings of the National Symposium on Reproductive Technologies for Augmentation of Fertility in Livestock of The Indian Society for Study of Animal Reproduction. pp. 14-23
96. Pawan Singh B. P., Sengupta and V. N. Tripathi (2001). Effect of Multiple Showering and Vitamin Supplementation on Sexual Behaviour, Quality and Freezability of Buffalo Bull Semen, Asian-Aust. J. Anim.Sci.( 2001). Vol. 14 (2). pp. 184-188.
97. Rajamahendran R. and S. Manickavadivale
(1981). Libido and semen characteristics of Murrah, Surti, and local buffalo bulls in Sri Lanka. Beitrage zur tropischen Landwirtschaft und Veterinarmedizin. Vol 19(4). pp. 455-459
98. Rao A. V. N. and M .C. Venkataramulu (1994). Effect of single varsus double
insemination on conception rate in bovines. Indian Vet. J. 71. pp.1144-1145.
99. Rodriguez-Martinez H. (1998). Optimization of sperm quality in AI bulls.
Reproduction in Domestic Animals. Vol (33).pp. 233-237.
100. Sadeg Tajvidi Asr, Rahim Beheshti and Hamid Kohram. (2011). The evaluations of Tris-citrate acid or Bioxcell extenders on the post-thawed buffalo sperm parameters. Annals of Biological Research.Vol 2(4). pp.360-365.
101. Saeed A. (1988). Studies on morphology of buffalo bull semen of different age
groups. Thesis. University of Agriculture. Faisalabad, Pakistan.
102. Sajjad M., S. Ali, N. Ullah, M. Anwar, S. Akhter and S. M. H. Andrabi (2007). Blood serum testosterone level and its relationship with scrotal circumference and semen characteristics in Nili-Ravi buffalo bulls. Pakistan Vet. J.vol 27(2).pp.63-66.
103. Sansone G., M. J. F. Nastri and A. Fabbrocini. (2000). Storage of buffalo (Bubalus bubalis) semen. Animal Reproduction Science.Vol 62. pp.55-76.
61
104. Settergren, I. (1994). Bull fertility examination. XIIth FAO/SIDA International Postgraduate Course on Animal Reproduction, III. Veterinary College. Upsala.
105. Sharma A. K., L. A. Rodriguez,G. Mekonnen, C.J. Wilcox, K.C. Bachman and R.J. Collier (1983a). Climatological and genetic effects on milk composition and yield. Journal of Dairy Science. Vol 66. pp.119-126.
106. Sharma D. B., C. S. P. Singh and H. R. Mishra (1983b). Growth rate in the she
buffaloes. Indian Veterinary Medicine Journal. Vol 60. pp. 1017-1018.
107. Shelke V. B. And A. J. Dhami (2001). Comparative evaluation of physico- morphological attributes and freezability of semen of Gir cattle (Bos indicus) and Jafarabadi buffalo (Bubalus bubalis) bulls. Indian Journal of Animal Sciences. Vol 71(4). pp.319-324.
108. Shukla M. K. And A. K. Misra (2007). Effect of Bradykinin on Murrah buffalo (Bubalus bubalis) semen cryopreservation. Anim. Reprod. Sci. Vol 97. pp. 175-179.
109. Shukla M. K. and A. K. Misra
(2005). Correlation between seminal characteristics in Murrah bulls. Indian Journal of Animal Sciences Vol 75(3). pp. 263-266 (Abstract).
110. Shukla M.K. and A.K. Misra (2006). Effect of Bradykinin on Murrah buffalo (Bubalus bubalis) semen cryopreservation. Department of Animal Reproduction, Gynaecology and Obstetrics, College of Veterinary and Animal Science, G.B Pant University of Agriculture and Technology, Pantnagar, Udhamsinghnagar, Uttaranchal, India. pp. 1-5.
111. Singh B. And D. P. Sadhu (1973). Buffering capacity, and CO2 and nitrogen contents of the seminal plasma of cattle and buffalo. Indian Journal of Animal Sciences. Vol 43(7). pp. 579-583.
112. Singh P. B. P., B. P. Sengupta and V. N. Tripathi (2000a). Effect of supplemental amino acid feeding on sexual behaviour, quality and freezability of buffalo bull semen. Buffalo J. Vol 1.pp.41-46
113. Singh P., S. S . Dahiya, T. R. Chauhan, S. Singh S, B. Kumar, R.K. Sharma and I. Singh (2004). Effect of feeding different sources of rumen undegradable protein on sexual maturity and semen production in buffalo bulls. Indian Buffalo .vol. pp. 274-77.
114. Singh P., J. K. Jindal, S. Singh and O. K. Hooda (2000b). Freezability of buffalo
bull semen using different extenders. Indian J. Anim. Reprod. 21: 41-42.
62
115. Somparn P., M .J. Gibb, K. Markvichitr, K, N. Chaiyabutr, S. Thummabood and C. Vajrabukka, (2004). Analysis of climatic risk for cattle and buffalo production in northeast Thailand. Int. J. Biometeorol.Vol 49. pp. 59-64.
116. Supanuam P., T. Alongkoad, J. Sitthisak , K. Wanpen , K. Sarawut K. Anan (2009). Standardized karyotype and idiogram of Thai native swamp buffalo, Bubalus bubalis (Artiodactyla, Bovidae) by convention staining, G-banding, C-banding and NOR-banding techniques. Thai Journal of Genetics. Vol 3(1). pp. 83-93
117. Suryaprakasam T. B., A. V. Rao, Narasimha and A. Rao,
Narasimha.(1993). Semen production traits in relation to age, body weight and scrotal parameters in Murrah buffalo bulls. Indian Veterinary Journal. Vol 70(12). pp. 1131-1134.
118. Swelum A. A., H. A. Mansour, A. A. Elsayed and H. A. Amer (2011).
Comparing ethylene glycol with glycerol for cryopreservation of buffalo bull semen in egg-yolk containing extenders. Theriogenology. Vol 76. pp. 833-842.
119. Tarr B. (2007). Cold Stress in Cows. from
http://www.omafra.gov.on.ca/english/livestock/beef/facts/07-001.pdf (date 1/7/2012).
120. Tomar N. S., B. S. Mishra and C.B. Johari (1966). Seasonal variations in reaction time and semen production, and prediction of some semen attributes on initial motility of spermatozoa in Hariana and Murrah bulls. Indian J. Dairy Sci. Vol 19. pp.87-93.
121. Vale W. G. (1994a). Collection, processing and deep freezing of buffalo semen of
buffalo semen. Buff. J. Vol 2.pp. 65-72.
122. Vale W. G. (1997). Sperm cryopreservation. Bubalus Bubalis. Vol 1. pp.129–140.
123. Vale W. G. (2010). Deep freezing buffalo semen - state of art. Proceedings of the
9th World Buffalo Congress, Buenos Aires, 25-28 Abril: 83-92.
124. Wei L. Y. and Y.S. Jea (2006). Conservation of water buffalo in Taiwan: cryopreservation of spermatozoa. International seminar on artificial reproduction biotechnologies for buffalo in Bogor, Indonesia. pp. 108-113.
125. Wildeus S and A.C. Hammond (1993). Testicular, semen and blood parameters in adapted and non adapted Bos taurus bulls in the semiarid tropics. Theriogenology. Vol 40.pp. 345-355.
126. Yates J. H., J. E. Chandler,A. L. Canal, J. Braden Paul (2003). The effect of nocturnal sampling on semen quality and the efficiency of collection in bovine species. Theriogenology. Vol 60(9). pp. 1665-77.
63
PHỤ LỤC
MỘT SỐ ẢNH TRONG QUÁ TRÌNH NGHIÊN CỨU
ẢNH TRÂU ĐỰC GIỐNG MURRAH TẠI MONCADA
Ảnh 1. Trâu đực giống Murrah số hiệu 3085
Ảnh 2. Trâu đực giống Murrah số hiệu 3095
64
Ảnh 3. Trâu đực giống Murrah số hiệu 3097
MỘT SỐ ẢNH KHU CHĂN NUÔI VÀ SẢN XUẤT TINH
Ảnh 4. Khu vực chăn nuôi trâu đực giống và sản xuất tinh đông lạnh
Ảnh 5. Khu vực khai thác tinh Ảnh 6. Giá giả
65
Ảnh 7. Trâu nhảy giá khai thác tinh
MỘT SỐ ẢNH VỀ THIẾT BỊ SẢN XUẤT TINH ĐÔNG LẠNH
Ảnh 8. Đo thể tích tinh dịch,
66
Quan sát màu sắc tinh dịch
Ảnh 9. Chuẩn bị âm đạo giả Ảnh 10. Âm đạo giả
Ảnh 11. Đánh giá hoạt lực tinh trùng Ảnh 12. Máy xác định nồng độ tinh trùng
67
Ảnh 14. Tủ bảo ôn môi trường 50C Ảnh 13. Kính hiển vi-đánh giá tỷ lệ kỳ hình, sống chết của tinh trùng
Ảnh 15. Máy đông lạnh tinh trùng Ảnh 16. Tủ cân bằng trước đông lạnh
Ảnh 18. Xác định độ pH tinh dịch Ảnh 17. Pha loãng tinh dịch cọng rạ
68
Ảnh 19. Ghi đồ thị về nhiệt độ trong buồng đông lạnh Ảnh 20. Buồng cân bằng trong buồng 5oC
Ảnh 21. Máy in nhãn hiệu lên cọng rạ Ảnh 21. Bình bảo quản tinh đông lạnh trong nitơ lỏng (-1960C)
69
Ảnh 22. Máy nạp-hàn cọng rạ

