
DỰ ÁN XD & KIỂM SOÁT VIỆN NGHIÊN CỨU RAU QUẢ
CHẤT LƯỢNG NÔNG SẢN TP
-------------------------- ----------------------
BÁO CÁO
KẾT QUẢ ĐIỀU TRA XÁC ĐỊNH CHI PHÍ, GIÁ THÀNH SẢN PHẨM KHI ÁP
DỤNG CÁC THỰC HÀNH SẢN XUẤT TỐT (VietGAP/GMPs, VietGAHP) ĐỐI
VỚI SẢN XUẤT RAU VÀ CHĂN NUÔI GÀ AN TOÀN
GS.TS. Trần Khắc Thi
TS. Tô Thị Thu Hà
TS. Lê Thị Thuỷ
TS. Dương Kim Thoa
TS. Phạm Mỹ Linh
ThS. Lê Như Thịnh
Hà Nội, tháng 01 năm 2013

2
PHẦN 1. MỞ ĐẦU
1.1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Trong những năm qua, sản xuất nông nghiệp đã phát triển đã tạo ra nguồn cung cấp
lương thực, thực phẩm phong phú và ổn định cho người tiêu dùng trong nước. Tuy nhiên,
các kỹ thuật sản xuất vẫn còn tập trung chủ yếu vào phát triển số lượng hơn là chất lượng
sản phẩm, đặc biệt còn hạn chế trong việc áp dụng các qui phạm thực hành nông nghiệp
tốt (GAP, GAHP), thực hành sản xuất tốt (GMP), phân tích mối nguy và kiểm soát điểm
tới hạn (HACCP) nhằm bảo đảm an toàn thực phẩm trong toàn bộ quá trình sản xuất từ
trang trại tới bàn ăn. Với việc gia nhập WTO, Việt Nam có cơ hội mở rộng thị trường xuất
khẩu các sản phẩm nông nghiệp có lợi thế cạnh tranh, tuy nhiên cũng phải đối mặt với các
yêu cầu ngày càng tăng về vệ sinh an toàn thực phẩm (VSATTP), đặc biệt là yêu cầu của
người tiêu dùng trong nước đối với các mặt hàng nông sản chủ yếu như rau, quả và thịt gia
súc, gia cầm. Bên cạnh đó, hoạt động giám sát, kiểm tra, xử lý vi phạm VSATTP chưa
được tiến hành thường xuyên, dẫn đến tỷ lệ sản phẩm không đảm bảo VSATTP còn cao,
gây ảnh hưởng tới sức khỏe người tiêu dùng, bức xúc trong xã hội và cản trở xuất khẩu.
1.2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1.2.1. Mục tiêu chung
Thông qua khảo sát đánh giá chi phí trong quá trình sản xuất sơ chế sản phẩm rau,
thịt gà khi áp dụng và không áp dụng các thực hành sản xuất tốt GPPs (VietGAP,
VietGAHPs, và GMPs) làm cơ sở xây dựng các chính sách trong quản lý chất lượng và
mức độ an toàn thực phẩm các sản phẩm trên.
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
● Khảo sát thực trạng tình hình sản xuất, sơ chế/giết mổ và lưu thông sản phẩm rau
và thịt gà an toàn;
● Phân tích cơ cấu các loại chi phí, đánh giá kết quả, hiệu quả kinh tế khi áp dụng
và không áp dụng các thực hành sản xuất tốt (VietGAPs, VietGAHPs and GMPs) và phân
tích các yếu tố ảnh hưởng đến chi phí khi áp dụng các thực hành sản xuất tốt (VietGAPs,
VietGAHPs and GMPs) đối với rau và thịt gà an toàn;
● Đề xuất các giải pháp nhằm hạ giá thành sản phẩm, tăng hiệu quả kinh tế khi áp
dụng thực hành sản xuất tốt trong thời gian tới.

3
PHẦN 2. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH SẢN XUẤT VÀ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG
SẢN PHẨM RAU VÀ THỊT GÀ
2.1. TÌNH HÌNH ÁP DỤNG THỰC HÀNH SẢN XUẤT TỐT (GPPs)
Trong bối cảnh các nước ngày càng dựng lên nhiều hàng rào kỹ thuật để bảo hộ
nền sản xuất trong nước và đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, việc áp dụng sản xuất theo
các tiêu chuẩn an toàn (GAP) không còn là một việc nên làm mà là điều bắt buộc nếu các
mặt hàng nông sản của ta muốn giữ được vị thế cạnh tranh.
Thực hành nông nghiệp tốt (Good Agricutural Practices - GAP) là những nguyên
tắc được thiết lập nhằm đảm bảo một môi trường sản xuất an toàn, sạch sẽ, thực phẩm phải
đảm bảo không chứa các tác nhân gây bệnh như chất độc sinh học (vi khuẩn, nấm, virus,
ký sinh trùng) và hóa chất (dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, kim loại nặng, hàm lượng
nitrat), đồng thời sản phẩm phải đảm bảo an toàn từ ngoài đồng đến khi sử dụng. GAP bao
gồm việc sản xuất theo hướng lựa chọn địa điểm, sử dụng đất đai, phân bón, nước, phòng
trừ sâu bệnh hại, thu hái, đóng gói, tồn trữ, vệ sinh đồng ruộng và vận chuyển sản phẩm
nhằm phát triển nền nông nghiệp bền vững với mục đích đảm bảo: An toàn cho thực
phẩm, an toàn cho người sản xuất, bảo vệ môi trường, truy nguyên được nguồn gốc sản
phẩm.
Bảng 2.1. Mô hình các loại cây trồng áp dụng VietGAP tinh đến hết năm 2010
T
T
Sản
phẩm
Mô hình đã được
chứng nhận
Mô hình đang thực
hiện
Mô hình theo
hướng VietGAP
Tổng
số
Số
lượng
Diện tich
(ha)
Số
lượng
Diện tich
(ha)
Số
lượng
Diện tich
(ha)
1 Rau 74
263,37
24
604,72
43
243,35
141
2 Quả 97
2199,01
57
1399,80
12
4244,75
166
3 Chè 24
74,38
-
-
1
3,00
25
4 Lúa 4
105,12
5
231,00
2
44,80
11
Tổng số 199
2643,00
86
2235,50
58
4535,90
343
Nguồn: Cục Trồng trọt, 2010.
Theo thống kê của Cục Trồng trọt-Bộ Nông nghiệp và PTNT (2010), tính đến cuối
năm 2010, cả nước đã có 199 mô hình sản xuất áp dụng VietGAP, GlobalGAP được
chứng nhận, tập trung ở các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long như Tiền Giang, Long An,
Vĩnh Long, Bến Tre… Nhờ áp dụng các tiêu chuẩn sản xuất rau, quả an toàn, giá trị sản
xuất tăng lên, trong khi chi phí đầu tư vật tư nông nghiệp giảm, nhưng sản phẩm lại có sức
cạnh tranh cao trên thị trường, nhất là có giá trị cao về xuất khẩu. Tuy nhiên so với yêu
cầu, số lượng rau, quả an toàn vẫn còn ít, hầu hết là phục vụ xuất khẩu, hoặc cung cấp cho
các nhà hàng, khách sạn, siêu thị... Số đông người tiêu dùng vẫn phải sử dụng sản phẩm
rau, quả không bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm

4
Trong 3 năm (2011 – 2013), Trung tâm Khuyến nông Quốc gia triển khai dự án
chăn nuôi lợn an toàn sinh học và áp dụng VietGap với tổng kinh phí 13,5 tỷ đồng tại 14
tỉnh thành trong cả nước. Quy mô dự kiến là 2400 con lợn thương phẩm/năm, tổ chức tập
huấn kỹ thuật cho 600 lượt nông dân và 300 lượt nông dân được thăm quan học tập. Năm
2011, Trung tâm Khuyến nông Quốc gia giao cho các đơn vị tham gia dự án triển khai các
mô hình tại 11 tỉnh: Hà Nội, Vĩnh Phúc, Hưng Yên, Hải Dương, Hải Phòng, Thái Bình,
Nam Định, Hà Nam, Ninh Bình, Nghệ An và Bình Phước. (Nguồn: Trung tâm khuyến
nông, 2011).
Mục tiêu mà ngành nông nghiệp đặt ra là phấn đấu đến năm 2011, tất cả các
tỉnh, thành phố trong cả nước hoàn thành quy hoạch các vùng sản xuất rau, quả, chè an
toàn tập trung; 50% các tổ chức, cá nhân tại các vùng sản xuất an toàn tập trung bảo đảm
đủ điều kiện sản xuất, sơ chế sản phẩm phù hợp VietGAP và 30% lượng hàng nông sản tại
các vùng này được chứng nhận hoặc tự đánh giá và công bố sản xuất theo VietGAP. Ðến
năm 2015, toàn bộ 100% lượng rau, quả, chè tại các vùng sản xuất tập trung được chứng
nhận hoặc tự đánh giá và công bố sản xuất theo VietGAP; 100% các tổ chức, cá nhân tại
các vùng sản xuất an toàn tập trung bảo đảm đủ điều kiện sản xuất, sơ chế sản phẩm
nông sản phù hợp VietGAP.
2.2. HIỆU QUẢ CỦA SẢN XUẤT THỰC PHẨM AN TOÀN THEO GPPs
Một số nghiên cứu và thông tin đã xác định được ưu điểm và hạn chế của việc áp
dụng GPPs trên các đối tượng cây trồng và vật nuôi. Sau đây là một vài ví dụ cụ thể.
HTX Ngã Ba Giồng ấp 3, xã Xuân Thới Thượng, Hóc Môn, TPHCM được thành
lập năm 2004 gồm 36 hội viên chuyên trồng rau, củ sạch trên diện tích 18 ha đất canh tác,
trong đó có 10 ha diện tích trồng rau củ quả (dưa leo, khổ qua...) và 8 ha trồng rau lá (cải,
dền, mồng tơi). Hiện đã có 5/18 ha được Chi cục BVTV TPHCM công nhận sản xuất theo
tiêu chuẩn VietGAP (cuối năm 2009). Anh Trần Văn Hợp - Chủ nhiệm HTX và cũng là
một hội viên trồng rau đạt tiêu chuẩn VietGAP cho biết, anh có 1 ha đất trồng rau các loại,
trong đó có 0,5 ha được công nhận đạt VietGAP. Với năng suất trung bình đạt 27 – 28
tấn/ha, mỗi vụ lãi ròng được 35 – 40 triệu đồng. Cũng là một hội viên đạt tiêu chuẩn
VietGAP trong HTX, anh Bùi Văn Đình Vượng cho biết gia đình có 5 công (5000 m2 ) đất
trồng rau, chủ yếu là các loại dưa leo, khổ qua, ớt. Trung bình bán ra thị trường khoảng
150-200 kg/ngày với giá khá cao: ớt 20.000đ/kg, bầu 6.000đ/kg, khổ qua 7.000đ/kg… Nhờ
làm rau sạch mà mỗi vụ anh thu lãi được trên 30 triệu đồng”.
Sản phẩm rau do HTX thu mua, các hộ nông dân còn bán cho các thương lái ở chợ
đầu mối, các nhà hàng ở xung quanh Hóc Môn do năng động tự liên hệ với các nơi để tự
giải quyết đầu ra cho mình. Tuy nhiên cơ sở hạ tầng cho sản xuất rau an toàn chưa được
đầu. HTX sẽ đề xuất các ban ngành hỗ trợ hội viên làm kho chứa lạnh, đồng thời ký kết
hợp đồng bao tiêu sản phẩm với giá cao, ổn định để bà con yên tâm gắn bó với rau
VietGAP. (Bao Nong Nghiep Viet Nam).

5
Một nghiên cứu bước đầu của Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Hệ thống Nông
nghiệp tại HTX Tiền Lệ - Hoài Đức – Hà Nội đã cho thấy chi phí khấu hao nhà sơ chế,
chứng nhận VietGAP và công giám sát là 28 triệu đồng/ha/năm. Chi phí sản xuất rau cải
cho 1 lứa rau bao gồm giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật và công lao động cho 1 sào
theo VietGAP là 1,151 triệu đồng, trong khi chi phí cho sản xuất rau thường chỉ bằng
0,959 triệu đồng/ha. Với năng suất và giá bán như nhau, sản xuất rau theo VietGAP sẽ lỗ
2,885 triệu đồng/sào/năm (Nguyễn Quý Bình, 2011). Vì vậy, cần thiết phải tiến hàng
nghiên cứu, điều tra chi tiết, khoa học trên qui mô diện rộng để có thể kết luận và có kết
quả khoa học so sánh giá thành, chi phí cho sản xuất rau theo VietGAP và không áp dụng
VietGAP; Đồng thời để nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất rau an toàn áp dụng
VietGAP phải nâng cao giá bán rau an toàn và tìm đầu ra ổn định thì mới có thể khuyến
khích người dân sản xuất rau an toàn.
2.3. HẠN CHẾ VÀ KHÓ KHĂN TRONG VIỆC ÁP DỤNG VIETGAP
Mặc dù sản xuất thực phẩm an toàn theo VietGAP đã và đang từng bước khẳng
định vai trò quan trọng, quy mô sản xuất thực phẩm an toàn theo VietGAP vẫn còn ở mức
rất khiêm tốn với 0,1% tổng diện tích canh tác. Việc áp dụng VietGAP còn gặp nhiều khó
khăn và hạn chế. Có thể tóm tắt như sau:
- Sản xuất nông nghiệp của nước ta có qui mô nhỏ lẻ, manh mún.
- Trình độ và ý thức của người sản xuất về đảm bảo VSATTP chưa tốt, chưa tự giác
tuân thủ các quy định của VietGAP
- Chưa hình thành mối liên kết hoặc liên kết chưa chặt chẽ trong chuỗi cung ứng
giữa sản xuất và tiêu thụ sản phẩm an toàn.
- Chi phí chứng nhận sản xuất theo VietGAP vượt quá khả năng của người sản xuất,
trong khi lợi ích của các sản phẩm theo VietGAP chưa rõ ràng.
- Yêu cầu về ghi chép và lập hồ sơ lưu trữ còn phức tạp và chưa phù hợp với thói
quen của nông dân dẫn đến khó khăn trong việc đánh giá chứng nhận.
- VietGAP còn 1 số yêu cầu khó, không thực tế, không khả thi đối với một số đối
tượng
- Việc chứng nhận VietGAP chưa đi vào thực chất, phục vụ nhu cầu thật của người
sản xuất và kinh doanh, chủ yếu là thực hiện và hỗ trợ của các chương trình, dự án, không
xuất phát từ nhu cầu thực của thị trường.
Nhiều ý kiến cho rằng, áp dụng sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP là một quá trình
lâu dài, bền bỉ, trong đó, trước mắt cần tập cho nông dân thói quen ghi chép sổ tay, bởi đây
là một trong những tiêu chuẩn rất quan trọng và thiết yếu. Điều kiện tiên quyết cho thành
công của các mô hình sản xuất theo GAP là phải có đầu ra ổn định cho sản phẩm. Cho nên
phải có sự liên kết “4 nhà” chặt chẽ, doanh nghiệp phải có kế hoạch bao tiêu sản phẩm cho
nông dân một cách thuận lợi và dễ dàng. Tuy nhiên quan trọng hơn hết là cần nâng cao
nhận thức và trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước, người sản xuất, kinh doanh,

