PHÂN TÍCH ẢNH HƯỞNG CỦA DỊCH VỤ XUT KHẨU LAO ĐỘNG
SANG NHẬT BẢN ĐẾN SỰ HÀI LÒNG CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG:
TRƯỜNG HỢP NGHIÊN CỨU TẠI CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN
ĐẦU TƯ HỢP TÁC QUỐC TẾ DAYSTAR
Nguyễn Như Phương Anh1,*, Nguyễn Thị Thúy 1
Tóm tắt: Xuất khẩu lao động vai trò rất quan trọng, vừa giải quyết việc làm,
vừa giúp người lao động thu nhập, tạo điều kiện học nghề, tiếp thu kỹ thuật
tiên tiến để làm giàu, thoát nghèo đối với người lao động ở tỉnh Thừa Thiên - Huế
nói riêng cả nước nói chung. Trong những năm qua, hoạt động xuất khẩu lao
động tỉnh Thừa Thiên - Huế đã nhiều chuyển biến tích cực, đã hình thành
được thị trường xuất khẩu lao động ra nhiều nước trên thế giới như Nhật Bản, Đài
Loan, Hàn Quốc, Malaysia, các nước Trung Đông [8]. Nghiên cứu này được
thực hiện bằng phương pháp định lượng thông qua việc phỏng vấn 110 khách
hàng sử dụng dịch vụ xuất khẩu lao động tại Công ty TNHH Đầu Hợp tác quốc
tế Daystar. Nhóm nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích nhân tố khám phá
EFA và phân tích hồi quy bằng phần mềm SPSS 20.0. Kết quả nghiên cứu cho
thấy yếu tố “Khả năng giải quyết công ăn, việc làm cho người lao động” tác
động mạnh nhất đến sự hài lòng của người lao động khi sử dụng dịch vụ xuất
khẩu lao động. Bài báo này cũng đã đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hơn
nữa chất lượng dịch vụ xuất khẩu lao động cũng như thỏa mãn khách hàng tốt
hơn tại Công ty Daystar.
Từ khóa: Xuất khẩu lao động, sự hài lòng, người lao động, Daystar, tỉnh Thừa
Thiên - Huế.
1. GIỚI THIỆU
Việt Nam nước đang phát triển, dân số hơn 98 triệu người,
đứng thứ 15 trên thế giới đứng thứ 3 trong khu vực Đông Nam Á.
1 Trường Đai học Kinh tế - Đại học Huế
* Tác giả liên hệ. Email: nguyennhuphuonganh@hce.edu.vn
151
Phần 1. QUẢN TRỊ KINH DOANH
Hằng năm với mức độ gia tăng dân số Việt Nam được xem là một trong
những nước nhiều lợi thế về lao động. Sau hơn 30 năm đổi mới, mở
cửa hội nhập và phát triển kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ
nghĩa, nền kinh tế nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn trên nhiều
lĩnh vực. Tuy nhiên, do tình trạng gia tăng nhanh về dân số lao động
dẫn đến nhu cầu việc làm luôn vấn đề cấp thiết đặt ra cho Đảng, Nhà
nước toàn xã hội giải quyết. Chương trình giải quyết việc làm quốc gia
hằng năm vẫn không đáp ứng được hết nhu cầu việc làm của người lao
động. Để giải quyết vấn đề này thì xuất khẩu lao động (XKLĐ) một
giải pháp phù hợp, một chiến lược quan trọng lâu dài góp phần giải
quyết việc làm, phát triển nguồn nhân lực, tăng thu nhập cho người lao
động, tăng trưởng kinh tế, tăng cường quan hệ kinh tế đối ngoại, thực hiện
tăng trưởng phát triển bền vững gắn liền với công bằng xã hội. Cùng
với thị trường lao động trong nước phục hồi mạnh mẽ trong 7 tháng đầu
năm 2022, thị trường lao động ngoài nước cũng phát triển, nhất là sau khi
dịch COVID-19 được kiểm soát thì số người lao động được đưa ra nước
ngoài làm việc tăng cao. Cục Quản Lao động Ngoài nước cho biết,
theo báo cáo từ các doanh nghiệp, tổng số lao động đi làm việc nước
ngoài trong tháng 7/2022 10.285 người lao động, bằng 1.316,9% so với
cùng kỳ năm ngoái (tháng 7/2021 là 781 lao động). Những thị trường có
nhiều người lao động Việt Nam đến làm việc Đài Loan (5.519 người
lao động), Nhật Bản (4.278 người lao động), Singapore (158 người lao
động), Hungari (67 người lao động), Trung Quốc (57 người lao động),
Ba Lan (52 người lao động), Hàn Quốc (39 người lao động), Rumania
(35 người lao động) các thị trường khác. Trong 7 tháng đầu năm 2022,
cả nước đã đưa 81.429 người lao động đi làm việc nước ngoài theo
hợp đồng, đạt 90,8% mục tiêu kế hoạch năm, trong đó 29.990 lao
động nữ. Trong đó, dẫn đầu là thị trường Nhật Bản, tiếp đến là Đài Loan,
Singapore, Hàn Quốc, Trung Quốc, Hungary, Rumani, Liên bang Nga,
Ba Lan… [14]
Thừa Thiên - Huế tỉnh nguồn lao động dồi dào, lực lượng lao
động trẻ, tuy nhiên đa phần người dân đều làm nông nghiệp và không có
trình độ chuyên môn. Chính vậy, tỷ lệ thất nghiệp nơi đây mức cao,
nhiều lao động xu hướng đi XKLĐ để cải thiện cuộc sống. Để giải
152
KỶ YẾU HỘI THẢO QUỐC TẾ DÀNH CHO CÁC NHÀ KHOA HỌC TRẺ KHỐI TRƯỜNG KINH TẾ VÀ KINH DOANH...
quyết tình trạng thất nghiệp một số bộ phận dân cư, tỉnh Thừa Thiên
- Huế đã thúc đẩy chính sách xuất khẩu lao động, coi đây một trong
những hướng quan trọng để giải quyết áp lực về vấn đề lao động, việc
làm, đẩy nhanh tiến trình xóa đói giải nghèo trên địa bàn tỉnh. Theo đánh
giá của ông Đặng Quang Tý, Phó Giám đốc Công ty cổ phần Dịch vụ xuất
khẩu lao động và chuyên gia (SULECO), Thừa Thiên - Huế là thị trường
XKLĐ tiềm năng sẽ rất phát triển trong thời gian tới đã cho thấy hiệu
quả tích cực với những người tham gia. Theo Sở Lao động - Thương binh
hội (LĐ-TB&XH) tỉnh Thừa Thiên - Huế, hàng năm trong tỉnh
hàng nghìn người đi xuất khẩu lao động trong đó thị trường xuất khẩu lao
động Nhật Bản chiếm tới 80% số lao động tham gia. Kết quả từ đầu năm
đến nay, toàn tỉnh Thừa Thiên - Huế có 441 lao động đi làm việc ở nước
ngoài theo hợp đồng lao động, đạt 22,1% theo kế hoạch của năm 2022.
Nhật Bản tiếp tục thị trường được nhiều lao động lựa chọn với 390
người đã đi làm việc ở đất nước này. Bên cạnh đó là các thị trường khác
như: Đài Loan, Hàn Quốc, Singapore các nước châu Âu,… Trong thời
gian tới, nhằm đẩy mạnh hơn nữa công tác xuất khẩu lao động, góp phần
giải quyết việc làm, góp phần giảm nghèo bền vững, Sở LĐ-TB&XH tỉnh
Thừa Thiên - Huế sẽ xây dựng, tham mưu cho Ủy ban nhân dân tỉnh kế
hoạch đưa người lao động thuộc hộ nghèo, cận nghèo đi làm việc ở nước
ngoài theo hợp đồng gắn với Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo
bền vững giai đoạn 2022 - 2025 [15].
Hoạt động vào năm 2012, một trong những công ty XKLĐ
đầu tiên của Thừa Thiên - Huế, Công ty TNHH Đầu Hợp tác quốc
tế Daystar đã được Bộ Lao động - Thương binh hội cấp giấy
phép hoạt động dịch vụ đưa người lao động đi làm việc nước ngoài.
Daystar không ngừng mở rộng các văn phòng trên toàn quốc với đội
ngũ lãnh đạo, nhân viên trẻ năng động, đầy nhiệt huyết của công ty. Từ
khi thành lập, Daystar đã đem lại nhiều điều kiện thuận lợi cho người
lao động tiếp cận, tham gia các chương trình xuất khẩu lao động. Đặc
biệt, thấu hiểu sự lo lắng của thực tập sinh cũng như các bậc phụ huynh
khi con em phải sống và làm việc ở xứ lạ, quê người. Thực tế việc xuất
khẩu lao động những thuận lợi, khó khăn về mặt kinh tế vã hội?
Để hạn chế những khó khăn trong việc xuất khẩu lao động thì cần
153
Phần 1. QUẢN TRỊ KINH DOANH
giải pháp như thế nào? Hơn nữa, các nghiên cứu về xuất khẩu lao động
sang Nhật Bản ở tỉnh Thừa Thiên - Huế chưa được nhiều và cũng chưa
có thang đo nghiên cứu cụ thể cho vấn đề này. Xuất phát từ những vấn
đề trên, việc nghiên cứu ảnh hưởng của dịch vụ xuất khẩu lao động sang
Nhật Bản đến sự hài lòng của người lao động tại Công ty TNHH Đầu
Hợp tác quốc tế Daystar là vô cùng cần thiết.
2. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Tổng quan nghiên cứu và cơ sở lý thuyết liên quan
2.1.1. Khái niệm về “xuất khẩu lao động”
Xuất khẩu lao động (XKLĐ) là một hình thức đặc thù của xuất khẩu
nói chung là một bộ phận của kinh tế đối ngoại, hàng hóa đem xuất
khẩu sức lao động của con người, còn khách mua chủ thể người nước
ngoài. Nói cách khác, XKLĐ một hoạt động kinh tế dưới dạng cung
ứng lao động cho nước ngoài mà đối tượng của nó là con người [2].
Xuất khẩu lao động là hoạt động mua - bán hàng hóa sức lao động
nội địa cho người sử dụng lao động nước ngoài.
Người sử dụng lao động nước ngoài đây chính chính phủ
nước ngoài hay quan, tổ chức kinh tế nước ngoài nhu cầu sử dụng
lao động trong nước.
Hàng hóa sức lao động nội địa muốn nói tới lực lượng lao động
trong nước sẵn sàng cung cấp sức lao động của mình cho người sử dụng
lao động nước ngoài.
Hoạt động mua - bán thể hiện chỗ người lao động trong nước
sẽ bán quyền sử dụng sức lao động của mình trong một khoảng thời
gian nhất định cho người sử dụng lao động nước ngoài để nhận về một
khoản tiền dưới hình thức tiền lương. Còn người sử dụng nước ngoài sẽ
dùng tiền của mình mua sức lao động của người lao động, yêu cầu họ
phải thực hiện công việc nhất định nào đó (do hai bên thỏa thuận) theo
ý muốn của mình.
Những hoạt động mua - bán này một điểm đặc biệt đáng lưu
ý là: quan hệ mua - bán chưa thể chấm dứt ngay được sức lao động
154
KỶ YẾU HỘI THẢO QUỐC TẾ DÀNH CHO CÁC NHÀ KHOA HỌC TRẺ KHỐI TRƯỜNG KINH TẾ VÀ KINH DOANH...
không thể tách rời người lao động. Quan hệ này khởi đầu cho một quan
hệ mới - quan hệ lao động. quan hệ lao động sẽ chỉ thực sự chấm dứt
khi hợp đồng lao động kết giữa hai bên hết hiệu lực hoặc bị xóa bỏ
hiệu lực theo thỏa thuận của hai bên.
2.1.2. Khái niệm về “mức sống”
Mức sống khái niệm phản ánh điều kiện sinh hoạt vật chất của
các cá nhân trong nền kinh tế. Nó còn được gọi mức phúc lợi kinh tế,
mức ích lợi hay mức thu nhập đầu người. Trong các phân tích kinh tế,
mức sống được coi bị quy định bởi mức tiêu dùng hàng hóa dịch
vụ (bao gồm cả nghỉ ngơi). Tuy nhiên, mức thu nhập tiêu dùng như
nhau thể đem lại phúc lợi khác nhau. Cho nên, khó khăn trong việc
xác định mức sống việc đánh giá những lợi ích và tác hại tác động tới
phong cách sống của con người, nhưng không giá trị kinh tế ước tính
được. Theo C. Mác: “Mức sống không chỉ sự thỏa mãn những nhu
cầu của đời sống vật chất mà cả các nhu cầu nhất định được sinh ra bởi
chính những điều kiện mà con người đang sống và trưởng thành” [2].
2.1.3. Vai trò của xuất khẩu lao động và tác động của xuất khẩu lao động sang Nhật Bản
đến tình hình kinh tế - xã hội ở Việt Nam
2.1.3.1. Vai trò của xuất khẩu lao động
Xuất khẩu lao động hoạt động kinh tế quan trọng đối với mỗi
quốc gia, đặc biệt đối với các nước kinh tế kém phát triển. Hoạt động
này đem lại lợi ích cho tất cả các bên tham gia: bên xuất khẩu lao động,
bên nhập khẩu lao động và bản thân người lao động.
Xuất khẩu lao động vai trò đặc biệt trong hoạt động kinh tế. Trước
hết, góp phần giải quyết việc làm tăng thu nhập cho người lao động.
Bên cạnh những đóng góp trên, xuất khẩu lao động còn đem lại nguồn
thu ngoại tệ đáng kể cho đất nước, góp phần cải thiện cán cân thanh toán
quốc tế, do vậy rút ngắn khoảng cách giàu - nghèo giữa nước phát triển
nước đang phát triển. Xuất khẩu lao động cũng một kênh đem lại
một nguồn thu nhập quan trọng cho đất nước. Đối với một nước hơn 90
triệu dân, với trên một nửa số người trong độ tuổi lao động, nhưng số
người thất nghiệp lại cao, dẫn đến gây áp lực cho hội, như an sinh