
PHẦN MÔ HỌC

1
NHẬP MÔN MÔ HỌC
1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM:
Mô học là môn khoa học nghiên cứu hình thái vi thể và siêu vi thể của tế bào,
mô, cơ quan cơ thể người bình thường, trong mối quan hệ chặt chẽ với ý nghĩa
chức năng của chúng.
Tế bào là đơn vị cấu tạo và chức năng của cơ thể sống. dựa vào chức năng có
thể xếp tế bào cơ thể thành những nhóm cơ bản sau: tế bào gốc, tế bào biểu mô,
tế bào chống đỡ, tế bào co rút (tế bào cơ), tế bào thần kinh, tế bào máu, tế bào
miễn dịch và tế bào chế tiết hormon.
Mô gồm quần thể tế bào đã chuyên môn hóa và những sản phẩm của tế bào
đảm nhiệm một hoặc vài chức phận nhất định. Cơ thể người có 05 loại mô cơ
bản: (1) biểu mô, (2) mô liên kết (mô liên kết chính thức, mô xương, mô sụn, mô
mỡ, mô lưới), (3) mô cơ, (4) mô thần kinh và (5) mô máu và bạch huyết.
Cơ quan là đơn vị cấu trúc gồm các nhóm mô, đảm nhiệm một hoặc nhiều
chức năng nhất định.
Hệ cơ quan gồm một nhóm các cơ quan liên hệ hoặc phụ thuộc nhau, đảm
nhiệm 1 hoặc nhiều chức phận nhất định.
Cơ thể ngƣời bao gồm các cơ quan và hệ cơ quan hoạt động tương tác với
nhau, đảm bảo sự thích nghi trong môi trường sống.
2. QUAN HỆ GIỮA MÔ HỌC VÀ CÁC MÔN HỌC KHÁC TRONG Y
SINH HỌC
Mô học được coi là mô học cơ sở về hình thái cho các môn học cơ sơ chức
năng như: sinh lý học, sinh hóa học và các môn học tiền lâm sàng như: giải phẩu
bệnh, sinh lý bệnh, dược lý học.
Với giải phẫu học: giải phẫu học và mô học là hai môn học hình thái học mà
sinh viên được học ngay những năm đầu khi vào trường y. Gải phẫu học nghiên
cứu mô tả bằng quan sát đại thể, mô học nghiên cứu mô tả cơ thể ở mức hiển vi.
Những phát hiện và hiểu biết về giải phẫu học là tiền đề để ngành mô học đi sâu
nghiên cứu; đổng thời những kiến thức về mô học làm phong phú và sâu thêm
những hiểu biết về giải phẫu.
Với sinh lý học: Sinh lý học nghiên cứu những cơ chế và qui luật hoạt động
chức năng của các cơ quan, hệ cơ quan của cơ thể người. Những hiểu biết về cấu
trúc đại thể (giải phẩu học) và đặc biệt là những kiến thức về vi thể, siêu vi thể
(mô học) giúp trả lời câu hỏi vì sau các cơ quan, hệ cơ quan lại thực hiện được
những chức năng đó.
Với những hiểu biết hiện nay về cơ thể con người, có thể nói: “Trong cơ thể
không có một cấu trúc nào không đảm một chức năng không có chức năng nào
không liên quan đến một cấu trúc”. Khi nghiên cứu mô tả cấu trúc hình thái của
tế bào, mô của cơ quan nào đó, người làm mô học luôn tìm hiểu liên hệ với ý
nghĩa chức năng của tế bào và mô ấy. Mô học không có nhiệm vụ nghiên cứu
hoạt động sinh lý của các cơ quan, hệ cơ quan, nhưng mô học luôn tìm hiểu ý
nghĩa chức năng của các cấu trúc đã nghiên cứu, ngày nay, mô sinh lý học là một
trong những hướng nghiên cứu của mô học hiện đại

2
Với sinh hóa học: việc áp dụng nghững kỹ thật nghiên cứu hóa tế bào, hóa mô
nhằm phát hiện và xác định vị trí, sự phân bố và những biến đổi các thành phần
hóa học ở tế bào và mô đã chứng tỏ mối quan hệ mật thiết giữa hóa học, hóa sinh
học với tế bào học, mô học,…
Với những môn bệnh học và lâm sàng: những kiến thức mô học của cơ thể
người bình thường là không thể thiếu để có thể nhận ra được những cấu trúc bệnh
lý bất thường và giúp hiểu thấu đáu những quá trình sinh hóa bất thường và sinh
lý bệnh.
Cùng với những khám xét lâm sàng và cận lâm sàng khác các lâm sàng còn
sử dụng các kết quả phân tích về tế bào học, mô học… Giúp cho việc chẩn đoán,
tiên lượng, theo dõi trong quá trình điều trị cho người bệnh. Nhà bệnh lý học
người Đức Rudolf Virchow (1821 - 1902) đã từng có câu nói nổi tiếng: “…Tôi
khẳng định rằng, không một thầy thuốc giỏi nào lại không hiểu biết tường tận về
cấu trúc cơ thể con người!...”
3. PHƢƠNG PHÁP HỌC TẬP
Để đạt kết quả học tập, cần có phương pháp phù hợp. Ngoài việc phải nắm
vững những mục tiêu học tập của mỗi bài, sinh viên cần lưu ý những điểm sau:
+ Vì mô học là môn học hình thái mô tả, nhiều chi tiết và thuật ngữ, nên cần
học cách gọi tên và mô tả đúng các cấu trúc, hiểu các hình và tập vẽ các hình
minh họa; nên làm dàn ý chi tiết bài học của riêng mình.
+ Nên liên hệ giữa đặc điểm hình thái với ý nghĩa chức năng của cấu trúc.
+ Tích cực, chủ đông tham gia các buổi thực tập trên tiêu bản để củng cố kiến
thức.

3
MÔ VÀ BIỂU MÔ
MỤC TIÊU:
1. Trình bày được khái niệm và các đặc điểm cấu tạo của biểu mô.
2. Mô tả được các cấu trúc liên kết giữa các tế bào.
3. Mô tả được cấu trúc mô học của 9 loại biểu mô phủ và trình bày vị trí
của chúng trong cơ thể.
4. Phân loại biểu mô tuyến.
5. Mô tả được các kiểu chế tiết của biểu mô tuyến.
NỘI DUNG
1. MÔ LÀ GÌ?
Mọi cơ thể sống có hai phạm trù cơ bản: cấu tạo và chức năng. Bất kỳ cấu
tạo nào cũng đều đảm nhiệm những chức năng nhất định và ngược lại, bất kỳ
chức năng nào cũng đều do một hoặc một số cấu tạo nào đó thực hiện.
Cơ thể người và động vật là một thề thống nhất, toàn vẹn, trong đó có thể chia
thành nhiều mức độ tổ chức khác nhau: phân tử, tế bào, mô, cơ quan và cơ thể.
Tế bào là đơn vị sống cơ bản về cấu tạo và chức năng của mọi cơ thể
sống.
Mô là một hệ thống các tế bào và chất gian bào có cùng nguồn gốc, cấu
tạo và chức năng, chúng được hình thành trong quá trình tiến hóa sinh học và
xuất hiện ở cơ thể đa bào do quá trình biệt hóa.
Cơ thể người có 5 loại mô chính:
- Biểu mô (biểu mô phủ và biểu mô tuyến)
- Mô liên kết (mô liên kết chính thức, mô sụn và mô
xương, mô mỡ và mô lưới)
- Mô cơ
- Mô thần kinh.
- Mô máu và bạch huyết
2. ĐẶC ĐIỂM CẤU TẠO CỦA BIỂU MÔ:
Biểu mô là mô gồm những tế bào xếp sát nhau với một khoảng gian bào
không đáng kể. Biểu mô có tác dụng phủ mặt ngoài cơ thể, các khoang trong cơ
thể hoặc tạo thành các tuyến.
Biểu mô có nguồn gốc từ ngoại bì hoặc trung bì hoặc nội bì.
Biểu mô có hai loại:
+ Biểu mô phủ: Lợp mặt ngoài cơ thể hoặc mặt trong các khoang
thiên nhiên như: da, ống tiêu hóa, bàng quang , tử cung…
+ Biểu mô tuyến: tuyến ngoại tiết và tuyến nội tiết.
Chức năng chung của biểu mô: bảo vệ, hấp thu, tái hấp thu, chế tiết.

4
Biểu mô có 5 đặc điểm cấu tạo:
- Các tế bào biểu mô thường đứng sát nhau, tạo thành lớp và tựa trên
màng đáy ngăn cách với mô liên kết.
- Lớp biểu mô thường có tính phân cực: cực ngọn quay về phía môi
trường hoặc các khoang, cực đáy tựa trên màng đáy. Tính phân cực thể hiện ở
cấu tạo, phân bố bào quan và hoạt động tế bào.
- Các tế bào biểu mô lân cận liên kết với nhau rất chặt chẽ bằng các hình
thức liên kết phong phú.
- Trong biểu mô không có mạch máu. Biểu mô được nuôi dưỡng nhờ sự
thẩm thấu các chất từ mô liên kết qua màng đáy.
- Hầu hết biểu mô, đặc biệt là biểu mô phủ có khả năng tái tạo mạnh.
3. BIỂU MÔ PHỦ:
3.1. Tế bào biểu mô phủ
3.1.1. Bào quan đặc biệt:
Vi nhung mao: là những nhánh bào tương cực ngọn tế bào, do bào tương
đội màng tế bào lên để tăng diện tích bề mặt tế bào. Có cấu trúc khá kiên định
nhờ bên trong có những sợi actin chạy dọc theo nhung mao.
Lông chuyển: có cấu trúc giống như trung thể, bên ngoài được bọc bởi
một màng tế bào, nó có nhiều ở cực ngọn của tế bào trụ có lông chuyển của biểu
mô đường hô hấp. Mỗi lông chuyển gồm 9 nhóm siêu ống ngoại vi và 2 siêu ống
trung tâm xếp song song nhau và chạy theo chiều dọc của lông chuyển.
Nếp gấp đáy: là những chỗ màng bào tương ở cực đáy tế bào biểu mô lõm
sâu vào bào tương tế bào tạo thành những mê đạo đáy.
3.1.2. Sự liên kết giữa các tế bào:
Các tế bào biểu mô gần nhau liên kết với nhau rất chặt chẽ, nhờ các cấu
trúc liên kết phong phú: chất gắn, khớp mộng, liên kết vòng bịt, thể liên kết vòng,
thể liên kết, liên kết khe.
Chất gắn: Là những phân tử kết dính tế bào nằm trong khoảng gian
bào hẹp giữa các tế bào.
Khớp mộng: Là cấu trúc lồi lõm của tế bào khớp vào nhau.
Liên kết vòng bịt: Là vùng liên kết khít ở cực ngọn, 2 màng tế bào như
được may lại bởi những hàng phân tử protein.

