
Giáo trình: Bài Giảng Mô Học - Phôi Thai Học (1994), NBX Y học, Hà Nội.
Biên soạn: PGS.TS.Trịnh Bình, Đỗ Kính
175
CHƯƠNG 9
HỆ DA VÀ CÁC BỘ PHẬN THUỘC DA
9.1. Thông tin chung
9.1.1. Giới thiệu tóm tắt nội dung bài học
Bài học cung cấp kiến thức tổng quát về cấu tạo hình thái vi thể, siêu vi thể và
hóa học của các mô và các bộ phận chủ yếu của những cơ quan trong cơ thể người
bình thường, cấu tạo, chức năng của các mô, các cơ quan và các nội dung liên quan
đến Mô phôi.
9.1.2. Mục tiêu học tập
• Trinh bày được 6 chức năng chính của da.
• Mô tả được cấu tạo mô học của biểu bì, chân bì và hạ bì.
• So sánh được da dày và da mỏng.
• Mô tả được tuần hoàn và phân bố thần kinh ở da.
• Mô tả được cấu tạo của tuyến mồ hôi, tuyến bã.
9.1.3. Chuẩn đầu ra
Ứng dụng được các hiểu biết về Mô phôi học vào các môn y học khác để phòng bệnh
và điều trị.
9.1.4. Tài liệu giảng dạy
9.1.4.1 Giáo trình
Trịnh Bình, Đỗ Kính (1994). Bài Giảng Mô Học - Phôi Thai Học, NBX Y học, Hà
Nội.
9.1.4.2 Tài liệu tham khảo
1. Bộ Y Tế (2007). Mô – phôi: Phần Mô học, NXB Y học, Hà Nội
2. Trang Thị Ánh Tuyết (2011). Bài Giảng Mô Phôi, NXB Y học, TP. HCM.
9.1.5. Yêu cầu cần thực hiện trước, trong và sau khi học tập
Sinh viên đọc trước bài giảng, tìm hiểu các nội dung liên quan đến bài học, tích cực
tham gia thảo luận và xây dựng bài học, ôn tập, trả lời các câu hỏi, trình bày các nội
dung cần giải đáp và tìm đọc các tài liệu tham khảo.

Giáo trình: Bài Giảng Mô Học - Phôi Thai Học (1994), NBX Y học, Hà Nội.
Biên soạn: PGS.TS.Trịnh Bình, Đỗ Kính
176
9.2. Nội dung chính
Da là một hệ thống bao phủ mặt ngoài cơ thể, có trọng lượng lớn hơn bất kỳ cơ
quan nào của cơ thể và diện tích tổng cộng ở người có thể đạt từ 1,5 – 2 m2. Hệ thống
da gồm da và các phần phụ thuộc da như tuyến mồ hôi, tuyến bã, lông, móng. Hệ
thống da có nhiều chức năng quan trọng:
• Chức năng bảo vệ: da là hàng rào ngăn cách cơ thể với môi trường, chống sự xâm
nhập của vi sinh vật. Da là lớp không thấm nước và các chất kiềm, acid. Tuy vậy,
nhiều hóa chất vẫn có thể thấm qua biểu bì và lọt vào các mao mạch ở chân bì, do đó
da cần được bảo vệ khi tiếp xúc với các chất độc. Sắc tố melanin ở da bảo vệ cơ thể
đối với các tia cực tím.
• Chức năng xúc giác: Ở biểu bì, chân bì, hạ bì đều có nhiều thần kinh giúp cơ thể
nhận biết các cảm giác về nhiệt, áp suất, đau, xúc giác tinh tế. Trong 1cm2 da có
khoảng 300 điểm cảm giác.
• Chức năng điều hòa thân nhiệt.
• Chức năng bài tiết được thực hiện bằng tiết mồ hôi.
• Chức năng chuyển hóa (protein, vitamin D...).
• Chức năng dự trữ máu: do có hệ mạch phong phú, da còn làm nhiệm vụ dự trữ máu
theo cơ năng; ở người trưởng thành, da có thể chứa giữ 1 lít máu.
Da có thể xem như bộ mặt của sức khỏe, trong nhiều trường hợp da có những
thay đổi đặc hiệu cùng với các bệnh khác nhau.
Da phát triển từ 2 lá phôi: biểu bì từ ngoại bì da, chân bì và hạ bì từ trung bì.
Vào tuần lễ đầu, biểu bì da chỉ có 1 lớp tế bào dẹt. Về sau các tế bào này cao dần. Đến
tháng thứ 2, biểu bì có 2 hàng tế bào, tháng thứ 3 biểu bì có nhiều hàng tế bào hơn và
bắt đầu có hiện tượng sừng hóa (trước hết là ở bàn tay, bàn chân). Trong tháng thứ 3
đã quan sát mầm lông, các tuyến và móng. Mô liên kết da ở giai đoạn này bắt đầu hình
thành nhiều sợi liên kết, hệ mạch trở nên phong phú hơn. Đôi chỗ có các điểm tạo
huyết. Đến tháng thứ 8, quá trình tạo tế bào máu chấm dứt và các điểm tạo huyết được
thay thế bằng mô mỡ. Các vân đầu ngón tay bắt đầu xuất hiện vào tuần thứ 13.
Da được cấu tạo từ 3 lớp: biểu bì, chân bì và hạ bì, có chiều dày khoảng 0.5 –
5mm.

Giáo trình: Bài Giảng Mô Học - Phôi Thai Học (1994), NBX Y học, Hà Nội.
Biên soạn: PGS.TS.Trịnh Bình, Đỗ Kính
177
Hình 9.1. Sơ đồ cấu tạo của da.
Hình 9.2. Sơ đồ cấu tạo của da và nếp vân da.

Giáo trình: Bài Giảng Mô Học - Phôi Thai Học (1994), NBX Y học, Hà Nội.
Biên soạn: PGS.TS.Trịnh Bình, Đỗ Kính
178
Hình 9.3. Các lớp cấu tạo của biểu bì.
9.2.1. CẤU TẠO CỦA DA
- Biểu bì:
Biểu bì là một biểu mô lát tầng sừng hóa được ngăn cách với lớp chân bì bởi
màng đáy. Kể từ dưới lên trên bề mặt, biểu bì gồm các lớp tế bào như sau: Lớp sinh
sản (còn gọi là lớp đáy), lớp gai (hay lớp sợi), lớp hạt, lớp bóng và lớp sừng. (xem
“biểu mô”). Biểu bì dày khoảng 0,03 – 1,5 mm.
Về thành phần tế bào, biểu bì có các loại tế bào như: tế bào sừng (kératinocyte),
tế bào sắc tố, tế bào Langerhans và tế bào Merkel.
Tế bào sừng:
Là tế bào chính ở biểu bì chúng sinh sản và biến đổi cấu trúc dần khi bị đẩy lên
bề mặt. Ở da dày, các tế bào sừng di chuyển từ lớp đáy lên đến bề mặt mất khoảng 10-
30 ngày.
• Ở lớp đáy, tế bào sừng còn nhiều khả năng sinh sản (khoảng 10% tế bào là tế bào
đầu dòng) chúng có dạng hình khối vuông, đa diện hoặc trụ thấp. Trong bào tương có
nhiều siêu sợi trung gian kiểu tiền sừng (prekeratin) hay còn gọi là tơ trương lực. Các
siêu sợi này tạo thành bó và tiến đến tạo sừng. Một số tế bào có thể chứa một số hạt
melanin. Các tế bào sừng ở lớp đáy liên kết với nhau nhờ thể liên kết hay thể bán liên
kết.
• Ở lớp gai: Gồm từ 3-15 hàng tế bào sừng đa diện có nhân lớn nằm giữa. Giữa các
tế bào này xuất hiện một khoảng gian bào hẹp. Các tế bào lân cận liên kết với nhau

Giáo trình: Bài Giảng Mô Học - Phôi Thai Học (1994), NBX Y học, Hà Nội.
Biên soạn: PGS.TS.Trịnh Bình, Đỗ Kính
179
nhờ các thể liên kết có dạng gai (xem biểu mô). Càng lên trên số tơ trương lực càng
nhiều, càng tạo thành bó dày, bào tâm mất dần.
Hình 9.3. Tế bào lớp gai dưới KHV điện tử.
Ở lớp hạt: gồm 2-5 hàng tế bào đã biến đổi thành dạng hình thoi, trong bào
tương chứa nhiều hạt ưa bazơ, gọi là hạt keratohyalin. Các hạt keratohyalin có kích
thước 2 mm nằm bên các tơ trương lực. Điều đó chứng tỏ quá trình sừng hóa bắt đầu.
Theo nhiều tác giả thì keratohyalin có thể xem như chất tiền sừng.
Cấu trúc đặc trưng khác trong tế bào lớp hạt là những hạt có màng. Khác với
hạt keratohyalin không có màng, các hạt này được hình thành trong vùng bộ Golgi, có
màng bọc ngoài. Dưới kính hiển vi điện tử, những hạt này có dạng lá, chứa
glycosaminoglycan, phospholipid. Màng của hạt hòa vào màng tế bào và chất chứa
bên trong sẽ giải phóng vào khoảng gian bào của lớp hạt. Như vậy

