Bài 3: Ngân sách nhà nước
32 TXNHLT06_Bai 3_v1.0014108207
BÀI 3 NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
Hướng dẫn học
Để học tốt bài này, sinh viên cần tham khảo các phương pháp học sau:
Học đúng lịch trình của môn học theo tuần, làm các bài luyện tập đầy đủ tham gia
thảo luận trên diễn đàn.
Đọc tài liệu:
1. Kinh tế học công cộng, NXBKHKT, 1995 (tác giả Joseph E.Stiglitz).
2. Giáo trình Quản lý tài chính công, NXB tài chính – Hà nội 2005.
3. Giáo trình Quản lý thuế, Nguyễn Thị Bất, NXB Thống kê 2002.
Sinh viên làm việc theo nhóm và trao đổi với giảng viên trực tiếp tại lớp học hoặc qua email.
Tham khảo các thông tin từ trang Web môn học.
Nội dung
Bản chất kinh tế và vai trò của ngân sách nhà nước;
Thu, chi ngân sách nhà nước;
Mục lục ngân sách nhà nước;
Năm ngân sách và chu trình ngân sách nhà nước.
Mục tiêu
Với mục tiêu của bài giúp sinh viên nắm được lý thuyết chung về ngân sách nhà nước. Kết
thúc bài, sinh viên sẽ cái nhìn tổng quan về bản chất, vai trò ca ngân sách nhà nưc;
nắm được các nội dung thu chi của ngân sách nhà nước, mục lục ngân sách nhà nước, năm
ngân sách và chu trình ngân sách.
Bài 3: Ngân sách nhà nước
TXNHLT06_Bai 3_v1.0014108207 33
Tình huống dẫn nhập
Báo động khả năng thu ngân sách nhà nước so với dự toán
Tại buổi họp báo hôm 10–10–2013, Thứ trưởng Bộ Tài chính Vũ Thị Mai, cho biết mọi năm, thu
ngân sách chín tháng thường đạt 80% dự toán, năm nay chỉ đạt 66,6%. Dự báo khả năng thu
ngân sách năm 2014, không đạt được như dự toán. Trong khi đó, theo bà Mai, chi ngân sách Nhà
nước vẫn không ngừng tăng, đặc biệt là chi phát triển sự nghiệp và chi quản lý hành chính.
1. Vậy, nguyên nhân bản nào dẫn tới tình trạng sụt giảm của khả năng thu
ngân sách nhà nước và sự gia tăng chi ngân sách nhà nước?
2. Hậu quả của tình trạng chi vượt quá số thu cho phép sẽ c động như
thế nào đến nền kinh tế của Việt Nam?
Bài 3: Ngân sách nhà nước
34 TXNHLT06_Bai 3_v1.0014108207
3.1. Bản chất kinh tế, đặc điểm và vai trò của ngân sách nhà nước
3.1.1. Bản chất kinh tế
Như chúng ta đã biết, sự ra đời của nhà nước, sự tồn tại của kinh tế hàng hóa tiền tệ
là những tiền đề cho sự phát sinh, tồn tại và phát triển của ngân sách nhà nước.
Cho đến nay, ngân sách nhà nước một phạm trù kinh tế phạm trù lịch sử;
một thành phần trong hệ thống tài chính. Thuật ngữ "Ngân sách nnước" được sử
dụng rộng rãi trong đời sống kinh tế, hội mọi quốc gia. Song quan niệm về ngân
sách nhà nước lại chưa thống nhất, người ta đã đưa ra nhiều định nghĩa về ngân sách
nhà nước tùy theo các trường phái và các lĩnh vực nghiên cứu.
Có những quan niệm cho rằng:
Ngân sách nhà nước một văn kiện tài chính, tả các khoản thu, chi của chính
phủ được thiết lập hàng năm, ngân sách nhà nước quỹ tiền tệ tập trung của nhà
nước, là kế hoạch tài chính cơ bản của nhà nước.
Ngân sách nhà nước những quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình nhà nước
huy động và sử dụng các nguồn tài chính khác nhau.
Thực ra khi nói đến phạm trù ngân sách nhà nước, chúng ta có thể thấy rằng:
Xét về hình thức: ngân sách nhà nước một bản dự toán
(kế hoạch) thu chi do chính phủ lập ra, đệ trình quốc hội
phê chuẩn.
Xét về thực thể vật chất: ngân sách nhà nước bao gồm
những nguồn thu cụ thể, những khoản chi cụ thể được
định lượng (ngân sách nhà nước một quỹ tiền tệ lớn của
nhà nước).
Xét trong hệ thống tài chính: ngân sách nhà nước một khâu trong hệ thống tài
chính quốc gia.
Tuy nhiên, xét về mặt bản chất, ngân sách nhà nước một hệ thống các quan hệ kinh
tế. Giữa một bên là nhà nước với một bên là các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế.
Đó là những mối quan hệ như:
Quan hệ giữa nhà nước với các cơ quan tổ chức xã hội;
Quan hệ giữa nhà nước với các doanh nghiệp;
Quan hệ giữa nhà nước với tầng lớp dân cư;
Quan hệ giữa nhà nước với nhà nước khác.
Những mối quan hệ này luôn trong quá trình vận động và là quan hệ kinh tế hai chiều.
Chính sự vận động qua lại của các quan hệ kinh tế này dẫn tới việc hình thành sử
dụng quỹ ngân sách nhà nước.
Nói tóm lại, từ những phân tích trên đây, chúng ta có thể rút ra bản chất của ngân sách
nhà nước như sau: Ngân sách nhà nước là h thng các mi quan h kinh tế xã hi, phát
sinh trong quá trình nhà nước huy động, phân phi và s dng qu tin t tp trung ca
nhà nước da trên nguyên tc không hoàn tr trc tiếp nhm đảm bo thc hin các chc
năng qun lý và điu hành nn kinh tế xã hi ca nhà nước theo lut định.
Bài 3: Ngân sách nhà nước
TXNHLT06_Bai 3_v1.0014108207 35
3.1.2. Đặc điểm của ngân sách nhà nước
Trong hệ thống tài chính nhà nước, ngân sách nhà nước một bộ phận chủ yếu đóng
vai trò chủ đạo; khâu trung tâm, quyết định chi phối các quan hệ tài chính
khác. Nội dung các khoản thu chi của ngân sách nhà nước thể hiện đầy đủ cả quan hệ
tài chính giữa nhà nước với các chủ thể khác nhau trong nền kinh tế, bao gồm: Các
cộng đồng dân cư, các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, đặc biệt các
doanh nghiệp nhà nước, các tổ chức chính trị hội, các đơn vị sự nghiệp, các nước
các tổ chức quốc tế. Nghiên cứu các quan hệ tài chính nói trên, chúng ta thể rút
ra các đặc điểm của ngân sách nhà nước như sau:
3.1.2.1. Ngân sách nhà nước qutiền tệ tập trung lớn nhất, gắn với quyền lực
của nhà nước trong quá trình tạo lập, phân phối sử dụng các nguồn lực
của tài chính
Tất cả các nguồn thu từ lớn đến nhỏ của quốc gia đều được tập trung vào quỹ ngân
sách nhà nước, mọi khoản chi tiêu lớn nhỏ của nhà nước cho nền kinh tế hội đều
được xuất ra tquỹ ngân sách quốc gia. Việc tạo lập, phân phối sử dụng quỹ ngân
sách luôn gắn liền với quyền lực của nhà nước. Vì vậy tính pháp lý của ngân sách nhà
nước là cao nhất. Tất cả các quan hệ tài chính trong quá trình tạo lập các khoản thu và
cấp phát thanh toán các khoản chi ngân sách nhà nước đều phải do luật định (chủ yếu
là luật Ngân sách nhà nước, các luật Thuế, luật Quản lý nợ công, luật Đầu tư…)
3.1.2.2. Ngân sách nhà nước gắn mật thiết với quyền sở hữu của nhà nước
lợi ích chung của công cộng
Hoạt động của ngân sách nhà nước được thực hiện theo một
chu trình tính nguyên tắc, bao gồm 3 khâu: lập dự toán,
chấp hành quyết toán ngân sách. Hoạt động thu chi ngân
sách nhà nước sự thể hiện đầy đủ các mặt hoạt động kinh tế
của nhà nước. quá trình xử các mối quan hệ lợi ích đối
với các chủ thể khác nhau trong hội khi nhà nước tham gia
tạo lập, phân phối sử dụng các nguồn tài chính quốc gia.
Lợi ích quốc gia phải đảm bảo nguyên tắc công bằng, tính hợp
khoa học trong ngắn hạn dài hạn, trước mắt lâu dài. Các nguyên tắc này
phải thể hiện được ngay cả trong quá trình phân phối thu nhập của các doanh nghiệp
cộng đồng dân cư, cả trong việc phân bổ các nguồn lực tài chính cho các chủ thể
khác nhau trong hội để thực hiện thành công các mục tiêu phát triển kinh tế hội,
bảo đảm an ninh quốc phòng và nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của mọi thành
viên trong xã hội.
3.1.2.3. Việc quản ngân sách nhà nước được thực hiện không chỉ đối với quỹ
tiền tệ tập trung mà cả đối với các quỹ tiền tệ không tập trung
Hoạt động của ngân sách nhà nước phải bảo đảm lợi ích chung của cộng đồng, tạo
mọi điều kiện cần thiết cho sự phát triển của nền kinh tế hội. Quỹ ngân sách nhà
nước được phân chia thành các quỹ tiền tệ tập trung không tập trung. Quỹ tiền tệ
tập trung chủ yếu do hệ thống tài chính nhà nước quản lý, được phân cấp cho ngân
Bài 3: Ngân sách nhà nước
36 TXNHLT06_Bai 3_v1.0014108207
sách trung ương ngân sách địa phương. Quỹ tiền tệ không tập trung của nhà nước
nguồn gốc từ ngân sách nhưng đã được cấp phát phân chia cho các bộ ngành,
các đơn vị quản sử dụng dưới mọi hình thức, cấp vốn điều lệ cho các doanh
nghiệp nhà nước (công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên), phần vốn đầu của
nhà nước trong các công ty cổ phần, doanh nghiệp liên doanh, cấp vốn để thành lập
các quỹ tài chính công ngoài ngân sách (quỹ Dự trữ nhà nước, quBảo hiểm hội,
Bảo hiểm y tế, Bảo vệ môi trường Việt Nam, quỹ Đầu phát triển địa phương…),
cấp vốn cho các quan hành chính nhà nước, các đơn vị nghiệp công lập, các tổ
chức chính trị – xã hội…
Các quỹ tiền tệ nguồn gốc từ ngân sách nhà nước nhưng không tập trung này
chế sử dụng riêng, phù hợp với chức năng nhiệm vụ quyền hạn của các tổ chức
theo luật định. Như vậy, việc quản điều hành ngân sách nhà nước nói chung dựa
trên nguyên tắc phân cấp, phân chia sẽ thuận lợi, thông thoáng và hiệu quả hơn.
3.1.2.4. Các khoản thu chi của ngân sách nhà nước không được hoàn trả trực tiếp
Tính chất không hoàn trả trực tiếp các khoản thu chi
của ngân sách nhà nước một trong những đặc trưng
cơ bản của ngân sách nhà nước. Mọi khoản thu chi của
ngân sách nhà nước từ các thể nhân pháp nhân trực
tiếp tham gia hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ
đều nghĩa vụ đóng góp cho nhà nước dưới các hình
thức thuế, phí lệ phí để hình thành quỹ ngân sách
nhà nước. Nghĩa vụ đóp góp của họ chủ yếu dựa trên kết quả thu nhập đặc điểm,
tính chất hoạt động, được hay không được nhà nước ưu tiên, khuyến khích… Các
khoản thu này đều tính chất bắt buộc không được hoàn trả trực tiếp. Họ được
nhà nước hoàn trả gián tiếp một phần dưới các hình thức sử dụng các công trình thuộc
kết cấu hạ tầng, các công trình phúc lợi công cộng, cải tạo môi trường sinh thái, tạo
lập thị trường cung cấp nguyên liệu tiêu thụ sản phẩm hàng hoá, ổn định nền kinh
tế vĩ mô…
Mọi khoản chi của ngân sách nhà nước cho các thể nhân pháp nhân từ các quỹ tiền
tệ tập trung và không trung dưới các hình thức cấp phát và đầu tư (ngoại trừ các khoản
nhà nước cho vay) đều không phải hoàn trả trực tiếp. Mức độ cấp phát đầu của
ngân sách nhà nước dựa trên đặc điểm, tính chất hoạt động của tchức, quan
đơn vị. Tính hoàn trả gián tiếp một phần cho nhà nước của các tchức, quan
đơn vị này được thể hiện rất trừu tượng đa dạng, tuỳ thuộc vào hiệu quả công việc
sự đóng góp của họ vào quá trình phát triển kinh tế hội, hỗ trợ cho các ngành
kinh tế phát triển, chăm sóc sức khoẻ cho cộng đồng, bảo vệ môi trường sinh thái, cải
cách hành chính, ổn định chính trị trật tự hội, bảo đảm an ninh quốc phòng, mở
rộng quan hệ đối ngoại và hợp tác quốc tế…
3.1.3. Vai trò của ngân sách nhà nước
Ngân sách nhà nước vai trất quan trọng trong toàn bộ hoạt động kinh tế, hội,
an ninh, quốc phòng đối ngoại của đất nước. Cần hiểu rằng, vai tcủa ngân sách
nhà nước luôn gắn liền với vai trò của nhà nước theo từng giai đoạn nhất định. Đối với