LỚP NGHIỆP VỤ SƯ PHẠM GIẢNG VIÊN
CAO ĐẲNG ĐẠI HỌC
KHOÁ 22 (K3.NTT)
Chuyên đề: Đánh giá trong giáo dục đại học
K3.2024 - NGUYỄN TẤT THÀNH
Họ và tên: Cao Hữu Trí
Ngày sinh: 25.06.1991
Nơi sinh: Thành phố Hồ Chí Minh
Câu 1: Anh/Chị hãy phân tích những đặc điểm cơ bản của các mô hình quản lí chất
lượng (kiểm soát chất lượng, đảm bảo chất lượng, quản chất lượng tổng thể)
mối quan hệ qua lại giữa ba loại mô hình này.
Câu 2: Anh/Chị đánh giá chất lượng giáo dục đại học Việt Nam trong giai đoạn
hiện nay như thế nào vọng về chất lượng giáo dục đại học Việt Nam trong
bối cảnh của hội nhập quốc tế, của sự phát triển nhanh chóng KH&CN, đặc biệt
trong bối cảnh đổi mới căn bản toàn diện giáo dục Việt Nam khi luật giáo dục
2019 có hiệu lực từ 01/7/2020.
Bài làm
Câu 1.
Những đặc điểm bản của các hình quản chất lượng: kiểm soát chất
lượng, đảm bảo chất lượng, quản lí chất lượng tổng thể
Khái niệm chất lượng nhiều sắc thái khác nhau, được hiểu theo nhiều cách.
Chất lượng có thể được diễn tả dưới nghĩa tuyệt đối và nghĩa tương đối.
Ở nghĩa tuyệt đối, một vật có chất lượng là vật đạt những tiêu chuẩn tuyệt hảo,
không thể tốt hơn. Đó vật quý hiếm (đắt tiền). Chất lượng tuyệt đối cái
“mọi người đều ngưỡng mộ, nhiều người muốn và rất ít người có thể sở hữu”.
Với nghĩa tương đối có thể hiểu là tổng hoà những đặc trưng của sản phẩm hay dịch
vụ thoả mãn nhu cầu tiêu dùng trong những điều kiện nhất định. Một cách tổng
quát, chất lượng sự phù hợp với yêu cầu theo một số tác giả, sự phù họp đó
phải được thể hiện ở ba phương diện: hoàn thiện (perfectibility), giá cả (price), thời
điểm (punctuality).
Chất lượng luôn là khát vọng của con người trong quá trình tồn tại và phát triển với
mong muốn thoả mãn mức cao nhất nhu cầu của bản thân, của gia đình cũng như
cộng đồng.mỗi giai đoạn phát triển cùa lịch sử, tương ứng với trinh độ phát triển
của kinh tế - hội, của khoa học công nghệ, trong từng lĩnh vực cụ thể của đời
sống hội, con người những quan điểm khác nhau về chất lượng. Chất lượng
Giáo Dục cũng nằm trong quy luật này.
Hoạt động quản lí các yếu tố và quá trình theo định hướng chất lượng, cùng với chất
lượng thì Quản lí chất lượngkhái niệm được phát triển và hoàn thiện liên tục, thể
1
hiện ngày càng đầy đủ hơn bản chất tổng họp, phức tạp của vấn đề chất lượng, đồng
thời phản ánh sự thích ứng với môi trường hoạt động mới.
Theo TCVN 5914-1994: “Quản lí chất lượng toàn diệncách quản lí một tổ chức
tập trung vào chất lượng, dựa vào s tham gia của tất cả các thành viên của nó,
nhằm đạt được sự thành công lâu dài nhờ vào việc thỏa mãn khách hàng
đem lại lợi ích cho các thành viên của tổ chức đó và cho xã hội”.
Với quản lí chất lượng là hệ thống các quy trình nhằm đảm bảo chất lượng cho toàn
hệ thống, thoả mãn nhu cầu thị trường với chỉ phi thấp nhất, có hiệu quả kinh tế cao
nhất, được tiến hành trong tất cả các giai đoạn từ thiết kế, sản xuất cho đến phân
phối, sử dụng sản phẩm
Quản chất lượng trong Giáo Dục một phương thức công cụ chủ yếu bộ
chuẩn bao gồm các tiêu chuẩn, tiêu chí, chỉ báo các quy trình thực hiện các tiêu
chuẩn đó.
Như vậy quản chất lượng trong Giáo Dục xây dựng vận hành một hệ thống
quản (trên s các tiêu chuẩn, tiêu chỉ) nhằm tác động o các điều kiện đảm
bảo chất lượng trong tất cả các giai đoạn của quá trình Giáo Dục, cho tất cả các sản
phẩm của cả hệ thống chứ không nhằm vào chất lượng của từng giai đoạn hay từng
sản phẩm đơn lẻ.
Quản chất lượng được thực hiện bằng nhiều phương pháp khác nhau, các cấp độ
trong quản chất lượng: Kiểm soát chất lượng (Quality Control), Đảm bảo chất
lượng (Quality Assurance), Quản chất lượng tổng thể (Total Quality
Management)
Kiểm soát chất lượng (Quality Control)
Trên thực tế, tưởng về quản chất lượng xuất hiện rất sớm, nhưng mang tính t
phát. Từ trước cách mạng công nghiệp, những người thợ thủ công đã làm vic va
vi tư cách là người sản xuất vừa là người kiểm tra, tìm cách khắc phục nhng khiếm
khuyết trong thao tác để tạo ra sản phẩm mà họ cho là có chất lưng tt.
Để đảm bảo cho sản phẩm được sản xuất một cách chính xác, người ta dựa vào bộ
phận “kiểm soát chất lượng”. Thuật ngữ “Kiểm soát chất lượng” lâu đời nhất về
mặt lịch sử của khoa học quản lí. bao gồm việc kiểm tra loại bỏ các thành
2
phẩm hay sản phẩm cuối cùng không thoả mãn các tiêu chuẩn đã đề ra trước đó.
Đây là công đoạn xảy ra sau cùng khi sàn phẩm đã được làm xong, có liên quan tới
việc loại bỏ hoặc từ chối những hạng mục hay sản phẩm có lỗi.
Với sự phát triển, mở rộng sản xuất, “kiểm soát chất lượng” thực chất là loại bỏ các
sản phẩm không đạt yêu cầu.
Đảm bảo chất lượng (Quality Assurance)
Thuật ngữ “đảm bảo chất lượng” ra đời vào thập niên 20 của thế kỉ XX, khi nhân
viên bộ phận kiểm soát chất lượng của Công ty Westem Electric (Mỹ) được giao
nhiệm vụ phát triển thuyết mới phương pháp mới để kiểm soát việc cải tiến
duy trì chất lượng dịch vụ.
Theo TCVN 5814: Đảm bảo chất lượng toàn bộ hoạt động kế hoạch hệ
thống, được tiến hành trong hệ thống quản đã được chứng minh đủ mức cần
thiết để tạo sự tin tưởng rằng thực thể (đối tượng) sẽ thoả mãn đầy đủ các yêu cầu
chất lượng”.
Khác với kiểm soát chất lượng, đảm bảo chất lượng quá trình xảy ra trước
trong khi thực hiện. Mối quan tâm cùa phòng chống những sai phạm xảy ra
ngay từ bước đầu tiên. Chất lượng của sản phẩm được thiết kế ngay trong quá trình
xản xuất ra từ khâu đầu đến khâu cuối theo những tiêu chuẩn nghiêm ngặt, đảm
bảo không sai phạm trong bất khâu nào. Đảm bảo chất lượng tho mãn các
tiêu chuẩn thuật một cách ổn định. Chất lượng của sản phẩm hay dịch vụ được
đảm bảo bằng một hệ thống tại chỗ. Hệ thống đảm bảo chất lượng chỉ việc sản
xuất phải được thực hiện như thế nào, theo tiêu chuẩn nào. Trong hệ thống đảm bảo
chất lượng, sự tham gia được uỷ quyền. Đảm bảo chất lượng phần lớn trách
nhiệm của người lao động thường làm việc trong các đơn vị độc lập hơn trách
nhiệm của thanh tra viên, mặc dù thanh tra cũng có thể đóng vai trò nhất định trong
đảm bảo chất lượng. Các tiêu chuẩn chất lượng được duy trì bằng cách tuân thủ quy
trình vạch ra trong hệ thống đảm bảo chất lượng. Đảm bảo chất lượng quan tâm đến
Kiểm soát hệ thống chất lượng, Kiểm soát quá trình bằng thống (Statistical
Quaity Control - SQC),
phân tích nhân quả để có biện pháp khắc phục và ngăn ngừa
sai phạm hoặc sự không trùng hợp. Để đánh giá duy trì hệ thống đảm bảo chất
3
lượng, sự can thiệp của bên ngoài được chú trọng thông qua các hình thức phổ biến
như Thanh tra chất lượng (Quaity Inspection) Kiểm định chất lượng (Quality
Accreditation).
Quản lí chất lượng tổng thể (Total Quality Management)
Thuật ngữ “Quản chất lượng tổng thể” (Total Quality Management - TQM) được
A.V.Feigenbaum sử dụng từ đầu những năm 50 của thế kỉ XX.
Đến thập niên 80 “cuộc cách mạng chất lượng” đã được hưởng ứng Mĩ, dần lan
rộng trên khắp thế giới. Chất lượng toàn diện đượcn đến ngày càng nhiều trong
các cuốn sách, giáo trình và công trình khoa học.
TQM đồng nghĩa vớỉ đảm bảo chất lượng, nhưng mở rộng và phát triển thêm. Quản
chất lượng tổng thể tạo ra văn hoá chất lượng, đó, mục tiêu của từng nhân
viên, của toàn bộ nhân viên làm hài lòng khách hàng của họ, nơi cơ cấu tổ
chức của cơ sở cho phép họ làm điều này. Trong quan niệm về chất lượng toàn diện,
khách hàng thượng đẳng. Điều này nghĩa công việc của mỗi thành viên
trong tổ chức phải hướng đến phục vụ khách hàng mức độ tốt nhất thể. Đó
cung ứng cho khách hàng những thứ họ cần, đúng lúc họ cần theo cách thức họ
cần, thoả mãn và vượt cả những mong đợi của họ.
TQM là tầng bậc cao nhất nếu so sánh với các cấp độ khác trong quản lí chất lượng.
Tính thứ bậc của quan hệ chất lượng trong quản thể khái quát về tầng bậc của
khái niệm chất lượng (phỏng theo của Sallis E.)
Thanh tra kiểm soát chất lượng Đảm bảo chất lượng TQM
Nhằm để Phát hiện Phòng ngừa Cải tiến liên tục
Sự tiến triển theo tầng bậc của phương thức quản lí chất lượng đã cho thấy ưu điểm
nổi trội của TQM.
Mối quan hệ giữa kiểm soát chất lượng, đảm bảo chất lượng TQM rất
mềm dẻo. Trong thực tế các cấp độ chất lượng đan xen, hỗ trợ lẫn nhau trong một tổ
chức, quản chất lượng tổng thể sự tiếp tục của đảm bảo chất lượng theo chiều
sâu, với sự hiện diện của văn hoá chất lượng, đảm bảo chất lượng, sự mở rộng
phạm vi quảnchất lượng tới mọi thành viên của tổ chức. Còn ở nhiều khâu, kiểm
soát chất lượng vẫn cần thiết trong hệ thống đảm bảo chất lượng. Thông thường
4