
LỚP NGHIỆP VỤ SƯ PHẠM GIẢNG VIÊN
CAO ĐẲNG ĐẠI HỌC
KHOÁ 22 (K3.NTT)
Chuyên đề: Giáo dục học đại cương
K3.2024 - NGUYỄN TẤT THÀNH
Họ và tên: Cao Hữu Trí
Ngày sinh: 25.06.1991
Nơi sinh: Thành phố Hồ Chí Minh

Câu 1: Thầy (cô) hãy phân tích các chức năng xã hội của giáo dục, qua đó liên hệ
thực tiễn việc thực hiện các chức năng này của nền giáo dục Việt Nam trong giai
đoạn hiện nay?
Câu 2: Bằng lý luận và thực tiễn giáo dục anh chị hãy chứng tỏ rằng “Giáo dục
giữu vai trò chủ đạo đối với sự hình thành và phát triển nhân cách”, từ đó cho ý kiến
của mình về quan điểm “Tâm hồn trẻ thơ như tờ giấy trắng, vẽ hoặc viết lên đó cái
gì là do nhà giáo dục quyết định.”
Bài làm
Câu 1.
Phân tích các chức năng xã hội của giáo dục⁎
Hiện tượng giáo dục là hiện tượng thế hệ đi trước truyền lại cho thế hệ đi sau hệ
thống những kinh nghiệm lịch sử - xã hội và thế hệ đi sau tiếp thu lấy hệ thống
những kinh nghiệm lịch sử - xã hội và làm cho nó phong phú hơn da dạng hơn. Vì
vậy, hiện tượng giáo dục chỉ có và chỉ có trong xã hội loài người và có tính chất phổ
biến, ở đâu có con người thì ở đó có hiện tượng giáo dục. Hiện tượng giáo dục
không chỉ có trong nhà trường, gia đình mà nó có ở mọi nơi, mọi lúc mọi chỗ, cứ ở
đâu có con người là ở đó có hiện tượng giáo dục. Hiện tượng giáo dục có tính chất
vĩnh hằng: Hiện tượng giáo dục tồn tại mãi mãi cùng sự tồn tại của xã hội loài
người. Hiện tượng giáo dục chỉ mất đi khi xã hội loài người bị diệt vong.
Hệ thống những kinh nghiệm lịch sử - xã hội (Nền văn hóa xã hội là gì) với tư cách
là kết quả của việc con người khám phá thế giới khách quan được thể hiện ở 4 thành
phần sau đây:
Thành phần thứ nhất của hệ thống những kinh nghiệm lịch sử - xã hội là: Hệ
thống những tri thức về tự nhiên, về xã hội, về con người và về cách thức hoạt
động.
- Tri thức là những dấu hiệu (những đặc điểm) cho ta biết về các sự vật hiện tượng
trong thế giới khách quan và là kết quả của việc con người khám phá thế giới khách
quan. Như vậy tri thức của nhân loại rất đa dạng và phong phú song dựa vào con
đường khám phá ra tri thức mà tri thức của nhân loại hiện nay được chia làm hai
loại tri thức đó là tri thức kinh nghiệm và tri thức khoa học.
1

- Tri thưc kinh nghiệm là tri thức được con người khám phá ra bằng cách tri giác
trực tiếp các sự vật hiện tượng xảy ra xung quanh con người, ngay trong thực tiễn
cuộc sống. Dựa vào các đặc điểm bên ngoài của sự vật hiện tượng, của mối quan hệ
giữa các sự vật hiện tượng; dựa vào sự lặp đi lặp lại của các sự vật hiện tượng, của
mối quan hệ giữa các sự vật hiện tượng mà con người tìm ra những tri thức. Những
tri thức được tìm ra bằng con đường như vậy được gọi là tri thức kinh nghiệm.
Những tri thức kinh nghiệm của nhân loại hiện nay đang được đúc kết trong tục
ngữ ca dao dân ca.
- Tri thức khoa học là tri thức được con người phát hiện ra bằng các phương pháp
nghiên cứu khoa học và được thực tiễn kiểm nghiệm.
Những tri thức mà học sinh đang học trong nhà trường đó là những tri thức khoa
học. Muốn có tri thức khoa học thì học sinh phải đến trường và nhà trường chỉ dạy
cho học sinh những tri thức khoa học. Con người không cần đến trường cũng có tri
thức kinh nghiệm vì các tri thức kinh nghiệm được truyền từ người nọ sang người
kia bằng con đường truyền miệng trực tiếp, còn các tri thức khoa học chỉ truyền từ
người nọ sang người kia bằng con đường dạy học. Những tri thức khoa học mới cho
ta biết được bản chất của sự vật hiện tượng.
Con người muốn tồn tại và phát triển thì con người phải dùng tri thức khoa học, nếu
chỉ dùng tri thức kinh nghiệm thì con người chỉ tồn tại mà không phát triển, đương
nhiên nếu chỉ tồn tại mà không phát triển thì đến lúc nào đó sẽ bị diệt vong.
Thành phần thứ 2 của hệ thống những kinh nghiệm lịch sử - xã hội:Hệ thống
những kĩ năng kĩ xảo thực hiện các cách thức hoạt động đã biết
Kĩ năng là khả năng thực hiện thành thạo một động tác nào đó, nếu nó được nâng
lên ở mức độ tự động hoá thì nó trở thành kĩ xảo. Trong quá trình khám phá thế giới
khách quan con người không chỉ bíêt về thế giới khách quan mà còn biết cách biết
về thế gới khách quan và vận dụng những trí thức về các sự vật hiện tượng trong thế
giới khách quan một cách thành thạo vào thực tiễn cuộc sống để tồn tại. Việc khám
phá cái quạt không chỉ biết về cái quạt, biết cách biết về cái quạt mà còn biết sử
dụng cái quạt một cách thành thạo để làm mát cho con người.
2

Thành phần thứ ba của hệ thống những kinh nghiệm lịch sử - xã hội: Hệ thống
những kinh nghiệm hoạt động tìm tòi sáng tạo
Nhờ việc con người khám phá thế giới khách quan mà con người không chỉ bíêt về
thế giới khách quan, biết vận dụng tri thức về thế giới khách quan vào thực tiến
cuộc sống mà còn biết vận dụng một cách sáng tạo những tri thức về thế giới khách
quan vào thực tiễn một cách sáng tạo.
Thành phần thứ tư của hệ thống những kinh nghiệm lịch sử - xã hội: Hệ thống
những qui phạm qui định mối quan hệ giữa con người và con người, giữa con người
và thế gới khách quan. Trong quá trình khám phá xã hội, con người biết được người
với người sống để yêu nhau, học sinh phải lễ phép với thầy cô giáo, con cái phải
hiếu thảo với ông bà cha mẹ...đó chính là những quy phạm quy định mối quan hệ
giữa con người và con người...
4 thành phần này của hệ thống những kinh nghiệm lịch sử – xã hội được lưu giữ
dưới một dạng rất đặc biệt đó là nền văn hoá xã hội.
Như vậy nói đến hệ thống những kinh nghiệm lịch sử - xã hội là nói đến 4 thành
phần trên, nói đến nền văn hóa xã hội cũng là nói đến 4 thành phần trên
Việc truyền thụ và tiếp thu hệ thống những kinh nghiệm lịch sử - xã hội lại làm cho
xã hội không chỉ tồn tại mà còn phát triển do:
+ Việc truyền thụ và tiếp thu thành phần thứ nhất giúp con người biết
+ Việc truyền thụ và tiếp thu thành phần thứ hai giúp con người biết làm.
+ Việc truyền thụ và tiếp thu thành phần thứ ba giúp con người biết làm sáng tạo.
+ Việc truyền thụ và tiếp thu thành phần thứ tư giúp con người có thái độ đúng.
Biết, biết làm, biết làm sáng tạo và có thái độ đúng là một nhân cách.
Như vậy việc truyền thụ và tiếp thu hệ thống những kinh nghiệm lịch sử - xã hội
giúp mỗi cá nhân trở thành một nhân cách và chính những nhân cách này góp phần
làm cho xã hội không chỉ tồn tại mà còn phát triển.
L⁎iên hệ thực tiễn việc thực hiện các chức năng này của nền giáo dục Việt
Nam trong giai đoạn hiện nay
3

Chính vì giáo dục được coi như là một chức năng của xã hội. Điều này có nghĩa là
xã hội muốn phát triển thì xã hội phải thực hiện chức năng quan trọng của mình đó
là chức năng giáo dục.
Qua đây chúng ta đã thấy được phần nào vai trò của giáo dục đối với sự phát triển
xã hội và để thấy rõ hơn nữa vai trò của giáo dục với sự phát triển xã hội ta đi vào
nghiên cứu các chức năng xã hội của giáo dục.
Vai trò của giáo dục đối với xã hội: “Với sự phát triển xã hội giáo dục vừa là điều kiện, vừa
là động lực” Điều này được chứng minh bằng việc phân tích các chức năng xã hội của giáo
dục.
Vì giáo dục là một chức năng của xã hội nên giáo dục có khả năng tác động đến
các lĩnh vực của đời sống xã hội. Khả năng tác động của giáo dục đến các lĩnh vực
của đời sống xã hội được gọi là các chức năng xã hội của giáo dục.
- Chức năng kinh tế – sản xuất
Giáo dục góp phát triển nền kinh tế - sản xuất của xã hội bằng cách:
+ Giáo dục đào tạo ra sức lao động mới khéo léo hơn hiệu quả hơn
+ Giáo dục nâng cao trình độ khoa học kĩ thuật cho người đang lao động
Để thay thế cho sức lao động vốn có của xã hội đã bị tiêu hao đi trong quá trình
tham gia vào lao động sản xuất hoặc không còn phù hợp với yêu cầu của nền sản
xuất hiện đại, nhờ đó mà sản xuất phát triển, sản xuất phát triển thì kinh tế phát
triển.
Thực tiễn cho thấy hàng năm sức lao động bị tiêu hoa đi do tuổi tác là không nhỏ
được thể hiện ở sức lao động về hưu và mất sức, chưa kể sức lao động bị tiêu hoa
do tai nạn lao động, do tai nạn giao thông và do bệnh tật. Nhờ có giáo dục hàng năm
cung cấp đủ cho xã hội sức lao động mới có trình độ cao hơn để bù đắp vào sức lao
động bị tiêu hoa trong quá trình tham gia vào lao động sản xuất nhờ đó mà sản xuất
phát triển, sản xuất phát triển thì kinh tế phát triển.
Từ năm 1986, sau đại hội Đảng lần thứ 6 đất nước mở cửa, khi công nghệ và các
phương tiện kĩ thuật hiện đại đi vào trong sản xuất thì trình độ người lao động bất
cập. Để sử dụng được công nghệ và các phương tiện kĩ thuật hiện đại vào trong sản
xuất, giáo dục đã phải cấp tốc nâng cao trình độ khoa học kĩ thuật cho người lao
động (bằng hình thức đào tạo vừa làm vừa học) để họ kịp thời nắm bắt được công
4

