
HỘI NGHỊ KHOA HỌC TOÀN QUỐC – HỘI HÓA SINH Y HỌC VIỆT NAM NĂM 2025
220
XÂY DỰNG KHOẢNG THAM CHIẾU CHO XÉT NGHIỆM
ĐO HOẠT ĐỘ ENZYME SÀNG LỌC 6 BỆNH RỐI LOẠN
DỰ TRỮ THỂ TIÊU BÀO BẰNG LC-MS/MS Ở TRẺ EM
Vũ Thị Tú Uyên1, Trần Thị Chi Mai2, Nguyễn Thị Thùy Linh1,
Nguyễn Thị Thanh Hoa1, Lương Minh Tân3, Nguyễn Thị Minh Hạnh4
TÓM TẮT31
Nghiên cứu được thực hiện với mục tiêu xây
dựng khoảng tham chiếu cho xét nghiệm đo hoạt
độ enzyme sàng lọc 6 bệnh rối loạn dự trữ thể
tiêu bào (LSDs) trong mẫu máu thấm khô (DBS).
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: nghiên
cứu mô tả cắt ngang, thu thập dữ liệu từ 1.666 trẻ
em khỏe mạnh, từ sơ sinh đến 18 tuổi được chỉ
định xét nghiệm sàng lọc 6 bệnh rối loạn dự trữ
thể tiêu bào tại Bệnh viện Nhi Trung ương. Hoạt
độ các enzyme GAA (bệnh Pompe), GALC
(bệnh Krabbe), GBA (bệnh Gaucher), GLA
(bệnh Fabry), IDUA (bệnh MPS I) và ASM
(bệnh Niemann-Pick A/B) được phân tích trên hệ
thống Qsight™ 210MD của Perkin Elmer bằng
kỹ thuật LC-MS/MS. Kết quả: Khoảng tham
chiếu enzyme lysosome theo độ tuổi và giới tính
đã được xác định và áp dụng cho các nhóm tuổi:
sơ sinh (0-30 ngày), từ 1 tháng đến 1 tuổi và trên
1 tuổi. Kết luận: Khoảng tham chiếu của các
enzyme đã được xây dựng là một nguồn tham
khảo quan trọng cho các phòng xét nghiệm và
1Bệnh viện Nhi Trung ương
2Trường Đại học Y Hà Nội
3Trường Đại học Y tế Công cộng
4Bệnh viện Châm cứu Trung ương
Chịu trách nhiệm chính: Vũ Thị Tú Uyên
Email: vu.tu.uyen.2008@gmail.com
Ngày nhận bài: 1-6-2025
Ngày phản biện: 5-6-2025
Ngày duyệt bài: 8-6-2025
bác sĩ lâm sàng trong việc sàng lọc và chẩn đoán
sớm các bệnh rối loạn dự trữ thể tiêu bào.
Từ khóa: khoảng tham chiếu, LSDs, GAA,
GALC, GBA, GLA, IDUA, ASM, EP28-A3.
SUMMARY
ESTABLISHING REFERENCE
INTERVAL FOR ENZYME ACTIVITY
SCREEENING TESTS OF SIX
LYSOSOMAL STORAGE DISORDERS
USING LC-MS/MS IN CHILDREN
The study was conducted with the aim of
establishing reference intervals for the enzyme
activity screening test of 6 lysosomal storage
disorders (LSDs) in dried blood spot (DBS)
samples. Subject and method: A cross-
sectional, collected data from 1.666 healthy
children, from newborn to 18 years old, who
were indicated for screening for 6 lysosomal
storage disorders at the National Children's
Hospital. The activities of the enzymes GAA
(Pompe), GALC (Krabbe), GBA (Gaucher),
GLA (Fabry), IDUA (MPS I), and ASM
(Niemann-Pick A/B) were analyzed using the
Qsight™ 210MD system from Perkin Elmer with
the LC-MS/MS technique. Results: Reference
intervals for lysosomal enzymes based on age
and gender were determined and applied to the
following age groups: newborns (0-30 days),
infants (1 month to 1 year), and children over 1
year old. Conclusion: The established enzyme
reference intervals serve as an important
reference for laboratories and clinicians in

TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 552 - THÁNG 7 - SỐ CHUYÊN ĐỀ - 2025
221
screening and early diagnosis of lysosomal
storage disorders.
Keywords: reference interval, LSDs, GAA,
GALC, GBA, GLA, IDUA, ASM, EP28A3.
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Rối loạn dự trữ lysosome (Lysosomal
Storage Disorders - LSDs) là nhóm bệnh di
truyền hiếm gặp, đặc trưng bởi sự thiếu hụt
hoặc bất hoạt của các enzyme nội bào, dẫn
đến tích tụ các cơ chất không được phân giải
trong lysosome, gây tổn thương tiến triển tại
nhiều cơ quan như hệ thần kinh trung ương,
gan, lách, tim, xương và giác mạc [1]. Mặc
dù mỗi thể bệnh có tần suất riêng biệt, tổng
tỷ lệ mắc nhóm bệnh này được ước tính dao
động từ 1/5.000 đến 1/7.700 trẻ sinh sống tùy
theo đặc điểm quần thể và phương pháp sàng
lọc [2].
Biểu hiện lâm sàng của LSDs thường
không đặc hiệu, khởi phát âm thầm và dễ bị
nhầm lẫn với các bệnh lý thông thường, đặc
biệt trong giai đoạn đầu [3]. Tuy nhiên, nhờ
vào sự phát triển của các phương pháp điều
trị đặc hiệu như liệu pháp thay thế enzyme
(enzyme replacement therapy - ERT), ghép
tế bào gốc tạo máu (Hematopoietic Stem Cell
Transplantation - HSCT), và gần đây là liệu
pháp gen, việc phát hiện sớm các LSDs
thông qua sàng lọc sơ sinh có ý nghĩa quan
trọng trong việc cải thiện tiên lượng và nâng
cao chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân [4].
Hiện tại, nhiều quốc gia phát triển như Hoa
Kỳ, Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc đã
chính thức triển khai chương trình sàng lọc
sơ sinh mở rộng, bao gồm cả các bệnh LSDs
[5].
Một trong những phương pháp hiệu quả
trong sàng lọc LSDs là định lượng hoạt độ
enzyme đặc hiệu từ mẫu máu thấm khô
(dried blood spot - DBS). Các enzyme
thường được đưa vào panel phân tích gồm:
α-glucosidase acid (GAA-bệnh Pompe), α-
iduronidase (IDUA-MPS I), β-
glucocerebrosidase (GBA-Gaucher), α-
galactosidase A (GLA-Fabry),
galactocerebrosidase (GALC-Krabbe) và
acid sphingomyelinase (ASM-Niemann-Pick
A/B) [6]. Trong đó, kỹ thuật sắc ký lỏng kết
hợp khối phổ hai lần (liquid chromatography
tandem mass spectrometry - LC-MS/MS) đã
trở thành công cụ phân tích chuẩn mực cho
các chương trình sàng lọc nhờ độ nhạy, độ
đặc hiệu cao và khả năng định lượng đa
enzyme đồng thời [7]. Tuy nhiên, hoạt độ
enzyme có thể bị ảnh hưởng bởi các yếu tố
sinh học và môi trường như tuổi, giới tính,
sắc tộc, khu vực địa lý, điều kiện lấy mẫu và
bảo quản. Việc sử dụng khoảng tham chiếu
lấy từ dữ liệu của các quần thể khác (ví dụ
như Hoa Kỳ hoặc Trung Quốc) có thể làm
sai lệch kết quả đánh giá và gây khó khăn
trong diễn giải lâm sàng [8]. Vì vậy, việc xây
dựng khoảng tham chiếu đặc thù theo quần
thể tại địa phương là yêu cầu cấp thiết, nhằm
đảm bảo tính chính xác và hiệu quả trong
ứng dụng lâm sàng của chương trình sàng lọc
sơ sinh. Đề tài này được thực hiện với mục
tiêu: Xây dựng khoảng tham chiếu cho xét
nghiệm sàng lọc 6 bệnh rối loạn dự trữ thể
tiêu bào bằng phương pháp đo hoạt độ
enzym trong giọt máu thấm khô bằng kít
NeoLSDTM MSMS trên hệ thống QSight
210MD của Perkin Elmer.
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: 1.666 trẻ sơ sinh
và trẻ em từ 1 tháng đến 18 tuổi khỏe mạnh
được chỉ định xét nghiệm sàng lọc 6 bệnh rối
loạn dự trữ thể tiêu bào tại Bệnh viện Nhi

HỘI NGHỊ KHOA HỌC TOÀN QUỐC – HỘI HÓA SINH Y HỌC VIỆT NAM NĂM 2025
222
Trung ương trong khoảng thời gian nghiên
cứu.
Tiêu chuẩn lựa chọn: Các trẻ này được
khám và xác định không có biểu hiện lâm
sàng nghi ngờ các bệnh chuyển hóa bẩm
sinh, không có bệnh mạn tính, không mắc
các bệnh cấp tính tại thời điểm lấy mẫu và có
cân nặng sơ sinh ≥ 2.500g nếu thuộc nhóm
trẻ sơ sinh.
Tiêu chuẩn loại trừ: Trẻ có chẩn đoán xác
định hoặc nghi ngờ rối loạn chuyển hoá, trẻ
có bệnh lý nhiễm trùng cấp, đang điều trị nội
trú hoặc có tiền sử bệnh ác tính hay di
truyền. Mẫu máu thấm khô không đạt chất
lượng (thấm không đều, không đủ số lượng
giọt máu, hoặc bảo quản sai điều kiện).
Thiết bị và hóa chất sử dụng: Hệ thống
sàng lọc QsightTM 210 MD Screening
System và kít NeoLSDTM MSMS của hãng
Perkin Elmer.
Địa điểm và thời gian nghiên cứu: Khoa
Hóa sinh - Bệnh viện Nhi Trung ương từ
tháng 6/2022 đến tháng 2/2025.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả
cắt ngang.
Nguyên lý kỹ thuật: Hoạt độ enzym được
đánh giá bằng cách đo sản phẩm tạo ra khi
enzym phản ứng với cơ chất để tạo ra sản
phẩm đặc hiệu. Sản phẩm của các chất chuẩn
nội và enzyme được đo bởi phân tích dòng
chảy - phép đo khối phổ (Flow Injection
Analysis-Tandem Mass Spectrometry: FIA-
MSMS) sử dụng MRM (Multiple Reaction
Monitoring).
Phương pháp đo hoạt độ của 6 enzyme đã
được xác nhận độ đúng, độ chụm theo hướng
dẫn EP15A3 của CLSI trong điều kiện Khoa
Hóa sinh, Bệnh viện Nhi Trung ương là phù
hợp theo công bố của nhà sản xuất [9]. Tất cả
các xét nghiệm đều được thực hiện kiểm tra
chất lượng xét nghiệm 3 mức QC (Quality
Control) trước khi phân tích mẫu. Kết quả
xét nghiệm chỉ được phê duyệt khi kết quả
QC trong phạm vi kiểm tra.
Xây dựng khoảng tham chiếu: Để xác
định khoảng tham chiếu enzyme lysosome
theo độ tuổi và giới tính, đối tượng nghiên
cứu được chia thành ba nhóm: trẻ em từ sơ
sinh đến 1 tuổi, phân thành ba nhóm tuổi cụ
thể: trẻ từ 0-30 ngày, trẻ từ 1 tháng đến 1 tuổi
và trẻ trên 1 tuổi. Dữ liệu được nhập và xử lý
bằng phần mềm SPSS 26.0. Các kết quả thu
được sẽ được phát hiện và loại bỏ giá trị
ngoại lai bằng phương pháp Turkey. Sử dụng
thử nghiệm Kolmogorov-Simirnov để kiểm
tra tính chuẩn của bộ dữ liệu. So sánh sự
khác biệt hoạt độ enzyme giữa các nhóm tuổi
và giới bằng kiểm định Mann-Whitney U với
ngưỡng ý nghĩa p < 0,05. Đối với phân phối
chuẩn, giá trị trung bình (X) và độ lệch
chuẩn (SD) được tính toán sau đó khoảng
tham chiếu được xác định là X ± 1.96 SD.
Phương pháp phi tham số được áp dụng khi
bộ dữ liệu không tuân theo phân phối chuẩn.
Tất cả các giá trị được sắp xếp theo thứ tự
tăng dần. Phân vị thứ 2,5 và phân vị thứ 97,5
được tính tương ứng là giới hạn dưới và trên
của khoảng tham chiếu [10].
2.3. Đạo đức nghiên cứu: Nghiên cứu
tuân thủ theo đạo đức nghiên cứu trong y
học. Thông tin của trẻ được bảo mật. Nghiên
cứu được thực hiện vì mục đích khoa học.
III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Để xác định khoảng tham chiếu dựa trên
độ tuổi và giới tính, các đối tượng nghiên
cứu được chia thành 3 nhóm (Trẻ em từ sơ
sinh đến 1 tuổi, chia thành 3 nhóm tuổi:
Nhóm I: trẻ từ 0-30 ngày, nhóm II: trẻ từ 1
tháng đến 1 tuổi, nhóm III: trẻ trên 1 tuổi).
3.1. Đặc điểm hoạt độ enzyme của
quần thể nghiên cứu

TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 552 - THÁNG 7 - SỐ CHUYÊN ĐỀ - 2025
223
Bảng 1. Đặc điểm hoạt độ enzyme của quần thể nghiên cứu
Enzyme
Nhóm tuổi
Giới
n
Trung bình
Tối thiểu
Tối đa
95% CI
p-value (sự
khác biệt)
ASM
(μmol/l/h)
Nhóm I
Nam
342
4.73
1.34
9.06
2.47-7.75
0.059
Nữ
250
4.41
1.51
7.84
2.58-6.49
Nhóm II
Nam
247
6.15
1.50
13.50
2.44-10.50
0.881
Nữ
181
6.10
1.48
12.40
3.01-10.68
Nhóm III
Nam
361
4.04
1.27
7.77
2.31-6.30
0.34
Nữ
190
3.95
1.40
7.55
2.10-6.02
GAA
(μmol/l/h)
Nhóm I
Nam
349
8.61
1.23
18.50
3.15-14.85
0.001
Nữ
252
10.22
2.08
21.80
4.57-17.0
Nhóm II
Nam
233
5.78
1.04
12.70
2.20-9.68
0.007
Nữ
164
6.52
1.01
14.20
1.78-10.40
Nhóm III
Nam
372
5.89
0.99
12.80
2.43-9.97
0.316
Nữ
198
6.14
1.39
13.30
2.58-10.18
GALC
(μmol/l/h)
Nhóm I
Nam
332
4.88
1.06
11.10
1.89-8.66
0.001
Nữ
246
5.77
0.98
12.80
1.83-10.05
Nhóm II
Nam
249
3.80
0.96
7.90
1.52-6.14
0.279
Nữ
179
3.95
1.12
8.03
1.45-6.74
Nhóm III
Nam
374
3.60
0.97
7.14
1.41-5.87
0.939
Nữ
200
3.63
1.05
7.59
1.43-6.46
GBA
(μmol/l/h)
Nhóm I
Nam
339
7.90
1.65
16.10
3.51-12.90
0.001
Nữ
256
9.28
1.35
19.20
3.93-14.98
Nhóm II
Nam
242
4.39
1.00
10.10
2.03-7.38
0.305
Nữ
169
4.53
1.21
9.87
2.24-7.89
Nhóm III
Nam
370
4.62
1.74
9.04
2.39-7.68
0.755
Nữ
194
4.69
1.07
9.84
2.34-7.85
GLA
(μmol/l/h)
Nhóm I
Nam
343
8.78
2.23
18.00
4.42-15.22
0.094
Nữ
242
9.37
3.37
20.40
4.39-17.45
Nhóm II
Nam
251
5.41
1.11
11.10
2.60-8.90
0.516
Nữ
177
5.53
1.49
10.70
2.62-8.59
Nhóm III
Nam
370
4.70
1.25
9.06
2.69-7.37
0.798
Nữ
194
4.74
1.16
9.80
2.54- 7.87
IDUA
(μmol/l/h)
Nhóm I
Nam
350
5.74
1.99
10.40
3.33-8.83
0.002
Nữ
255
6.16
2.51
10.90
3.29-9.21
Nhóm II
Nam
255
6.57
1.56
13.20
2.77-10.30
0.338
Nữ
173
6.79
2.31
12.30
3.67-10.57
Nhóm III
Nam
371
6.02
1.14
11.70
3.30-9.40
0.179
Nữ
199
6.31
1.30
13.10
2.99-10.20

HỘI NGHỊ KHOA HỌC TOÀN QUỐC – HỘI HÓA SINH Y HỌC VIỆT NAM NĂM 2025
224
Nhận xét: Các enzyme GALC, GAA,
IDUA và GBA có sự khác biệt theo giới tính
ở nhóm trẻ dưới 1 tháng, trong khi đó ở
nhóm này enzyme GLA và ASM không có
sự khác biệt về giới.
Độ tuổi có sự khác biệt giữa 2 giới là ở
nhóm trẻ từ 1 tháng đến 1 tuổi. Tuy nhiên, từ
1 tuổi trở đi, ảnh hưởng của giới tính đối với
hoạt độ enzyme giảm dần và không còn có
sự khác biệt có ý nghĩa thống kê.
3.2. Khoảng tham chiếu của các
enzyme
Bảng 2. Khoảng tham chiếu của hoạt độ enzyme
Nhóm
tuổi
Giới
GLA
(μmol/l/h)
GALC
(μmol/l/h)
GAA
(μmol/l/h)
ASM
(μmol/l/h)
IDUA
(μmol/l/h)
GBA
(μmol/l/h)
Nhóm
I
Nam
3.85-17.71
1.59-10.54
2.55-15.90
2.27-8.18
3.00-9.65
2.20-13.61
Nữ
1.52-12.07
3.14-19.47
2.71-9.61
3.17-18.23
Nhóm
II
Nam
1.32-9.49
0.93-6.66
1.84-11.73
2.33-12.38
1.80-11.33
1.62-8.35
Nữ
2.03-10.10
1.08-6.82
1.17-13.09
2.68-11.89
3.33-11.69
2.14-8.33
Nhóm
III
Chung (Nam
và nữ)
2.13-7.96
1.17-6.79
1.91-11.85
1.83-7.04
2.64-10.70
2.09-8.41
Nhận xét: Hoạt độ các enzyme lysosome
(GLA, GALC, GAA, ASM, IDUA, GBA) có
xu hướng giảm dần theo tuổi, với mức cao
nhất ở nhóm sơ sinh (<1 tháng): hoạt độ
GLA ở nam nhóm I dao động từ 3.85-17.71
µmol/l/h, trong khi nhóm III chỉ còn 2.13-
7.96 µmol/l/h; GAA ở nữ nhóm I đạt 3.14-
19.47 µmol/l/h, giảm còn 1.91-11.85
µmol/l/h ở nhóm III. Một số enzyme như
GALC, GAA và GBA có sự khác biệt rõ
giữa nam và nữ trong nhóm I và II, điển hình
như hoạt độ GBA ở nữ nhóm I là 3.17-18.23
µmol/l/h, cao hơn so với nam là 2.20-13.61
µmol/l/h. Nhóm III (>1 tuổi): nồng độ
enzyme không có sự khác biệt có ý nghĩa
thống kê giữa nam và nữ nên được tính
chung cho cả 2 giới.
IV. BÀN LUẬN
Dữ liệu mà chúng tôi thu được có chỉ số
tuân theo quy luật phân phối chuẩn và có chỉ
số không tuân theo quy luật phân phối chuẩn
do vậy cả hai phương pháp tham số và phi
tham số được áp dụng để xác định giá trị
tham chiếu [10]. Kết quả nghiên cứu của
chúng tôi về khoảng tham chiếu enzyme
lysosome trong mẫu máu thấm khô (DBS)
cho thấy có sự khác biệt rõ rệt giữa nam và
nữ trong giai đoạn sơ sinh, đặc biệt là với các
enzyme GAA và GALC, với nồng độ
enzyme ở nữ thường cao hơn nam. Kết quả
nghiên cứu cho thấy hoạt độ các enzyme
lysosome (GLA, GALC, GAA, ASM, IDUA,
GBA) biến thiên rõ rệt theo tuổi, với xu
hướng giảm dần từ nhóm sơ sinh đến sau 1
tuổi. Đây là một đặc điểm sinh lý đã được
ghi nhận trong nhiều nghiên cứu trước, do sự
hoạt hóa mạnh mẽ của hệ thống enzyme
lysosome trong giai đoạn sơ sinh để đáp ứng
nhu cầu chuyển hóa cao sau sinh [11-13]. Cụ
thể, hoạt độ GLA ở nam nhóm I (<1 tháng)
dao động từ 3.85-17.71 µmol/l/h, cao hơn rõ
rệt so với nhóm III (>1 tuổi) là 2.13-7.96
µmol/l/h. Tương tự, GAA ở nữ nhóm I đạt

