CỤC PHÒNG CHỐNG HIV/AIDS
BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI CẤP CƠ SỞ
Tên đề tài: Đánh giá việc thi hành luật phòng, chống HIV/AIDS về
công tác can thiệp giảm tác hại trong dự phòng lây nhiễm HIV tại
05 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
Chủ nhiệm đề tài: BS. Đặng Đôn Tuấn
Cơ quan thực hiện: Cục Phòng, chống HIV/AIDS và
Vụ Pháp Chế, Bộ Y tế
Cơ quan quản lý đề tài: Cục Phòng, chống HIV/AIDS
Mã số đề tài (nếu có):
1
CỤC PHÒNG, CHỐNG HIV/AIDS
BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI CẤP CƠ SỞ
Tên đề tài: Đánh giá việc thi hành luật phòng, chống HIV/AIDS về
công tác can thiệp giảm tác hại trong dự phòng lây nhiễm HIV tại
05 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
Chủ nhiệm đề tài : BS. Đặng Đôn Tuấn
Cơ quan thực hiện đề tài : Cục Phòng, chống HIV/AIDS và
Vụ Pháp chế, Bộ Y tế
Cấp quản lý: Cục Phòng, chống HIV/AIDS
Mã số đề tài (nếu có):
Thời gian thực hiện: từ tháng 3/2012 đến tháng
12/2012
Tổng kinh phí thực hiện đề tài : 360 triệu đồng
Trong đó: kinh phí SNKH ……triệu đồng
Nguồn khác (nếu có)
………. triệu đồng
Năm 2012
2
BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI CẤP CƠ SỞ
1. Tên đề tài: Đánh giá việc thi hành luật phòng, chống HIV/AIDS về
công tác can thiệp giảm tác hại trong dự phòng lây nhiễm HIV tại 05
tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
2. Chủ nhiệm đề tài: 3. Cơ quan thực hiện đề tài:
BS. Đặng Đôn Tuấn Cục Phòng, chống HIV/AIDS và Vụ Pháp chế
Ths. Đỗ Trung Hưng
4. Cơ quan quản lý đề tài: Cục Phòng, chống HIV/AIDS 5. Thư ký đề tài: 6. Phó chủ nhiệm đề tài hoặc ban chủ nhiệm đề tài (nếu có): 7. Danh sách những người thực hiện chính:
- TS. Nguyễn Huy Quang - ThS. Đỗ Trung Hưng - ThS. Cao Thị Huệ Chi - ThS. Lê Thanh Hồng - CN. Nguyễn Phước Hà - CN. Nguyễn Minh Hà - CN. Trần Mỹ Hạnh - KS. Ngô Thị Nguyệt Dung - CN. Khuất Thị Mai Liên
......................., ngày tháng năm 2012
8. Thời gian thực hiện đề tài từ tháng 3 năm 2012 đến tháng 12 năm 2012
Chủ nhiệm đề tài (Họ, tên và chữ ký)
Thủ trưởng Cơ quan thực hiện đề tài (Họ, tên, chữ ký và đóng dấu)
. ...................., ngày tháng năm 2012 CỤC PHÒNG, CHỐNG HIV/AIDS
3
MỤC LỤC
Trang 9 Phần A. Tóm tắt các kết quả nổi bật của đề tài 14 Phần B. Nội dung báo cáo chi tiết kết quả nghiên cứu 15 Đặt vấn đề ………………………………………..……….. 18 Mục tiêu nghiên cứu……………………………………….. 19 Chương I. Tổng quan 19 1. Tình hình nhiễm HIV/AIDS ………………............…... 1.1. Tình hình nhiễm HIV/AIDS trên thế giới …...........……. 19 1.2. Tình hình nhiễm HIV/AIDS tại Việt Nam …................. 23 2. Các phương thức lây truyền HIV/AIDS ……............… 25 25 2.1. Lây truyền theo đường tình dục …………...................... 2.2. Lây truyền qua đường máu ……………..............…….. 26 2.3. Lây truyền từ mẹ sang con ……………..............……… 26 27 3. Ảnh hưởng của HIV/AIDS đến sự phát triển kinh tế xã
hội
4. Nghiện chích ma túy và lây nhiễm HIV........................... 28 28 4.1. Khái niệm ma túy............................................................ 29 4.2. Khái niệm nghiện ma túy................................................. 29 4.3. Tình hình ma túy trên thế giới và ở Việt Nam.................. 5. Luật phòng, chống HIV/AIDS và các giải pháp can
thiệp giảm tác hại trong dự phòng lây nhiễm 33
HIV.............
4
Chương II. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu 37 1. Thiết kế nghiên cứu ....................................................... 37 2. Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu ................ 37 2.1. Đối tượng nghiên cứu................................................... 37 2.2 Tiêu chí lựa chọn đối tượng nghiên cứu. ....................... 37 2.3. Địa điểm nghiên cứu .................................................... 38 2.4. Thời gian nghiên cứu ................................................... 38 3. Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu................................ 39 3.1. Cỡ mẫu ........................................................................... 39 3.2. Phương pháp chọn mẫu ............................................... 39 4. Phương pháp thu thập số liệu ........................................ 40 40 4.1. Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp ............................ 4.2. Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp................................. 40 40 5. Nội dung và các chỉ số.................................................... 43 Chương III. Kết quả nghiên cứu ....................................... 1. Đánh giá hệ thống văn bản về can thiệp giảm tác hại
43
trong dự phòng lây nhiễm HIV
.........................................
1.1. Hệ thống hóa các văn bản về can thiệp giảm tác hại
trong dự phòng lây nhiễm HIV 44
...........................................
44 46 47 49
1.1.1. Phân loại theo thẩm quyền ban hành .......................... 1.1.2. Phân loại theo hình thức văn bản ............................... 1.1.3. Phân loại theo thời gian ban hành văn bản ................. 1.1.4. Phân loại theo nội dung .............................................. 2. Đánh giá về hệ thống pháp luật về can thiệp giảm hại
trong dự phòng lây nhiễm HIV 51
........................................
51 2.1. Tính hợp hiến, hợp pháp .............................................. 51 2.2. Tính thống nhất, đồng bộ ............................................. 2.3. Tính ổn định, phù hợp ..................................................... 52 2.4. Kỹ thuật xây dựng văn bản .............................................. 56 3. Thực trạng tổ chức triển khai các quy định của pháp
luật về can thiệp giảm tác hại trong dự phòng lây
nhiễm 59
HIV ...............................................................................
.....
59
3.1. Đánh giá công tác thông tin, giáo dục, truyền thông....... 3.1.1. Hoạt động thông tin, giáo dục, truyền thông pháp luật
về can thiệp giảm hại trong dự phòng lây nhiễm HIV
59
cho cán bộ, công chức, viên
chức......................................................
3.1.2. Hoạt động thông tin, giáo dục, truyền thông pháp luật
về can thiệp giảm hại trong dự phòng lây nhiễm HIV
61
cho cộng
61
đồng.............................................................................. 3.1.2.1. Hoạt động truyền thông trực tiếp............................... 3.1.2.2. Truyền thông trên hệ thống truyền thanh của
xã/phường...................................................................... 63
5
.......
63
3.1.2.3. Truyền thông nhân sự kiện........................................ 3.2. Đánh giá việc tổ chức thực hiện các quy định của pháp
luật về can thiệp giảm tác hại trong dự phòng lây
68 nhiễm
HIV.................................................................................
......
3.2.1. Chương trình bao cao su............................................... 68 3.2.2. Chương trình bơm kim tiêm........................................... 71 3.2.3. Chương trình điều trị nghiện chất dạng thuốc phiện
bằng thuốc thay 75
thế................................................................
6
Chương IV. Kết luận.......................................................... Chương III. Kiến nghị ....................................................... Tài liệu tham khảo............................................................... 79 80 82
Danh môc c¸c b¶ng
Bảng 1. Phân loại các văn bản ban hành theo thẩm quyền....... 45
Bảng 2. Phân loại các văn bản theo hình thức văn bản.......... 46
Bảng 3. Phân loại các văn bản theo thời gian ban hành văn
bản...................................................................................... 47
Bảng 4: Số lượng và tỷ lệ văn bản theo phạm vi điều chỉnh
của văn bản.......................................................................... 49
Bảng 5. Số lượt người được tiếp cận thông tin giáo dục
62 truyền thông về can thiệp giảm hại qua các năm....................
Bảng 6. Phân phát tài liệu truyền thông.................................. 63
Bảng 7. Tỷ lệ người NCMT sử dụng bao cao su khi quan hệ
tình dục với PNMD................................................................. 64
Bảng 8. Tỷ lệ phần trăm phụ nữ bán dâm cho biết có sử dụng
bao cao su với khách hàng................................................... 65
Bảng 9. Tỷ lệ phần trăm người có hiểu biết đầy đủ các biện
pháp can thiệp giảm tác hại. ................................................. 65
Bảng 10. Tỷ lệ phần trăm người có hiểu biết đầy đủ các nội
dung của pháp luật về CTGH............................................... 66
Bảng 11. Độ bao phủ của chương trình bao cao su................ 68
trình 71 B¶ng 12. Độ bao phủ của chương
7
BKT........................
nh÷ng ch÷ c¸i viÕt t¾t
AIDS Acquired Immuno Deficiency Sydrome (Hội chứng
suy giảm miễn dịch mắc phải ở người
Bao cao su Bơm kim tiêm Human Immunodeficiency Virus (Vi-ruts gây suy giảm BCS BKT HIV
miễn dịch ở người
8
ARV NCMT TCMT QHTD GBD SL Anti Retro Virus (Kháng retro virut) Nghiện chích ma túy Tiêm chích ma túy Quan hệ tình dục Gái bán dâm Số lượng
PHẦN A.
TÓM TẮT CÁC KẾT QUẢ NỔI BẬT
CỦA ĐỀ TÀI
9
Tên đề tài: Đánh giá việc thi hành luật phòng, chống HIV/AIDS về công
tác can thiệp giảm tác hại trong dự phòng lây nhiễm HIV tại 05 tỉnh,
thành phố trực thuộc Trung ương
1. Kết quả nổi bật của đề tài:
Đánh giá việc thi hành Luật phòng, chống HIV/AIDS về can thiệp
giảm tác hại trong dự phòng lây nhiễm HIV là rất cần thiết nhằm tìm ra
những khó khăn, tồn tại và nguyên nhân của các tồn tại trong việc tổ chức
thực hiện các quy định của pháp luật về can thiệp giảm tác hại trong dự
phòng lây nhiễm HIV, để từ đó đề xuất ác giải pháp hoàn thiện pháp luật. Kết
quả của nghiên cứu:
Về phổ biến, giáo dục pháp luật về can thiệp giảm tác hại trong
dự phòng, lây nhiễm HIV.
Qua điều tra tại 05 tỉnh cho thấy tỷ lệ hiểu biết pháp luật về can thiệp
giảm tác hại trong dự phòng lây nhiễm HIV của đối tượng có hành vi nguy cơ
cao là khá thấp, tỷ lệ phần trăm người có hiểu biết đầy đủ các biện pháp can
thiệp giảm tác hại trong dự phòng lây nhiễm HIV ở các tỉnh được khảo sát
còn khá thấp: Không có tỉnh nào có tỷ lệ vượt qua 50%. Tỷ lệ phần trăm
người có hiểu biết đầy đủ các nội dung của pháp luật về can thiệp giảm tác
hại trong dự phòng lây nhiễm HIV ở các tỉnh được khảo sát là rất thấp:
Không có tỉnh nào có tỷ lệ vượt quá 30%.
Những khó khăn bất cập hiện nay trong công tác truyền thông về can thiệp giảm tác hại trong dự phòng lây nhiễm HIV tập trung tại một số vấn đề sau:
10
- Số lượng cán bộ làm truyền thông về vấn đề này vừa thiếu về số lượng lại vừa yếu về chất lượng mà nguyên nhân chính là do kiến thức về pháp luật của các cán bộ làm công tác truyền thông còn thiếu kiến thức, chưa từng được đào tạo cơ bản và lại thiếu định hướng và không có một kế hoạch và giao nhiệm vụ kiểm tra, giám sát hoạt động định kỳ.
- Thiếu sự phối hợp với các cơ quan có chuyên môn như Trung tâm truyền thông, giáo dục sức khỏe tỉnh, Sở Tư pháp, Sở Thông tin truyền thông, Sở Văn hóa, thể thao và du lịch trong việc xây dựng các thông điệp truyền thông về pháp luật trong hoạt động can thiệp giảm tác hại.
- Việc thực hiện các quy định của Thông tư liên tịch số 20/2010/TTLT- BTTTT-BYT ngày 20/8/2010 hướng dẫn việc ưu tiên về thời điểm, thời lượng phát sóng trên đài phát thanh, đài truyền hình; dung lượng và vị trí đăng trên báo in, báo điện tử đối với thông tin, giáo dục, truyền thông về phòng, chống HIV/AIDS cũng chưa được quan tâm đúng mức nên dẫn đến tình trạng các buổi tọa đàm, phóng sự thường được phát vào thời điểm ít thu hút được người dân trong độ tuổi lao động quan tâm.
- Hạn chế về kinh phí triển khai thực hiện cũng là một trong các nguyên nhân ảnh hưởng lớn đến hiệu quả của hoạt động truyền thông, đặc biệt là truyền thông ở tuyến xã, phương. Nguồn kinh phí của chương trình mục tiêu quốc gia phòng, chống HIV/AIDS cấp cho xã phường chỉ đủ chi trả cho phụ cấp cho cán bộ chương trình, kinh phí còn lại chỉ đủ đáp ứng cho tháng chiến dịch truyền thông phòng, chống HIV/AIDS chứ không đủ để chi cho việc thực hiện truyền thông theo định kỳ.
Về triển khai các quy định của pháp luật về cung cấp bơm kim
tiêm sạch.
Việc triển khai các hoạt động can thiệp bằng bơm kim tiêm được thực
hiện bằng nhiều hình thức khá đa dạng thông qua nhiều mô hình khác nhau
nhưng các mô hình này chưa thực sự phù hợp với đặc tính của người nghiện
chích ma túy là luôn thay đổi tụ điểm cũng như tâm lý e ngại bị phát hiện là
mình đang sử dụng trái phép ma túy. Bên cạnh đó, tỷ lệ người nghiện chích
ma túy đã nhiễm HIV tiếp tục sử dụng bơm kim tiêm khi tiêm chích vẫn còn
cao.
Việc triển khai các quy định của pháp luật về cung cấp bao cao
su:
11
Mặc dù tỷ lệ người nghiện chích ma túy được bao cao su là khá cao
nhưng qua khảo sát cho thấy, tỷ lệ người nghiện chích ma túy có sử dụng bao
cao su thường xuyên khi quan hệ tình dục với phụ nữ bán dâm vẫn ở mức
thấp.
Tỷ lệ phụ nữ bán dâm sử dụng bao cao su thường xuyên với khách lạ
và khách quen là khá cao ở phần lớn các tỉnh tiến hành nghiên cứu nhưng tỷ
lệ sử dụng bao cao su trong quan hệ tình dục với bạn tình thường xuyên ở tất
cả các tỉnh đều thấp.
Tỷ lệ sử dụng bao cao su trong nhóm MSM nhìn chung rất thấp.
Tỷ lệ sử dụng bao cao su khi quan hệ tình dục của các đối tượng có
hành vi nguy cơ cao như phân tích ở trên không chỉ cho thấy nguy cơ lây
truyền HIV qua đường tình dục mà còn cho thấy hoạt động thông tin, giáo
dục, truyền thông về can thiệp giảm tác hại chưa đạt hiệu quả như mong
muốn và cần tiếp tục được củng cố.
Về triển khai các quy định của pháp luật về điều trị nghiện các
chất dạng thuốc phiện.
Bên cạnh những kết quả đáng khích lệ đã đạt được, chương trình điều
trị nghiện chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế cũng đang phải đối mặt
với nhiều khó khăn, vướng mắc cần sớm được giải quyết như:
- Hiện nay, việc thành lập các cơ sở điều trị thay thế đang gặp nhiều
khó khăn do các quy định về điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị và nhân
lực mới chỉ được quy định dưới dạng mô hình thí điểm tại Hải Phòng và
thành phố Hồ chí minh nên các tỉnh khác không có đủ cơ sở pháp lý khi
thuyết trình đề nghị thành lập cơ sở điều trị thay thế với Ủy ban nhân dân
tỉnh.
- Đối với Hải Phòng và thành phố Hồ Chí Minh thì thủ tục xét chọn
người bệnh được tham gia chương trình điều trị thay thế hiện nay còn quá
phức tạp và đang làm hạn chế khả năng tiếp cận của người nghiện chích ma
12
túy với dịch vụ điều trị thay thế.
2. Áp dụng vào thực tiễn sản xuất và đời sống xã hội:
Bản báo cáo đánh giá việc thi hành luật phòng, chống HIV/AIDS về
công tác can thiệp giảm hại trong dự phòng lây nhiễm HIV đã đưa ra được
những khuyến nghị nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật về can thiệp giảm tác
hại trong dự phòng lây nhiễm HIV.
3. Đánh giá thực hiện đề tài đối chiếu với đề cương nghiên cứu đã
được phê duyệt.
(a) Tiến độ: thực hiện đúng tiến độ đã đề ra, không rút ngắn hay kéo
dài thời gian nghiên cứu.
(b) Thực hiện mục tiêu nghiên cứu: thực hiện đầy đủ, đúng mục tiêu
nghiên cứu đề ra.
(c) Các sản phẩm tạo ra so với dự kiến của bản đề cương: tạo ra
đúng sản phẩm dự kiến trong đề cương và đảm bảo đúng chất lượng.
(d) Việc sử dụng kinh phí được thực hiện theo đúng quy định:
Tổng kinh phí thực hiện đề tài: 360 triệu đồng
Toàn bộ kinh phí đã được thanh quyết toán: 360 triệu đồng
Chưa thanh quyết toán xong: 0 đồng
Kinh phí tồn đọng: 0 đồng
13
4. Các ý kiến đề xuất: Không có
PHẦN B.
BÁO CÁO CHI TIẾT KẾT QUẢ
NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI CẤP CƠ SỞ
14
ĐẶT VẤN ĐỀ
HIV/AIDS là một đại dịch nguy hiểm, là mối hiểm họa đối với tính
mạng, sức khoẻ con người và tương lai nòi giống của dân tộc, tác động trực
tiếp đến sự phát triển kinh tế, văn hóa, trật tự và an toàn xã hội, đe dọa sự
phát triển bền vững của đất nước. Tính đến ngày 30/9/2010, cả nước có
180.312 người nhiễm HIV đang còn sống được báo cáo, trong đó có 42.339
bệnh nhân AIDS và tổng số người chết do AIDS đã được báo cáo là 48.368
người. Cho đến nay, qua các số liệu giám sát cho thấy dịch HIV/AIDS đã
xuất hiện ở 100% tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi tắt là
tỉnh), 97,8% số huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi tắt là
huyện) và trên 74% số xã, phường, thị trấn (sau đây gọi tắt là xã) trong toàn
quốc đã có báo cáo về người nhiễm HIV/AIDS.
Xác định rõ HIV/AIDS là mối hiểm họa đối dân tộc nên ngay từ năm
2004, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chiến lược quốc gia về phòng,
chống HVI/AIDS và tiếp đó ngày 29/11/2007, Quốc hội đã ban hành Luật
phòng, chống nhiễm vi rút gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở
người (HIV/AIDS) (sau đây gọi tắt là Luật phòng, chống HIV/AIDS). Trong
các văn bản này, can thiệp giảm tác hại trong dự phòng lây nhiễm HIV luôn
được coi là một trong các giải pháp quan trọng để thực hiện thành công mục
tiêu phòng, chống HIV/AIDS ở Việt Nam. Việt Nam vẫn là một trong số rất ít
các nước có quy định chính thức về can thiệp giảm tác hại trong luật. Tuy
nhiên, do chưa nhiều kinh nghiệm thực tế và kinh nghiệm pháp luật nên các
quy định về can thiệp giảm tác hại trong Luật phòng, chống HIV/AIDS chỉ
mang tính nguyên tắc còn các quy định cụ thể để thực hiện giảm tác hại theo
luật lại nằm trong các văn bản do Chính phủ và Bộ Y tế ban hành nên giá trị
pháp lý chưa cao và chưa khắc phục được hoàn toàn các mâu thuẫn với hệ
thống pháp luật về phòng, chống ma túy và mại dâm. Cụ thể như sau:
Khoản 15 Điều 2 của Luật phòng, chống HIV/AIDS quy định "các
biện pháp can thiệp giảm tác hại trong dự phòng lây nhiễm HIV bao gồm
15
tuyên truyền, vận động, khuyến khích sử dụng bao cao su, bơm kim tiêm
sạch, điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế và các
biện pháp can thiệp giảm tác hại khác nhằm tạo điều kiện cho việc thực hiện
các hành vi an toàn để phòng ngừa lây nhiễm HIV" và khoản 1 Điều 21 quy
định "Các biện pháp can thiệp giảm tác hại trong dự phòng lây nhiễm HIV
được triển khai trong các nhóm đối tượng có hành vi nguy cơ cao thông qua
các chương trình, dự án phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội".
Để hướng dẫn các quy định Luật phòng, chống HIV/AIDS, Chính phủ
đã ban hành Nghị định số 108/2007/NĐ - CP ngày 26/6/2007 quy định chi
tiết thi hành một số điều của Luật phòng, chống HIV/AIDS, trong đó quy
định cụ thể về các vấn đề sau:
- Đối tượng áp dụng các biện pháp can thiệp giảm tác hại trong dự
phòng lây nhiễm HIV gồm người mua dâm, bán dâm; người nghiện chất dạng
thuốc phiện; người nhiễm HIV; người có quan hệ tình dục đồng giới; người
thuộc nhóm người di biến động và người có quan hệ tình dục với các đối tượng
nêu trên;
- Thẩm quyền quyết định triển khai các biện pháp can thiệp giảm tác
hại trong dự phòng lây nhiễm HIV;
- Quyền và trách nhiệm của nhân viên tiếp cận cộng đồng khi thực hiện
các chương trình, dự án can thiệp giảm tác hại trong dự phòng lây nhiễm
HIV;
- Cung cấp, hướng dẫn sử dụng bao cao su;
- Cung cấp và hướng dẫn sử dụng bơm kim tiêm sạch;
- Điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế;
- Kiểm tra, giám sát các hoạt động can thiệp giảm tác hại trong dự
phòng lây nhiễm HIV
Bên cạnh đó để bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp
luật, năm 2008, Quốc hội cũng đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số
điều của Luật phòng, chống ma túy năm 2000, trong đó bổ sung thêm Điều
16
34a về biện pháp can thiệp giảm tác hại của nghiện ma tuý, cụ thể như sau:
"Điều 34a
1. Biện pháp can thiệp giảm tác hại của nghiện ma tuý là biện pháp
làm giảm hậu quả tác hại liên quan đến hành vi sử dụng ma túy của người
nghiện gây ra cho bản thân, gia đình và cộng đồng.
2. Biện pháp can thiệp giảm tác hại của nghiện ma túy được triển khai
trong nhóm người nghiện ma túy thông qua chương trình, dự án phù hợp với
điều kiện kinh tế - xã hội.
3. Chính phủ quy định cụ thể các biện pháp can thiệp giảm tác hại của
nghiện ma túy và tổ chức thực hiện các biện pháp này."
Mặc dù việc triển khai các hoạt động can thiệp giảm tác hại trong
nhóm đối tượng người mua dâm, bán dâm đang áp dụng các quy định tại
Điều 83 của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật về nguyên tắc áp
dụng pháp luật là "trong trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật do
cùng một cơ quan ban hành mà có quy định khác nhau về cùng một vấn đề
thì áp dụng quy định của văn bản được ban hành sau" nhưng trên thực tế thì
mâu thuẫn pháp lý giữa hệ thống pháp luật về phòng, chống HIV/AIDS với
hệ thống pháp luật về phòng, chống mại dâm vẫn còn tồn tại và có ảnh hưởng
không nhỏ tới việc thực hiện các hoạt động can thiệp giảm tác hại trong dự
phòng lây nhiễm HIV. Bên cạnh đó, trong quá trình triển khai các quy định
của Luật phòng, chống HIV/AIDS về can thiệp giảm tác hại trong dự phòng
lây nhiễm HIV cũng đã xuất hiện nhiều quan hệ xã hội mới cần có quy định
của pháp luật để điều chỉnh cũng như đã có nhiều quy định không còn phù
hợp với thực tiễn cần được sửa đổi, bổ sung sớm trong thời gian tới để bảo
đảm tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật, tạo điều kiện thuận lợi
cho việc triển khai các hoạt động can thiệp giảm tác hại trong thực tế.
Một trong các hoạt động của Dự án đó là việc triển khai các hoạt động
can thiệp giảm tác hại trong dự phòng lây nhiễm HIV trên cơ sở các quy định
của Luật phòng, chống HIV/AIDS. Chính vì vậy, để có thể thực hiện tốt các
hoạt động của Dự án thì việc hoạt động đánh giá việc thi hành Luật phòng,
chống HIV/AIDS về can thiệp giảm tác hại trong dự phòng lây nhiễm HIV
17
sau 05 năm thực hiện là hết sức cần thiết.
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1. Mục tiêu chung:
Đánh giá việc thi hành Luật phòng, chống HIV/AIDS về can thiệp
giảm tác hại trong dự phòng lây nhiễm HIV nhằm tìm ra những khó khăn, tồn
tại và nguyên nhân của các tồn tại trong việc tổ chức thực hiện.
2. Mục tiêu cụ thể
2.1. Đánh giá việc xây dựng và ban hành các văn bản hướng dẫn thi
hành các quy định của Luật phòng, chống HIV/AIDS về can thiệp giảm tác
hại tỏng dự phòng lây nhiễm HIV.
2.2. Đánh giá việc phổ biến các quy định của pháp luật về can thiệp
giảm tác hại trong dự phòng lây nhiễm HIV.
2.3. Đánh giá kết quả việc tổ chức triển khai thực hiện các quy định
của pháp luật về can thiệp giảm tác hại trong dự phòng lây nhiễm HIV trong
giai đoạn từ 2006 đến 2012.
2.4. Đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm giải quyết các khó
khăn, tồn tại đối với công tác can thiệp giảm tác hại trong dự phòng lây nhiễm
18
HIV.
CHƯƠNG I. TỔNG QUAN
1. Tình hình nhiễm HIV/AIDS
1.1. Tình hình nhiễm HIV/AIDS trên thế giới
Trong ba thập kỷ qua, hơn 60 triệu người đã bị nhiễm HIV/AIDS và ít
nhất 25 triệu người đã chết do AIDS; hiện tại trên toàn thế giới vẫn còn 34
triệu người nhiễm HIV/AIDS, hàng năm có 2,5 ca nhiễm mới và 1,7 triệu
người chết do AIDS.
Theo báo cáo tình hình dịch HIV/AIDS toàn cầu của UNAIDS, Số
người nhiễm HIV còn sống năm 2008 là 33,2 triệu (30,6-36,1 triệu). Trong đó
người lớn 30,8 triệu. Phụ nữ 15,4 triệu. Trẻ em dưới 15 tuổi 2,5 triệu. Số ca
mới nhiễm HIV trong năm 2008 là 2,5 triệu. Dịch HIV/AIDS trên toàn cầu
đó chững lại về tỷ lệ phần trăm người nhiễm (tỷ lệ hiện nhiễm) [39]
Đại dịch HIV vẫn là căn bệnh lây truyền nguy hiểm nhất đe dọa sức
khỏe cộng đồng. Số nhiễm mới HIV toàn cầu dường như đã đạt đỉnh vào cuối
những năm 1990, với 3 triệu ca nhiễm mới một năm ca nhiễm mới trong năm
2007. Số ca nhiễm mới giảm đi phản ánh xu hướng của dịch, cũng như kết
quả của các chương trình dự phòng dẫn đến sự thay đổi hành vi trong cộng
đồng [38] [41]
Vùng cận Sahara châu Phi tiếp tục là khu vực chịu ảnh hưởng nặng nề
nhất của đại dịch AIDS toàn cầu. Hơn hai phần ba (68%) người lớn và gần
90% trẻ em nhiễm HIV sống tại khu vực này, và hơn ba phần tư (76%) số ca
tử vong vì AIDS trong năm 2007 xảy ra ở đây, chỉ riêng vùng Nam phi đã
chiếm gần một phần ba (32%) tổng số các ca nhiễm HIV mới và ca tử vong
vì AIDS trên toàn cầu năm 2007. HIện tại ước tính có 22,5 triệu người nhiễm
trong khu vực này trong năm 2007 [41], so với 20,9 triệu năm 2001.
HIV/AIDS là nguyên nhân chính gây tử vong tại cận Sahara châu Phi [41] .
Bên cạnh xu hướng giảm số lượng ca nhiễm mới tại cận Sahara châu Phi
19
trong giai đoạn 2001-2007, số lượng nhiễm HIV mới hàng năm cũng giảm tại
khu vực Nam và Đông Nam Á từ 450.000 năm 2001 xuống 340.000 trong
năm 2007, và tại Đông Âu từ 230.000 vào năm 2001 xuống 150.000 năm
2007 [41].
Trong năm 2007, có 15,4 triệu phụ nữ nhiễm HIV, đã tăng thêm 1,6
triệu so với con số 13,8 triệu năm 2001. Tại cận Sahara Châu Phi, gần 61%
người lớn nhiễm HIV là phụ nữ, khu vực Ca-ri-bê con số này là 43% (so với
37% năm 2001). Tại Đông Âu và Trung Á, ước tính phụ nữ chiếm 26% số
người lớn nhiễm HIV trong năm 2007 (so với 23% năm 2001), trong khi tại
Châu Á tỷ lệ đó lên đến 29% năm 2007 (so với 26% năm 2001). Trẻ em
(dưới 15 tuổi) sống với HIV, Số lượng trẻ em nhiễm HIV trên toàn cầu đã
tăng từ 1,5 triệu năm 2001 lên 2,5 triệu vào năm 2007. Tuy nhiên số ca nhiễm
mới ước tính trong trẻ em đã giảm khoảng 460.000 trường hợp. Gần 90%
tổng số trẻ nhiễm HIV đang sống tại khu vực cận Sahara Châu phi. Số ca tử
vong do AIDS ở trẻ em đã tăng từ 330.000 năm 2001 lên 360.000 năm 2005
[41] [7] [37].
Miền Nam Châu Phi chiếm 35% tổng số người đang sống với HIV và
gần một phần ba (32%) tổng số các ca nhiễm HIV mới và tử vong vì AIDS
trên toàn cầu trong năm 2007. Dịch tại hầu hết các nước trong tiểu vùng này
hoặc đang tăng lên chậm hoặc đang tiến tới bình ổn [41] . Tại Zimbabwe, tỷ
lệ hiện nhiễm ở phụ nữ có thai đã giảm mạnh trong những năm vừa qua, từ
26% năm 2002 xuống còn 18% năm 2006 [15]. Nam Phi là nước có số người
nhiễm HIV cao nhất thế giới, với tỷ lệ nhiễm HIV ở phụ nữ có thai là 30%
năm 2005 và 29% năm 2006 [15]. Tại Sierra Leone, tỷ lệ nhiễm HIV ở phụ
nữ khám thai năm 2006 là 4,1% (3% năm 2003) số liệu gần đây nhất cho thấy
dịch ở Sierra Leone có thể đang gia tăng [21].
Tình hình dịch HIV/AIDS ở Châu Á: Trong năm 2007 ước tính trên
toàn cầu Châu Á có 4,9 triệu [ 3,7 - 6,7 triệu ] người đang sống chung với
HIV, trong đó có 440.000 người nhiễm mới. Ước tính 300.000 người đã tử
20
vong vì các bệnh liên quan đến AIDS trong năm 2007 [41] [43] [44]. Tất cả
các tỉnh của Trung Quốc đều công bố có các ca nhiễm HIV, song tập trung
nhiều nhất tại các tỉnh Hà Nam, Quảng Đông, Quảng Tây, Tân Cương và Vân
Nam. 50% người bị nhiễm do dùng chung dụng cụ tiêm chích ma tuý, tỷ lệ
nhiễm HIV ở nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới từ 1,5% tại Thượng Hải
năm 2007 và 3,1% - 4,6% tại Bắc Kinh [11] [22].
Khoảng 2,5 triệu [ 2 - 3,1 triệu ] người Ấn Độ đang sống với HIV trong
năm 2007, với tỷ lệ hiện nhiễm HIV quốc gia là 0,36% [43] [19].
Tại Karachi - Pakistan, tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm tiêm chích ma tuý
đã tăng từ dưới 1% vào đầu năm 2004 lên 26% vào năm 2005, ở Karachi gái
mại dâm nhiễm HIV năm 2005 là 2% [23] [13].
Indonesia là một trong những nước có dịch HIV tăng nhanh nhất châu
Á. Năm 2005, hơn 40% số người tiêm chích ma tuý ở Jakarta có kết quả xét
nghiệm HIV dương tính và khoảng 13% ở West Java [43] [44].
Tại Campuchia tỷ lệ nhiễm HIV đã giảm xuống còn 0,9% ở người lớn
(15 - 49 tuổi) trong năm 2006, giảm mạnh từ đỉnh dịch 2% năm 1998 [29].
Số các ca nhiễm HIV mới hàng năm tại Thái Lan tiếp tục giảm 43%
các ca nhiễm mới trong năm 2005 là ở phụ nữ, phần lớn họ bị nhiễm HIV từ
chồng hoặc bạn tình. Tỷ lệ nhiễm HIV đang tăng theo nhóm đồng tính nam
(tại Bangkok từ 17% năm 2003 lên 28% năm 2005) [42] [43].
Dịch HIV tại Myanmar cũng đang có dấu hiệu giảm, với tỷ lệ nhiễm
HIV trong phụ nữ có thai tại các cơ sở khám thai đã giảm từ 2,2% năm 2000
xuống 1,5% năm 2006 [43] [27].
Tổng số người nhiễm HIV tại Đông Âu và Trung Á là 1,6 triệu năm
2007 [14] [16]. Dịch HIV tại Cộng hoà Liên bang Nga tiếp tục gia tăng.
Trong năm 2006, theo báo cáo chính thức có 39.000 ca nhiễm HIV mới tại
nước này, nâng tổng số ca nhiễm HIV lên 370.000 [9] [14]. Tiêm chích ma
tuý vẫn là đường lây truyền HIV chính tại Liên bang Nga, trong năm 2006 có
66% do tiêm chích ma tuý khoảng 32% do quan hệ tình dục khác giới không
21
an toàn [20] [35].
Tại Ukraine, số ca nhiễm HIV là 16.094 trong năm 2006 và vượt quá
8.700 trong sáu tháng đầu năm 2007. Tỷ lệ nhiễm HIV ở nhóm TCMT từ
13% ở Kiev và 89% ở Krivoi Rog [10] [14] [16] . Dịch HIV tại Belarusia, tập
trung chủ yếu tại nhóm tiêm chích ma tuý , với tỷ lệ hiện nhiễm HIV cao
31% tại Minsk [24]. Các ca nhiễm HIV mới ở Cộng hoà Moldova đã tăng lên
gấp đôi từ năm 2003, tới 621 trong năm 2006. Tại Kazakhastan số ca nhiễm
HIV mới đã tăng từ 699 năm 2004 lên 1.745 năm 2006 [8] [25] [41].
Khu vực Caribe, tỷ lệ hiện nhiễm HIV ở người trưởng thành năm 2007
là 1% có 17.000 ca nhiễm mới và 11.000 người tử vong vì AIDS trong năm
2007. Đường dây nhiễm HIV chính tại khu vực này là quan hệ tình dục, tỷ lệ
hiện nhiễm HIV trong nhóm gái mại dâm là 3,5% tại Cộng hoà Dominica,
9% tại Jamaica và 31% tại Guyana [18] [32].
Tại Châu Mỹ La tinh, trong năm 2007 có 1,6 triệu người nhiễm HIV và
tử vong do AIDS là 58.000 người [41]. Tình dục đồng giới nam không an
toàn là nguyên nhân chính gây đại dịch tại Bolivia, Chi lê. Khoảng một phần
ba số người nhiễm HIV tại Châu Mỹ La tinh hiện đang sống tại Brazin, có
620.000 người nhiễm HIV năm 2006 [41] [36] [12]. Tiêm chích ma tuý là
nguyên nhân gây ra khoảng 5% số ca nhiễm HIV mới tại thủ đô Buenos Aires
của Argentina từ năm 2003 đến năm 2005 [28] [41]. Tại Bolovia, Colombia,
Ecuador các ca nhiễm HIV vẫn tập trung đông ở đồng tính nam. Tỷ lệ hiện
nhiễm ở đồng tính nam ở Peru vẫn giữ nguyên ở mức 18% đến 22%. Tỷ lệ
hiện nhiễm ở nhóm phụ nữ mại dâm tại Honduras (10%), Guatemala (4%)
[41] [32].
Tại khu vực Bắc Mỹ, Tây và Trung Âu: Tổng số người nhiễm HIV
đang tăng lên, ước tính trong năm 2007 có 2,1 triệu người tại Bắc Mỹ, Tây và
Trung Âu nhiễm HIV, có 78.000 mới nhiễm trong năm 2007. Số người tử
vong vì AIDS trong năm 2007 khá thấp, chỉ có 32.000 người [41] [14].
Hoa Kỳ là một trong những quốc gia có tỷ lệ nhiễm HIV cao nhất thế
22
giới. Nam giới chiếm 74% tổng số người nhiễm HIV/AIDS, trong đó 53% là
ở đồng tính giới nam, 18% ở nhóm tiêm chích ma tuý [40] [41]. Tổng số
người nhiễm HIV ở Canada bắt đầu tăng lên vào cuối những năm 1990. Tình
dục đồng giới nam không an toàn là nguyên nhân chính gây nhiễm HIV mới
(45% năm 2005 so với 42% năm 2002) [33].
Tây Ban Nha, Italia, Pháp và Anh tiếp tục là các nước có dịch HIV lớn
nhất Tây và Trung Âu. Số ca nhiễm HIV mới hàng năm tại Anh đã tăng từ
4.152 năm 2001 lên 8.925 năm 2006 [14]. chủ yếu là ở các ca nhiễm qua
đồng tính nam [17]. Tại Tây Âu (không tính Anh), số ca nhiễm HIV năm
2006 là 16.316 người. Những nước có số ca nhiễm nhiều nhất là Pháp (năm
2006 có 5.750 ca nhiễm HIV mới), Đức (2.718) và Bồ Đào Nha (2.162).
Tiêm chích ma tuý là đường lây truyền nhiễm HIV phổ biến nhất tại ba nước
vùng Baltic (Estonia, Latvia và Lithuania) [14] [41].
Khu vực Trung Đông và Bắc Phi: Trong năm 2007 ở khu vực này đã
có 35.000 người nhiễm HIV, nâng tổng số người nhiễm HIV ở đây lên đến
380.000. Ước tính có 25.000 người đã tử vong do AIDS trong năm 2007 [41].
Khu vực Châu Đại Dương: Trong năm 2007, ước tính có 14.000 người
nhiễm HIV tại Châu Đại Dương, tổng số người sống với HIV tại khu vực này
lên 75.000 người. Hơn 70% số người này sống tại Papua New Guinea [41]
[45]. Tại Australia, HIV tiếp tục lây truyền chủ yếu qua tình dục giới nam.
Trong khi những nỗ lực dự phòng phối hợp đã khống chế được dịch trong
những năm 1990, số chẩn đoán HIV lại tăng lên 41% trong những năm 2001
- 2005 [26] [34] [31] [30]. Tại New Zealand nguyên nhân chính lây nhiễm
HIV bên trong lãnh thổ vẫn là tình dục đồng giới nam không an toàn [26].
1.2. Tình hình HIV/AIDS tại Việt Nam
Trường hợp nhiễm HIV đầu tiên ở Việt Nam được phát hiện vào tháng
12 năm 1990. Đến năm 1998, HIV/AIDS đã lan tràn trên toàn quốc, đến nay
HIV/AIDS đã có mặt ở 63/63 tỉnh, thành phố 98% số huyện, 78% số xã của
23
Việt Nam [3].
Đến ngày 30/6/2012, số trường hợp nhiễm HIV còn sống là 204.019
trường hợp; số bệnh nhân AIDS hiện còn sống là 58.569 người; có 61.856
trường hợp tử vong do AIDS. Trong đó 10 tỉnh, thành phố có tỷ lệ người
nhiễm HIV hiện còn sống cao nhất là Thành phố Hồ Chí Minh có 49.429
người, Hà Nội có 19.701 người, Hải Phòng 6.890 người, Sơn La 6.294 người,
Nghệ An 5.182 người, Đồng Nai 5.139 người, Điện Biên 5.024 người, Thanh
Hoá 4.908 người và An Giang là 4.761 người.
Trong 6 tháng đầu năm 2012 ở Việt Nam, số trường hợp phát hiện
nhiễm HIV mới là 5.927 trường hợp. Số bệnh nhân chuyển sang giai đoạn
AIDS là 2.118 bệnh nhân và số bệnh nhân tử vong do AIDS là 633 người.
So sánh trường hợp được xét nghiệm phát hiện và báo cáo nhiễm HIV 6
tháng đầu năm 2012 so với cùng kỳ năm 2011, số trường hợp nhiễm HIV,
bệnh nhân AIDS và tử vong do AIDS tiếp tục giảm, HIV giảm 2.872 trường
hợp, số bệnh nhân AIDS giảm 1.589 trường hợp, số người tử vong AIDS
giảm 596 trường hợp.
Phân bố người nhiễm HIV theo giới tính: Người nhiễm HIV tập trung nhiều
nhất vẫn là ở nam giới chiếm 68,6% và nữ giới là 31,4%
Phân bố người nhiễm theo độ tuổi: Phần lớn trường hợp nhiễm HIV ở Việt
Nam nằm trong độ tuổi trẻ từ 20 - 39 tuổi chiếm 81,8%, trong đó số người
nhiễm HIV từ 20 - 39 tuổi chiếm 38,5%; từ 30 -39 tuổi chiếm 43,3%. Tỷ lệ
nhiễm ở độ tuổi từ 40 - 49 tuổi chiếm11,1% và trên 50 tuổi chiếm 3,0%.
Nhiễm HIV ở lứa tuổi vị thành niên từ 14 - 19 tuổi chiếm 3,9%, các trường
hợp nhiễm ở trẻ dưới 13 tháng tuổi chiếm 2,5%.
Phân bố người nhiễm HIV/AIDS theo đường lây truyền: trong số
người nhiễm HIV được báo cáo trong 6 tháng đầu năm 2012 cho thấy: lây
truyền qua đường tình dục chiếm tỷ lệ cao nhất (chiếm 45,5%), tỷ lệ tăng hơn
3% so với cùng kỳ năm 2011, tiếp đến là tỷ lệ người nhiễm HIV lây truyền
24
qua đường máu chiếm 41,6% giảm 4,5% so với cùng kỳ năm 2011, tỷ lệ
người nhiễm HIV lây truyền từ mẹ sang con chiếm 2,4% có 10,6% tỷ lệ
người nhiễm HIV không rõ đường lây truyền.
Phân tích người nhiễm HIV theo nhóm đối tượng: Người nhiễm HIV ở
Việt Nam chủ yếu là người nghiện chích ma tuý chiếm 37,3% giảm xuống
3,3% so với cùng kỳ với năm 2011. Tình dục khác giới chiếm 24,4% tăng
1,9% so với cả năm 2011; bệnh nhân Lao là 4,3%; bệnh nhân nghi AIDS là
0,9%; gái mại dâm là 0,6% và bệnh nhân mắc bệnh lây truyền qua đường tình
dục là 0,3%.
Dịch HIV/AIDS 6 tháng đầu năm 2012 ghi nhận số trường hợp báo cáo
mới phát hiện giảm so với cùng kỳ năm 2011. Hình thái dịch HIV lây truyền
qua đường tình dục lần đầu tiên ghi nhận cao hơn lây truyền qua đường máu.
Bên cạnh đó tỷ lệ người nhiễm HIV mới phát hiện trong nhóm tuổi 30 - 39
ngày càng chiếm tỷ lệ cao. Cảnh báo nguy cơ làm lây truyền HIV do lây
truyền qua đường tình dục sẽ là nguyên nhân chính làm lây truyền HIV ở Việt
Nam trong những năm tiếp theo và khả năng khống chế lây nhiễm HIV qua
đường tình dục sẽ khó khăn hơn nhiều lần so với khống chế lây truyền qua
đường tiêm chích qua nhóm nghiện trích ma tuý.
Dịch HIV/AIDS ở mức cao khó kiểm soát ở phần lớn các tỉnh miền núi
phía Bấc như Sơn La, Điện Biên, Lai Châu, Yên Bái, Lào Cai và các huyện
miền núi của tỉnh Nghệ An, Thanh Hoá. Riêng hai thành phố lớn là Hà Nội
và Hồ Chí Minh diễn biến dịch phức tạp khó kiểm soát [3].
2. Các phương thức lây truyền HIV: Có 3 phương thức lây truyền HIV.
2.1. Lây truyền theo đường tình dục
Đây là phương thức quan trọng và phổ biến. Tần xuất lây nhiễm HIV
qua một lần giao hợp với một người nhiễm HIV là 0,1% - 1%. Trong khi giao
hợp sẽ tạo ra rất nhiều vết xước nhỏ, HIV có nhiều trong tinh dịch và dịch âm
đạo sẽ thông qua các vết xước này xâm nhập vào cơ thể. Những người mắc
các bệnh lây truyền qua đường tình dục có viêm loét như giang mai, lậu, hạ
25
cam...có nguy cơ cao gấp hàng chục lần so với người khác. Nguy cơ lây
nhiễm HIV có mối quan hệ chặt chẽ với bệnh lây truyền qua đường tình dục,
những bệnh lây truyền qua đường tình dục làm tăng nguy cơ lây nhiễm HIV.
2.2. Lây truyền qua đường máu
HIV lây truyền qua đường máu do truyền máu không sàng lọc HIV, sử
dụng dụng cụ xuyên chích qua da không được khử khuẩn như dùng chung
bơm kim tiêm, kim săm và các vật sắc nhọn khác; người tiêm chích ma túy
sử dụng chung bơm kim tiêm không được tiệt trùng cẩn thận; lây truyền HIV
qua việc cấy ghép các phủ tạng đã bị nhiễm HIV, nhận tinh dịch bị nhiễm
HIV. Lây truyền HIV còn có thể xảy ra trong các cơ sở y tế (do tiệt trùng
dụng cụ không đảm bảo, tiếp xúc trực tiếp với máu, dịch sinh học của người
nhiễm HIV, hoặc bị kim tiêm đâm qua da, dao kéo cứa phải tay...) do tai nạn
rủi ro nghề nghiệp...vv
2.3. HIV lây truyền từ mẹ sang con
HIV lây truyền từ mẹ sang con trong thời kỳ mang thai, trong quá trình
sinh con và cho con bú, khả năng người phụ nữ bị nhiễm HIV có thể truyền
HIV cho con là 20% - 30 %.
Sự kém hiểu biết về HIV/AIDS, tác hại của ma túy, an toàn tình dục;
yếu tố về kinh tế như nghèo đói, không đủ nguồn lực để đương đầu với
AIDS, mặt tiêu cực của kinh tế thị trường; yếu tố về chính trị như thái độ của
xã hội, luật pháp với các nhóm nguy cơ cao (NCMT, bán dâm...); thái độ đối
với giáo dục tình dục, với tình trạng của người phụ nữ trong xã hội, sự chấp
nhận của xã hội với phương pháp xét nghiệm HIV dấu tên và việc cho phép
cung cấp BCS, BKT, điều trị nghiện ma túy bằng các ma túy thay thế là
những yếu tố liên quan đến lây nhiễm HIV. Trong trại giam, tuy được quản lý
chặt chẽ nhưng việc sử dụng ma túy và tình dục không an toàn vẫn có thể xảy
26
ra. [5]
3. Ảnh hưởng của HIV/AIDS đến sự phát triển kinh tế - xã hội
Kế từ khi phát hiện ra ca mắc HIV đầu tiên trên thế giới năm 1981,
HIV đã nhanh chóng lan ra toàn cầu. Đến nay HIV/AIDS đã trở thành đại
dịch.
Đại dịch HIV/AIDs tác động mạnh đen chính trị, kinh tế - xã hội của
mỗi quốc gia trên thế giới, nó có thể làm tiêu tan những thành quả công cuộc
phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo. Dịch HIV/AIDS đã và đang là thách
thức lớn cho việc thực hiện mục tiêu Thiên niên kỷ đầu tiên về xóa đói giảm
nghèo của các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam. Hầu hết Chính
phủ các nước đều ý thức được đầy đủ về tác hại của đại dịch HIV/AIDS đến
sự phát triển kinh tế - xã hội. Đại hội đồng Liên hiệp quốc đã có phiên họp
đặc biệt, đề ra Chiến lược phòng, chống HIV/AIDS trên phạm vi toàn cầu,
kêu gọi Chính phủ các quốc gia cùng nhau cam kết và hợp tác để chống lại
đại dich HIV/AIDS.
Đại dịch HIV làm giảm tốc dộ tăng trưởng của nền kinh tế quốc dân
(GDP), điển hình là các nước nghèo ở Châu Phi; như GDP/đầu người năm
1999 của Zambia giảm 20% so với năm 1980 (370 USD so với 505 USD).
Đại dịch HIV/AIDS làm giảm thu nhập của người dân dẫn tới bần cùng hóa
một số bộ phận dân cư, làm gia tăng sự phân hóa giàu nghèo trong xã hội;
tăng gánh nặng cho ngân sách nhà nước trong việc đầu tư cho các vấn đề xã
hội. Đại dịch HVI/AIDs có thể làm gia tăng tình trạng thất nghiệp, gia tăng
các loại tội phạm hình sự như: cướp bóc, tội phạm và các loại tội phạm hình
sự khác; gây rối loạn trật tự trị an xã hội.
Đại dịch HIV/AIDS phát triển gắn liền với các tệ nạn xã hội như: Ma
túy, mại dâm thông qua tiêm chích ma túy và các hoạt động tình dục không
an toàn; đó là những tệ nạn xã hội có từ lâu và đang làm nhức nhối xã hội,
cùng với các tệ nạn đó Hiv/AIDs đang làm băng hoại đạo đức xã hội, làm suy
mòn các giá trị truyền thống của mỗi dân tộc, làm suy mòn các giá trị văn
hóa, văn minh tinh thần và các giá trị nhân đạo của cộng đồng và gia đình.
27
HIV/AIDS còn gây nên tâm lý hoang mang, lo sợ, nghi kỵ trong cộng đồng.
Đại dịch HIV/AIDS có thể tác động đến chính trị, làm thay đổi các kế hoạch
phát triển của quốc gia; thông qua việc phải đầu tư cho các vấn đề xã hội làm
thay đổi các chính sách xã hội, tăng gánh nặng cho ngân sách nhà nước thông
qua việc đầu tư cho lĩnh vực y tế, giáo dục, bảo trợ xã hội……
Đại dịch HIV/AIDS đã và đang làm gia tăng số trẻ em mồ côi, trẻ em
không nơi nương tựa, làm gia tăng số trẻ em thất học, lang thang…. Nhà
nước phải tăng đầu tư cho các lĩnh vự phòng bệnh và chăm sóc điều trị bệnh
nhân, xây dựng mới các cơ sở bảo trọ xã hôi để tiếp đón trẻ em lang thang cơ
nhỡ, trẻ em mồ côi do hậu quả của đại dịch HIV/AIDS sản sinh ra. Gia đình
có người nhiễm HIV/AIDS cũng phải tăng các chi phí cho việc khám chữa
bệnh, chăm sóc người bệnh từ đó càng làm cho kinh tế gia đình càng thêm
khó khăn.
Đại dịch HIV/AIDS còn kéo theo sự phát triển của một số bệnh dịch
khác như tạo điều kiện để bệnh Lao phát triển, làm tăng nguy cơ vi khuẩn
Lao kháng thuocs, làm gia tăng các bệnh lây truyền qua đường tình dục.
Đại dịch HIV/AIDS làm giảm dân số, suy thoái nòi giống. Hầu hết
bệnh nhân mắc HIV đều ở lứa tuổi trẻ, đây là độ tuổi lao động, đóng góp chủ
yếu cho sản xuất xã hội do đó làm giảm thu nhập quốc dân, ở một số quốc gia
đại dịch HIV/AIDS làm suy giàm giống nòi như ở một số nước Châu Phi
(Botswana, Swaziland, Nam Phi, Zambia, Zimbawe) tuổi thọ trung bình của
người dân đã đạt từ 50 đến 65 vào năm 1980 – 1985, nhưng do HIV/AIDS
tuổi thọ trung bình của các nước này chỉ còn khoảng 30 – 40 tuổi vào năm
2010. Tại Zimbabwe tỷ lệ người nhiễm HIV/AIDS trong dân cư là 25% đến
năm 2000 đã mất đi 5-10% lực lượng lao động xã hội.
4. Nghiện chích ma túy và lây nhiễm HIV
4.1. Khái niệm ma tuý
Ngày nay nghiện ma tuý đã trở thành hiểm hoạ toàn cầu. Cuộc đấu
28
tranh phòng chống và kiểm soát ma tuý để bảo vệ sự hưng thịnh của chế độ
xã hội, sự phát triển sức khỏe, trí tuệ, tinh thần và văn hoá của các thế hệ
tương lai đang là vấn đề bức xúc của nhiều nước trên thế giới.
Ma tuý là chất gây nghiện, gây trạng thái say, hư ảo, mê mẩn, lâng lâng
ma quái. Theo chuyên gia nghiên cứu ma tuý của Liên hiệp quốc thì: " Ma
tuý là các chất hoá học có nguồn gốc tự nhiên và nhân tạo, khi xâm nhập cơ
thể người sẽ có tác dụng làm thay đổi tâm trạng, ý thức và trí tuệ, buộc con
người lệ thuộc vào chúng, gây tổn thương cho cá nhân và cộng đồng" [4].
4.2. Khái niệm nghiện ma tuý
Hiện nay vẫn chưa có một khái niệm nghiện ma tuý đầy đủ, thống
nhất.
- Về mặt hành vi: nghiện ma tuý nghĩa là ham thích sử dụng một hoặc
nhiều chất đến mức thành thói quen, tệ nạn không bỏ được [4].
- Về mặt sinh học: nghiện ma tuý là một trạng thái nhiễm độc hệ thần
kinh và toàn bộ cơ thể có tính chu kỳ, mạn tính dễ tái phát do sử dụng lặp lại
nhiều lần một chất ma tuý tự nhiên hay tổng hợp (thực chất là tình trạng lệ
thuộc thuốc).
- Về mặt xã hội: nghiện ma tuý là một bệnh [4].
Nghiện ma tuý là một trạng thái lệ thuộc của cơ thể người vào một
(hay nhiều) loại ma tuý, khi sử dụng lâu dài thành thói quen, gây nên trạng
thái "đói" ma tuý thường diễn ra theo từng thời kỳ và những rối loạn cả về thể
chất và tinh thần, gây hại cho cá nhân người nghiện và xã hội [4].
4.3. Tình hình ma tuý thế giới và ở Việt Nam
Năm 2008, tình hình tệ nạn ma tuý trên thế giới, trong khu vực và ở
Việt Nam vẫn tiếp tục diễn biến phức tạp. Theo thống kê của UNODC hiện
nay có khoảng gần 180 triệu người sử dụng cần sa ( chiếm khoảng 4% dân số
thế giới từ 15 - 64 tuổi) [6].
- Sản xuất ma tuý trên thế giới: Năm 2007, tổng diện tích trồng cây
thuốc phiện tăng lên đạt 235.700 hecta, tăng 17% so với năm 2006. Riêng
29
Afghanistan đã chiếm tới 82% tổng diện tích trồng cây thuốc phiện trên toàn
thế giới. Sản lượng thuốc phiện đã tăng gấp đôi từ năm 2005 đến năm 2007,
đạt kỷ lục 8.870 tấn năm 2007.
Năm 2007, sản lượng cây cần sa thế giới là 41.400 tấn. Sản lượng ma
tuý tổng hợp (ATS) năm 2007 là 494 tấn. Sản lượng Ectasy giảm (113 tấn
năm 2005 so với 267 tấn năm 2006), lượng Methamphetamine cũng giảm
(278 tấn năm 2005 so với 267 tấn năm 2006). Sản lượng Amphetamine trên
thế giới là 126 tấn năm 2006. Trên thế giới tỷ lệ người sử dụng Amphetamine
khoảng 0,6% và của Ectasy là 0,2% [6].
- Xu hướng về buôn bán ma tuý: Năm 2005, số lượng cây cần sa thu
giữ tăng tới 12% so với năm 2004 đạt 5.200 tấn. Năm 2006 lượng thu giữ
thuốc phiện và Morphine tăng lần lượt 10% và 31% do sản lượng tăng ở
Afghanistan. Số lượng Amphetamine, Methamphetamin và Ectasy thu giữ
giảm từ 8% đến 15% từ năm 2005 đến 2006.
- Sử dụng ma tuý trên Thế giới: Trong 4 năm liền, tỷ lệ người sử dụng
ma tuý trong độ tuổi 15 - 64 trên thế giới trong khoảng từ 4,7 đến 5,0% dân
số thế giới. Tỷ lệ toàn cầu trong thời gian 2006 - 2007 so với 2005 - 2006 như
sau: Cần sa từ 3,8% lên 3,9%, cocain từ 0,34% lên 0,37%, chất chứa thuốc
phiện từ 0,37% lên 0,39%, heroin từ 0,27% lên 0,28% và Amphetamine giảm
0,6% xuống 0,58%. Theo ước tính của UNODC, sản lượng các chất kích
thích dạng Amphetamin (ATS) trên thế giới năm 2006 vào khoảng 494 tấn.
Theo thống kê, Methamphetamine chiếm tới 68% nhóm Amphetamine năm
2006. Số lượng các cơ sở điều chế ATS phát hiện được trên thế giới là 18.639
cơ sở năm 2004 và sau đó giảm xuống còn 8.245 phòng điều chế năm 2006.
Năm 2006, bắt giữ ATS lại tăng, đạt tới 47,6 tấn. Năm 2006 có 24,7 triệu
người trên thế giới (chiếm 0,6% dân số độ tuổi 15-64) sử dụng Amphetamine.
Theo UNODC, trên thế giới có khoảng 9 triệu người (0,2%) dùng Ectasy [6].
India là một trong những nước xuất khẩu lớn nhất Ephedrine và
30
Pseudoephedrine.
Thuốc giảm đau, lượng thu giữ Methaqualone toàn cầu là 5,3 tấn năm
2006. Năm 2007, Trung Quốc thu giữ một lượng lớn Benzodiazepines,
402kg, hơn 400.000 viên. Tuy nhiên, trong năm 2007 số lượng thu giữ
Benzodiazenpines giảm còn 11.000 viên. Năm 2006, Australia và New
Zealand thu giữ một lượng lớn Hydroxybutanoic acid (GHB), chiếm 90%
lượng thu giữ toàn cầu và tất cả lượng GHB thu giữ được ở khu vực Châu á
Thái Bình Dương. Số lượng này là 202 lít ở New Zealand và 141 lít ở
Autralia [6].
- Tình hình tệ nạn ma tuý ở Việt Nam:
Theo báo cáo của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, đến cuối tháng
6/2011 cả nước có 149.900 người nghiện ma tuý, người nghiện ma tuý có ở
63/63 tỉnh, thành phố, khoảng 90% quận, huyện, thị xã và gần 60% xã,
phường, thị trấn trên cả nước [1].
Theo báo cáo của Bộ Lao động - Thương binh và xã hội, tính tới cuối tháng
6/2011 cả nước có 149.900 người nghiện ma tuý. So với cuối năm 1994, số
người nghiện ma tuý đã tăng khoảng 2,7 lần với mức tăng 6.000 người
nghiện mỗi năm. Người nghiện ma tuý đã có 63/63 tỉnh, thành phố, khoảng
90% quận, huyện, thị xã và gần 60% xã, phường, thị trấn trên cả nước [1].
Cơ cấu nghiện ma tuý theo vùng miền cũng đã có những thay đổi đáng kể.
Giữa những năm 90 của thế kỷ trước, nghiện ma tuý chủ yếu phổ biến ở
người dân tại các tỉnh miền núi phía Bắc thì từ giữa những năm 2000 đã tăng
mạnh xuống vùng đồng bằng sông Hồng và khu vực miền Đông Nam bộ.
Năm 1994 có tới hơn 61% người nghiện ma tuý ở Việt Nam thuộc khu vực
các tỉnh Trung du và miền núi phía Bắc thì tới năm 2009 tỷ lệ này là gần
30%. Ngược lại, tỷ lệ người nghiện ma túy thuộc vùng Đồng bằng sông Hồng
trong tổng số người nghiện ma túy của cả nước đã tăng từ 18,2% lên 31%
trong cùng kỳ. Tương tự, tỷ lệ người nghiện ma túy thuộc các tỉnh miền Đông
31
Nam bộ đã tăng từ 10,2 lên 23%.
Độ tuổi của người nghiện ma túy cũng có xu hướng trẻ hóa. Cuối năm
2010, gần 70% người nghiện ma túy ở độ tuổi dưới 30 trong khi năm 1995 tỷ
lệ này chỉ khoảng 42%. Hơn 95% người nghiện ma túy ở Việt Nam là nam
giới. Tỷ lệ người nghiện là nữ giới cũng đang có xu hướng tăng trong những
năm qua.
Theo số liệu khảo sát cuối năm 2009, đa số người nghiện ma túy có
trình độ văn hóa từ tiểu học tới trung học cơ sở. Có khoảng 2/3 số người
nghiện chưa từng được đào tạo nghề một cách chính quy, được cấp bằng,
chứng chỉ tốt nghiệp. Đa số người nghiện ma túy không có nghề nghiệp ổn
định, chi tiêu chủ yếu từ nguồn hỗ trợ của gia đình, thu nhập hợp pháp chỉ
bằng 1/3 số tiền chi cho ma túy.
Loại ma túy được sử dụng và hình thức sử dụng ma túy cũng có nhiều
thay đổi phức tạp. Thay cho vai trò của thuốc phiện trong hơn 10 năm trước
đây, heroin hiện là loại ma túy được sử dụng chủ yếu ở Việt Nam, có tới
96,5% người nghiện thường xuyên sử dụng heroin trước khi tham gia cai
nghiện. Mặc dù tỷ lệ người nghiện thuốc phiện và các chất kích thích dạng
Amphetamine (ATS hay ma túy tổng hợp) tương đương nhau, khoảng 1,2% -
1,4% nhưng theo đánh giá của Cơ quan phòng chống tội phạm và ma túy của
Liên hợp quốc, việc lạm dụng ATS, đặc biệt là Methamphetamine, đang có xu
hướng gia tăng trong người nghiện ma túy tại Việt Nam, nhất là khi Việt Nam
nằm trong khu vực Đông Nam Á là khu vực chiếm ½ số người lạm dụng loại
ma túy tổng hợp khiến cho công tác phòng ngừa và cai nghiện phục hồi cho
nhóm người nghiện ma túy gặp rất nhiều khó khăn.
Cách thức sử dụng ma túy cũng có nhiều thay đổi. Nếu như năm 1995
chỉ có chưa đến 8% số người nghiện chích ma túy và hơn 88% chủ yếu hút,
hít thì tới cuối năm 2009 số người chích ma túy chiếm hơn ¾ tổng số người
nghiện ma túy của cả nước. Hình thức sử dụng ma túy chủ yếu là tiêm chích
với việc dùng chung bơm kim tiêm đã dẫn tới tỷ lệ lây nhiễm HIV cao trong
32
nhóm người nghiện chích ma túy (17,2%). Theo số liệu từ Bộ Y tế, người
nghiện chích ma túy cũng là nhóm đối tượng chiếm tỷ lệ cao nhất trong số
những người nhiễm HIV ở Việt Nam (41,1% tính đến cuối tháng 6/2011)
Khoảng 50% số người nghiện đã gặp những vấn đề về sức khỏe tâm
thần như lo lắng, trầm cảm, mất ngủ, ảo giác, căng thẳng thần kinh, trong đó
11,4% thường xuyên hoặc luôn luôn gặp những vấn đề như vậy. Hơn 1/3 số
người nghiện ma túy gặp những khó khăn, mâu thuẫn trong quan hệ với
người thân trong gia đình.
Ngoài ra, nghiện ma túy là nguồn gốc, nguyên nhân tiềm tàng phát
sinh nhiều loại tội phạm xâm phạm trật tự xã hội như giết người, cướp của,
trộm cắp, cố ý gây thương tích, bạo lực gia đình...Số liệu khảo sát của Bộ Lao
động – Thương binh và xã hội cho thấy, có gần 38% số học viên được tiếp
nhận và hỗ trợ cai nghiện tại các Trung tâm đã có tiền án hoặc tiền sự. Theo
số liệu từ Bộ Công an, khoảng 11% trong tổng số 143.196 người nghiện có
hồ sơ quản lý của cả nước cuối năm 2010 đang được quản lý tại các Trại
giam, cơ sở Giáo dưỡng, Trường giáo dưỡng do Công an quản lý do có các
hành vi vi phạm pháp luật hình sự.
Như vậy, có thể thấy tình hình lạm dụng ma túy ở Việt Nam vẫn đang
diễn biến phức tạp và có xu hướng gia tăng cùng với việc xuất hiện nhiều loại
ma túy mới, hình thức sử dụng ma túy không an toàn làm tăng nguy cơ lây
nhiễm HIV. Đa số người nghiện ma túy có trình độ văn hóa thấp, chưa được
đào tạo nghề và không có việc làm ổn định, thường gặp các vấn đề về sức
khỏe, kinh tế khó khăn, nhiều người không được sự hỗ trợ của người thân,
gia đình.
5. Luật phòng, chống HIV/AIDS và các giải pháp can thiệp giảm tác hại
trong dự phòng lây nhiễm HIV
Xác định rõ HIV/AIDS là mối hiểm họa đối dân tộc nên ngay từ năm
2004, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chiến lược quốc gia về phòng,
chống HIV/AIDS và tiếp đó ngày 29/11/2007, Quốc hội đã ban hành Luật
33
phòng, chống nhiễm vi rút gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở
người (HIV/AIDS) (sau đây gọi tắt là Luật phòng, chống HIV/AIDS). Trong
các văn bản này, can thiệp giảm tác hại trong dự phòng lây nhiễm HIV luôn
được coi là một trong các giải pháp quan trọng để thực hiện thành công mục
tiêu phòng, chống HIV/AIDS ở Việt Nam. Việt Nam vẫn là một trong số rất ít
các nước có quy định chính thức về can thiệp giảm tác hại trong luật. Tuy
nhiên, do chưa nhiều kinh nghiệm thực tế và kinh nghiệm pháp luật nên các
quy định về can thiệp giảm tác hại trong Luật phòng, chống HIV/AIDS chỉ
mang tính nguyên tắc còn các quy định cụ thể để thực hiện giảm tác hại theo
luật lại nằm trong các văn bản do Chính phủ và Bộ Y tế ban hành nên giá trị
pháp lý chưa cao và chưa khắc phục được hoàn toàn các mâu thuẫn với hệ
thống pháp luật về phòng, chống ma túy và mại dâm. Cụ thể như sau:
Khoản 15 Điều 2 của Luật phòng, chống HIV/AIDS quy định "các
biện pháp can thiệp giảm tác hại trong dự phòng lây nhiễm HIV bao gồm
tuyên truyền, vận động, khuyến khích sử dụng bao cao su, bơm kim tiêm
sạch, điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế và các
biện pháp can thiệp giảm tác hại khác nhằm tạo điều kiện cho việc thực hiện
các hành vi an toàn để phòng ngừa lây nhiễm HIV" và khoản 1 Điều 21 quy
định "Các biện pháp can thiệp giảm tác hại trong dự phòng lây nhiễm HIV
được triển khai trong các nhóm đối tượng có hành vi nguy cơ cao thông qua
các chương trình, dự án phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội".
Để hướng dẫn các quy định Luật phòng, chống HIV/AIDS, Chính phủ
đã ban hành Nghị định số 108/2007/NĐ - CP ngày 26/6/2007 quy định chi
tiết thi hành một số điều của Luật phòng, chống HIV/AIDS, trong đó quy
định cụ thể về các vấn đề sau:
- Đối tượng áp dụng các biện pháp can thiệp giảm tác hại trong dự
phòng lây nhiễm HIV gồm người mua dâm, bán dâm; người nghiện chất dạng
thuốc phiện; người nhiễm HIV; người có quan hệ tình dục đồng giới; người
thuộc nhóm người di biến động và người có quan hệ tình dục với các đối tượng
nêu trên; - Thẩm quyền quyết định triển khai các biện pháp can thiệp giảm tác
34
hại trong dự phòng lây nhiễm HIV;
- Quyền và trách nhiệm của nhân viên tiếp cận cộng đồng khi thực hiện
các chương trình, dự án can thiệp giảm tác hại trong dự phòng lây nhiễm
HIV;
- Cung cấp, hướng dẫn sử dụng bao cao su;
- Cung cấp và hướng dẫn sử dụng bơm kim tiêm sạch;
- Điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế;
- Kiểm tra, giám sát các hoạt động can thiệp giảm tác hại trong dự
phòng lây nhiễm HIV [4].
Bên cạnh đó để bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp
luật, năm 2008, Quốc hội cũng đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số
điều của Luật phòng, chống ma túy năm 2000, trong đó bổ sung thêm Điều
34a về biện pháp can thiệp giảm tác hại của nghiện ma tuý, cụ thể như sau:
"Điều 34a
1. Biện pháp can thiệp giảm tác hại của nghiện ma tuý là biện pháp
làm giảm hậu quả tác hại liên quan đến hành vi sử dụng ma túy của người
nghiện gây ra cho bản thân, gia đình và cộng đồng.
2. Biện pháp can thiệp giảm tác hại của nghiện ma túy được triển khai
trong nhóm người nghiện ma túy thông qua chương trình, dự án phù hợp với
điều kiện kinh tế - xã hội.
3. Chính phủ quy định cụ thể các biện pháp can thiệp giảm tác hại của
nghiện ma túy và tổ chức thực hiện các biện pháp này.
Mặc dù việc triển khai các hoạt động can thiệp giảm tác hại trong
nhóm đối tượng người mua dâm, bán dâm đang áp dụng các quy định tại
Điều 83 của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật về nguyên tắc áp
dụng pháp luật là "trong trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật do
cùng một cơ quan ban hành mà có quy định khác nhau về cùng một vấn đề
thì áp dụng quy định của văn bản được ban hành sau" nhưng trên thực tế thì
mâu thuẫn pháp lý giữa hệ thống pháp luật về phòng, chống HIV/AIDS với
hệ thống pháp luật về phòng, chống mại dâm vẫn còn tồn tại và có ảnh hưởng
35
không nhỏ tới việc thực hiện các hoạt động can thiệp giảm tác hại trong dự
phòng lây nhiễm HIV. Bên cạnh đó, trong quá trình triển khai các quy định
của Luật phòng, chống HIV/AIDS về can thiệp giảm tác hại trong dự phòng
lây nhiễm HIV cũng đã xuất hiện nhiều quan hệ xã hội mới cần có quy định
của pháp luật để điều chỉnh cũng như đã có nhiều quy định không còn phù
hợp với thực tiễn cần được sửa đổi, bổ sung sớm trong thời gian tới để bảo
đảm tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật, tạo điều kiện thuận lợi
36
cho việc triển khai các hoạt động can thiệp giảm tác hại trong thực tế.
CHƯƠNG II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1. Thiết kế nghiên cứu
Mô tả cắt ngang có kết hợp phân tích định lượng và định tính.
2. Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu
2.1. Đối tượng nghiên cứu
2.1.1. Các đối tượng chịu trách nhiệm thi hành Luật phòng, chống HIV/AIDS
tại địa phương, bao gồm:
- Lãnh đạo Trung tâm phòng, chống HIV/AIDS các tỉnh được lựa chọn
để tiến hành nghiên cứu;
- Lãnh đạo Trung tâm y tế huyện, quận, thành phố, thị xã thuộc các
tỉnh được lựa chọn để tiến hành nghiên cứu;
- Lãnh đạo phòng can thiệp giảm hại thuộc các tỉnh được lựa chọn để
tiến hành nghiên cứu;
- Cán bộ thuộc cơ sở đang triển khai điều trị thay thế thuộc các tỉnh
được lựa chọn để tiến hành nghiên cứu;
- Cán bộ làm công tác can thiệp giảm tác hại tuyến tỉnh và tuyến huyện
thuộc các tỉnh được lựa chọn để tiến hành nghiên cứu;
- Đại diện cơ quan Công an và Lao động - Thương binh và Xã hội
tuyến tỉnh và tuyến huyện thuộc các tỉnh được lựa chọn để tiến hành nghiên
cứu.
- Chủ cơ sở kinh doanh dịch vụ lưu trú và vui chơi giải trí thuộc các
tỉnh được lựa chọn để tiến hành nghiên cứu.
2.1.2. Các đối tượng thụ hưởng chính sách:
- Người nghiện chích ma túy;
- Gái mại dâm;
- Người có quan hệ tình dục đồng giới nam.
2.2. Tiêu chí lựa chọn đối tượng nghiên cứu
2.2.1. Đối với đối tượng chịu trách nhiệm thi hành Luật phòng, chống
37
HIV/AIDS tại địa phương: Chọn lãnh đạo hoặc cán bộ phụ trách công tác can
thiệp giảm tác hại trong dự phòng lây nhiễm HIV; chủ hoặc người phụ trách
cơ sở kinh doanh dịch vụ lưu trú và vui chơi giải trí.
2.2.2. Đối với đối tượng thụ hưởng chính sách:
- Người bán dâm: Đối tượng lựa chọn là nam giới từ 18 tuổi trở lên có
hành vi tiêm chích trong một tháng trước cuộc điều tra.
- Người nghiện chích ma túy: Đối tượng được lựa chọn là nữ từ 18 tuổi
trở lên có quan hệ tình dục để kiếm tiền ít nhất là 01 lần trong một tháng
trước cuộc điều tra, làm việc trên đường phố hoặc các tụ điểm như massage,
karaoke,...
- Người có quan hệ tình dục đồng giới nam: Đối tượng lựa chọn là nam
giới từ 15 tuổi trở lên có quan hệ tình dục với nam giới ít nhất 01 lần trong
một tháng trước cuộc điều tra. Tuy nhiên, nhóm quan hệ tình dục đồng giới
nam chỉ tiến hành tại Hải Phòng và thành phố Hồ Chí Minh.
2.3. Địa điểm nghiên cứu
2.3.1. Lựa chọn 05 tỉnh đại diện cho các vùng miền trong cả nước:
- Khu vực Tây Bắc: Sơn La;
- Khu vực đồng bằng Bắc Bộ: Hải Phòng;
- Khu vực duyên hải miền Trung: Nghệ An;
- Khu vực Đông Nam Bộ: thành phố Hồ Chí Minh;
- Khu vực Tây Nam Bộ: Kiên Giang.
2.3.2. Tại các tỉnh được lựa chọn, nhóm nghiên cứu lựa chọn huyện, quận
trung tâm và 02 huyện có số người nhiễm HIV cao nhất, cụ thể như sau:
- Tại Sơn La: Thị xã Sơn La, Quỳnh Nhai, Mương La.
- Tại Hải Phòng: Quận Lê Chân, Hồng Bàng, Ngô Quyền.
- Tại Nghệ An: thành phố Vinh, Diễn Châu, Thị xã Cửa Lò.
- Tại thành phố Hồ Chí Minh: Quận 1, 3 và Bình Thạnh
- Tại Kiên Giang: Thành phố Rạch Giá, An Biên, Châu Thành.
2.4. Thời gian nghiên cứu
38
Từ tháng 9/2012 đến tháng 12/2012.
3. Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu
3.1. Cỡ mẫu
3.1.1. Cỡ mẫu của nghiên cứu định tính:
a) Phỏng vấn sâu:
- Lãnh đạo Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS: 01 người;
- Lãnh đạo Trung tâm Y tế huyện: 01 người.
- Lãnh đạo Phòng can thiệp giảm hại thuộc Trung tâm Phòng, chống
HIV/AIDS tỉnh: 01 người.
- Các cơ sở đang triển khai hoạt động điều trị thay thế: 01 người;
- Các cơ sở kinh doanh dịch vụ lưu trú và vui chơi, giải trí: 03 người.
b) Thảo luận nhóm:
- Cán bộ làm công tác can thiệp giảm tác hại tuyến huyện: 01 người;
- Đại diện cơ quan Công an tuyến huyện: 01 người.
- Đại diện cơ quan Lao động - Thương binh và Xã hội tuyến huyện: 01
người.
3.1.2. Cỡ mẫu của nghiên cứu định lượng:
Tỉnh Sơn Nghệ Hải TP. Kiên Tổng
La An Phòng HCM Giang cộng
Đối tượng
50 50 45 45 50 240 Người nghiện chích ma túy
50 50 45 45 50 240 Phụ nữ bán dâm
0 10 10 0 20 Người có quan hệ tình dục 0
đồng giới nam
3.2. Phương pháp chọn mẫu
Xuất phát từ mục đích của nghiên cứu là đánh giá việc thi hành các
quy định của Luật phòng, chống HIV/AIDS về can thiệp giảm tác hại trong
dự phòng lây nhiễm HIV nên nghiên cứu này chủ yếu sử dụng phương pháp
nghiên cứu định tính trên nhóm đối tượng chịu trách nhiệm thi hành Luật
39
phòng, chống HIV/AIDS đồng thời kết hợp với việc thực hiện nghiên cứu
định tính trên nhóm đối tượng thụ hưởng chính sách để chứng minh cho các
nhận định của nghiên cứu định tính. Vì vậy, nghiên cứu đã sử dụng phương
pháp chọn mẫu là phương pháp lựa chọn có chủ đích các đối tượng nghiên
cứu dựa trên tiêu chí chọn đối tượng nghiên cứu. Riêng đối tượng của nghiên
cứu định lượng, không lựa chọn các đối tượng hiện đang là nhân viên tiếp
cận cộng đồng để có thể phản ánh một cách trung thực nhất về hiệu quả của
các can thiệp.
4. Phương pháp thu thập số liệu
4.1. Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp
Thu thập báo cáo về tình hình tổ chức hoạt động can thiệp giảm tác hại
trong dự phòng lây nhiễm HIV, gồm: số lượt người được tiếp cận thông tin
giáo dục truyền thông về can thiệp giảm hại qua các năm; số lượng tài liệu
truyền thông đã được phân phát; số liệu các huyện đã triển khai các hoạt động
can thiệp giảm tác hại;
4.2. Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp
Phỏng vấn bằng bảng hỏi đối với người nghiện chích ma túy, người
bán dâm và người có quan hệ tình dục đồng giới nam để thu thập thông tin về
hành vi trong phòng chống HIV/AIDS và hiệu quả của các chương trình can
thiệp giảm tác hại trong dự phòng lây nhiễm HIV.
Sử dụng khung phỏng vấn sâu đối với nhóm Lãnh đạo Trung tâm
Phòng, chống HIV/AIDS; lãnh đạo Trung tâm Y tế huyện; Lãnh đạo Phòng
can thiệp giảm hại thuộc Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS tỉnh; người phụ
trách các cơ sở đang triển khai hoạt động điều trị thay thế; chủ hoặc người
được giao quản lý các cơ sở kinh doanh dịch vụ lưu trú và vui chơi, giải trí để
bổ sung thêm số liệu thứ cấp còn thiếu, làm rõ một số vấn đề liên quan đến
dự án mà số liệu định lượng chưa đáp ứng được.
5. Nội dung và các chỉ số
a) Nhóm 1: Kiến thức pháp luật về can thiệp giảm tác hại
- Tỷ lệ phần trăm người có hiểu biết đầy đủ các biện pháp can thiệp
giảm tác hại: Được tính trên cơ sở trả lời được tất cả các nội dung có liên
40
quan trong bảng hỏi.
- Tỷ lệ phần trăm người có hiểu biết đầy đủ các nội dung của pháp luật
về can thiệp giảm tác hại: Được tính trên cơ sở trả lời được tất cả các nội
dung có liên quan trong bảng hỏi.
b) Nhóm 2: Tiếp cận các chương trình can thiệp giảm tác hại
- Tỷ lệ phần trăm người có hành vi nguy cơ biết được nơi cung cấp
hoặc phân phát bao cao su, BKT;
- Tỷ lệ phần trăm những người trong quần thể có nguy cơ cao được
tiếp cận với các chương trình giảm hại trong 6 tháng qua;
- Tỷ lệ phần trăm người nghiện chích ma túy nhận BKT miễn phí trong
vòng 6 tháng trước cuộc điều tra;
- Tỷ lệ phần trăm người nghiện chích ma túy có quan hệ tình dục nhận
được bao cao su trong vòng 6 tháng trước cuộc điều tra;
- Tỷ lệ phần trăm gái bán dâm nhận được bao cao su trong vòng 6
tháng trước cuộc điều tra
- Tỷ lệ phần trăm nam quan hệ tình dục đồng giới tham gia vào các
chương trình can thiệp trong vòng 6 tháng trước cuộc điều tra.
c) Nhóm 3: Hành vi nguy cơ và hành vi dự phòng lây nhiễm HIV
- Tỷ lệ người nghiện chích ma túy dùng chung BKT trong vòng 1
tháng trước cuộc điều tra;
- Tỷ lệ người nghiện chích ma túy sử dụng bao cao su khi quan hệ tình
dục;
- Tỷ lệ phần trăm người bán dâm cho biết luôn luôn sử dụng bao cao su
với khách lạ;
- Tỷ lệ phần trăm người bán dâm cho biết luôn luôn sử dụng bao cao su
với khách quen;
- Tỷ lệ phần trăm gái bán dâm thường xuyên sử dụng bao cao su với
chồng /người yêu;
- Tỷ lệ phần trăm nam giới cho biết luôn luôn sử dụng bao cao su trong
quan hệ tình dục qua đường hậu môn với khách hàng nam;
- Tỷ lệ phần trăm nam giới cho biết luôn luôn sử dụng bao cao su trong
41
quan hệ tình dục qua đường hậu môn với bạn tình tự nguyện;
- Tỷ lệ phần trăm nam quan hệ tình dục đồng giới cho biết thường xuyên sử
42
dụng bao cao su với bạn tình là nữ.
CHƯƠNG III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
1. Đánh giá hệ thống văn bản về can thiệp giảm tác hại trong dự phòng
lây nhiễm HIV
Để hướng dẫn các quy định Luật phòng, chống HIV/AIDS, Chính phủ
đã ban hành Nghị định số 108/2007/NĐ - CP ngày 26/6/2007 quy định chi
tiết thi hành một số điều của Luật phòng, chống HIV/AIDS (sau đây gọi tắt là
Nghị định số 108/2007/NĐ-CP), trong đó quy định cụ thể về các vấn đề sau:
- Đối tượng áp dụng các biện pháp can thiệp giảm tác hại trong dự
phòng lây nhiễm HIV gồm người mua dâm, bán dâm; người nghiện chất dạng
thuốc phiện; người nhiễm HIV; người có quan hệ tình dục đồng giới; người
thuộc nhóm người di biến động và người có quan hệ tình dục với các đối
tượng nêu trên;
- Thẩm quyền quyết định triển khai các biện pháp can thiệp giảm tác
hại trong dự phòng lây nhiễm HIV;
- Quyền và trách nhiệm của nhân viên tiếp cận cộng đồng khi thực hiện
các chương trình, dự án can thiệp giảm tác hại trong dự phòng lây nhiễm
HIV;
- Cung cấp, hướng dẫn sử dụng bao cao su;
- Cung cấp và hướng dẫn sử dụng bơm kim tiêm sạch;
- Điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế;
- Kiểm tra, giám sát các hoạt động can thiệp giảm tác hại trong dự
phòng lây nhiễm HIV.
Như vậy, căn cứ vào các quy định của Luật phòng, chống HIV/AIDS
và Nghị định số 108/2007/NĐ-CP thì hệ thống văn bản về can thiệp giảm tác
hại trong dự phòng lây nhiễm HIV gồm các nội dung sau:
1. Các quy định chung về can thiệp giảm tác hại trong dự phòng lây
nhiễm HIV.
2. Các quy định về hoạt động thông tin, giáo dục, truyền thông về can
43
thiệp giảm tác hại trong dự phòng lây nhiễm HIV.
3. Các quy định về biện pháp chuyên môn kỹ thuật trong can thiệp
giảm tác hại trong dự phòng lây nhiễm HIV.
4. Các quy định về chế độ, chính sách, tài chính trong can thiệp giảm
tác hại trong dự phòng lây nhiễm HIV.
5. Các quy định về tổ chức bộ máy làm công tác can thiệp giảm tác hại
trong dự phòng lây nhiễm HIV.
6. Các quy định khác có liên quan đến việc thực hiện các biện pháp can
thiệp giảm tác hại trong dự phòng lây nhiễm HIV.
1.1. Hệ thống hóa các văn bản về can thiệp giảm tác hại trong dự phòng
lây nhiễm HIV
Qua tập hợp hóa các văn bản do các cơ quan quản lý Nhà nước có
thẩm quyền ban hành từ năm 2006 đến nay, có 11 văn bản quy phạm pháp
luật đã được ban hành và hiện đang còn hiệu lực điều chỉnh các quan hệ xã
hội phát sinh trong lĩnh vực can thiệp giảm tác hại trong phòng lây nhiễm
HIV .
Để đánh giá được thực trạng của hệ thống pháp luật về can thiệp giảm
tác hại trong phòng lây nhiễm HIV hiện hành, các văn bản về can thiệp giảm
tác hại trong phòng lây nhiễm HIV được phân loại theo 4 tiêu chí, cụ thể như
sau:
1.1.1. Phân loại theo thẩm quyền ban hành
Các văn bản về can thiệp giảm tác hại trong dự phòng lây nhiễm HIV
được ban hành ở nhiều cấp có thẩm quyền như: Bộ Chính trị, Quốc hội, Uỷ
ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Liên Bộ và Bộ.
Để tiện theo dõi, nhóm nghiên cứu đã xếp thành 4 nhóm thẩm quyền
ban hành văn bản quy phạm pháp luật như sau:
- Đảng cộng sản Việt Nam, Quốc hội, Uỷ ban thường vụ quốc hội;
- Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ;
- Liên tịch (Liên Bộ);
44
- Bộ (bao gồm Bộ Y tế và các Bộ khác).
Bảng 1. Phân loại các văn bản ban hành theo thẩm quyền
STT Thẩm quyền ban hành Tổng Tỷ lệ %
cộng
Đảng cộng sản Việt Nam, Quốc hội, Ủy 6 23,08 1. ban thường vụ Quốc hội
Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ 9 34,62 2.
8 30,77 3. Bộ
3 11,54 4. Liên tịch
26 100% 5. Cộng
BÀN LUẬN
Qua bảng phân loại các văn bản về can thiệp giảm tác hại trong dự
phòng lây nhiễm HIV theo thẩm quyền ban hành cho thấy:
Với 6 văn bản (chiếm 23,08% trong tổng số các văn bản về can thiệp
giảm tác hại trong dự phòng lây nhiễm HIV) do Đảng Cộng sản Việt Nam,
Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc ban hành đã chứng tỏ Đảng và Nhà nước
ta rất quan tâm đến công tác can thiệp giảm tác hại trong dự phòng lây nhiễm
HIV, coi công tác can thiệp giảm tác hại trong dự phòng lây nhiễm HIV
không chỉ giới hạn trong phạm vi trách nhiệm của ngành y tế mà còn là trách
nhiệm của các cấp ủy Đảng, chính quyền, đoàn thể, của mỗi cá nhân, gia đình
và của cả cộng đồng.
Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ cũng đã thể hiện sự quan tâm của
mình đối với công tác phòng chống HIV/AIDS thông qua việc thể chế các
quan điểm, đường lối của Đảng, Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội đối
với công tác can thiệp giảm tác hại trong dự phòng lây nhiễm HIV ở nước ta
bằng 9 văn bản (chiếm 34,62% trong tổng số các văn bản về can thiệp giảm
tác hại trong dự phòng lây nhiễm HIV).
Với nhiệm vụ là cơ quan thường trực về phòng, chống HIV/AIDS, Bộ
Y tế đã thực hiện tốt chức năng quản lý nhà nước của mình với việc ban hành
45
8 văn bản, chủ yếu về chuyên môn kỹ thuật y tế trong can thiệp giảm tác hại
trong dự phòng lây nhiễm HIV (chiếm 30,77% trong tổng số các văn bản về
can thiệp giảm tác hại trong dự phòng lây nhiễm HIV).
Tuy nhiên cho đến nay sự phối hợp liên ngành trong can thiệp giảm tác
hại trong dự phòng lây nhiễm HIV còn chưa chặt chẽ. Điều này thể hiện rõ
nét qua việc chỉ có 3 văn bản về can thiệp giảm tác hại trong dự phòng lây
nhiễm HIV do liên bộ ban hành (chiếm 11,54% trong tổng số các văn bản về
can thiệp giảm tác hại trong dự phòng lây nhiễm HIV).
1.1.2. Phân loại theo hình thức văn bản:
Văn bản trong hệ thống pháp luật về phòng chống HIV/AIDS được thể
hiện qua các hình thức sau đây: Hiến pháp, Luật, Pháp lệnh, Nghị định, Nghị
quyết, Quyết định, Chỉ thị, Thông tư, Thông tư liên bộ (Thông tư liên tịch).
Bảng 2: Phân loại các văn bản theo hình thức văn bản
STT Hình thức văn bản Tổng Tỷ lệ %
cộng
1. Nghị quyết, chỉ thị của Đảng 2 7,69
2. Luật 3 11,54
3. Pháp lệnh 1 3,85
4. Nghị định 2 7,69
5. Quyết định của Thủ tướng Chính phủ 6 23,08
6. Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ 1 11,53
7. Quyết định, thông tư cấp bộ 8 30,77
8. Thông tư liên tịch 3 11,54
9. Cộng 26 100
BÀN LUẬN
Qua bảng phân loại các văn bản quy phạm pháp luật về can thiệp giảm
tác hại trong dự phòng lây nhiễm HIV theo hình thức văn bản cho thấy hầu
như toàn bộ các hình thức văn bản theo quy định về quản lý hành chính đều
46
đã được sử dụng, điều này chứng tỏ lĩnh vực can thiệp giảm tác hại trong dự
phòng lây nhiễm HIV là một lĩnh vực chứa đựng rất nhiều mối quan hệ đa
dạng và nhạy cảm.
Hình thức văn bản nghị định và quyết định của Thủ tướng Chính phủ
được sử dụng khá nhiều (30,77%) đã cho thấy trong lĩnh vực về can thiệp
giảm tác hại trong dự phòng lây nhiễm HIV có rất nhiều vấn đề liên quan đa
ngành, đa cấp mang tính chất phức tạp đòi hỏi Chính phủ, Thủ tướng Chính
phủ phải trực tiếp điều hành việc áp dụng pháp luật.
Hình thức văn bản nghị quyết của Quốc hội, chỉ thị của Thủ tướng
Chính phủ và các Bộ ít được sử dụng chứng tỏ các vấn đề mới nảy sinh đòi
hỏi phải được xử lý ngay mà theo thẩm quyền của mình Chính phủ, Thủ
tướng Chính phủ và các Bộ đã ban hành theo thẩm quyền các văn bản trong
can thiệp giảm tác hại trong dự phòng lây nhiễm HIV để giải quyết ngay nên
chưa cần phải ban hành Chỉ thị để thúc đẩy công việc.
Trong hệ thống các văn bản về can thiệp giảm tác hại trong dự phòng
lây nhiễm HIV, loại văn bản có số lượng sử dụng nhiều nhất là văn bản cấp
bộ (30,77%) điều này chứng tỏ lĩnh vực can thiệp giảm tác hại trong dự
phòng lây nhiễm HIV gồm khá nhiều quy định về chuyên môn kỹ thuật.
1.1.3. Phân loại theo thời gian ban hành văn bản :
Bảng 3. Phân loại các văn bản theo thời gian ban hành văn bản
STT Năm ban hành văn bản Tổng Tỷ lệ %
cộng
1. 2005 2 7,69
2. 2006 1 3,85
3. 2007 9 34,62
4. 2008 3 11,54
5. 2009 1 3,85
6. 2010 4 15,38
7. 2011 4 15,38
8. 2012 2 7,69
47
9. Cộng 26 100
BÀN LUẬN
Giai đoạn từ năm 2005 - 2006 là giai đoạn mới chỉ các văn bản về chủ
trương của Đảng và Quốc hội đối với công tác can thiệp giảm tác hại trong
dự phòng lây nhiễm HIV, đồng thời cũng là giai đoạn mà Luật phòng, chống
HIV/AIDS có hiệu lực thi hành nên chỉ có 3 văn bản (chiếm tỷ lệ 11,54%) về
can thiệp giảm tác hại trong dự phòng lây nhiễm HIV được ban hành. Đây là
giai đoạn Việt Nam chưa có quy định để tạo hành lang pháp lý cho các hoạt
động can thiệp giảm tác hại trong dự phòng lây nhiễm HIV nên chưa làm
phát sinh nhiều quan hệ xã hội về can thiệp giảm tác hại trong dự phòng lây
nhiễm HIV dẫn đến quản lý nhà nước về can thiệp giảm tác hại trong dự
phòng lây nhiễm HIV cũng mới chỉ được đề cập dưới góc độ chủ trương,
chính sách.
Đến giai đoạn 2007- 2009, thời điểm Luật phòng, chống HIV/AIDS
chính thức có hiệu lực thi hành, số lượng văn bản về can thiệp giảm tác hại
trong dự phòng lây nhiễm HIV được ban hành đã tăng đột biến từ 3 văn bản
(chiếm tỷ lệ 11,54%) lên thành 13 văn bản (chiếm tỷ lệ 50%). Điều này
chứng tỏ sự phát triển của công tác can thiệp giảm tác hại trong dự phòng lây
nhiễm HIV đại dịch đã làm nảy sinh nhiều quan hệ xã hội mới nên cần phải
có văn bản để quản lý. Việc ban hành nhiều văn bản quản lý trong lĩnh vực
phòng, chống HIV/AIDS trong giai đoạn 2000 - 2003 cũng thể hiện sự
chuyển biến trong nhận thức của Đảng, Nhà nước ta về tầm quan trọng của
công tác can thiệp giảm tác hại trong dự phòng lây nhiễm HIV trong lĩnh vực
phòng, chống HIV/AIDS và với sự nghiệp phát trển kinh tế - xã hội của đất
nước, đồng thời cũng khẳng định quan điểm "quản lý Nhà nước bằng pháp
luật" của mình.
Giai đoạn 2010 - 2012, có 10 văn bản về can thiệp giảm tác hại trong
dự phòng lây nhiễm HIV được ban hành (chiếm tỷ lệ 38,46%) chứng tỏ hệ
thống pháp luật về hoạt động can thiệp giảm tác hại trong dự phòng lây
48
nhiễm HIV cũng liên tục được hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu từ thực tiễn.
1.1.4. Phân loại theo nội dung:
Bảng 4: Số lượng và tỷ lệ văn bản theo phạm vi điều chỉnh của văn bản
Nội dung Số văn bản Tỷ lệ %
Quy định chung về phòng chống HIV/AIDS 11 42,31
(Tổ chức, tài chính, chế độ, truyền thông…)
Quy định về thông tin - giáo dục - truyền thông 1 3,85
Quy định về chuyên môn y tế 6 23,08
Quy định về chế độ, chính sách, tài chính 4 15,38
Quy định về tổ chức 2 7,69
2 7,69 Khác
26 100 Tổng cộng
BÀN LUẬN
Qua bảng phân loại các văn bản về can thiệp giảm tác hại trong dự
phòng lây nhiễm HIV theo phạm vi điều chỉnh cho thấy:
Luật phòng, chống HIV/AIDS đã quy định nội dung của hoạt động can
thiệp giảm tác hại trong dự phòng lây nhiễm HIV gồm:
1. Các quy định chung về can thiệp giảm tác hại trong dự phòng lây
nhiễm HIV.
2. Các quy định về hoạt động thông tin, giáo dục, truyền thông về can
thiệp giảm tác hại trong dự phòng lây nhiễm HIV.
3. Các quy định về biện pháp chuyên môn kỹ thuật trong can thiệp
giảm tác hại trong dự phòng lây nhiễm HIV.
4. Các quy định về chế độ, chính sách, tài chính trong can thiệp giảm
tác hại trong dự phòng lây nhiễm HIV.
5. Các quy định về tổ chức bộ máy làm công tác can thiệp giảm tác hại
trong dự phòng lây nhiễm HIV.
6. Các quy định khác có liên quan đến việc thực hiện các biện pháp can
49
thiệp giảm tác hại trong dự phòng lây nhiễm HIV.
Trên cơ sở các quy định của Luật, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và
các Bộ ngành đã có các văn bản hướng dẫn thi hành. Nhìn chung các quy
định của Luật về can thiệp giảm tác hại trong dự phòng lây nhiễm HIV đều
đã có văn bản hướng dẫn, trong đó các văn bản hướng dẫn chung chiếm tỷ lệ
lớn nhất tới 42,31% trong tổng số văn bản về can thiệp giảm tác hại trong dự
phòng lây nhiễm HIV. Mặc dù chiếm tỷ lệ rất lớn nhưng hầu hết các văn bản
này đều chỉ đưa ra các quy định chung tạo định hướng cho các hoạt động can
thiệp giảm tác hại trong dự phòng lây nhiễm HIV chứ không quy định cụ thể
việc tổ chức thực hiện như thế nào, đặc biệt nội dung các văn bản thiếu các
quy định hướng dẫn việc phối hợp liên ngành trong hoạt động can thiệp giảm
tác hại trong dự phòng lây nhiễm HIV.
Các văn bản quy định về chuyên môn y tế chiếm tỷ lệ 23,08% (6 văn
bản). Trên cơ sở các quy định của Luật, các văn bản hướng dẫn thi hành đã
quy định khác cụ thể về chuyên môn kỹ thuật y tế trong từng lĩnh vực chuyên
môn của hoạt động can thiệp giảm tác hại trong dự phòng lây nhiễm HIV, bao
gồm: các quy định về điều kiện nhân sự, cơ sở vật chất, trang thiết bị đối với
cơ sở điều trị nghiện chất dạng thuốc phiện bằng Methadone, quy trình xét
duyệt người tham gia điều trị nghiện chất dạng thuốc phiện bằng Methadone,
quy trình điều trị người nghiện chất dạng thuốc phiện bằng Methadone, việc
cấp, phát, sử dụng thẻ nhân viên tiếp cận cộng đồng khi triển khai các hoạt
động can thiệp giảm tác hại trong dự phòng lây nhiễm HIV..... Tuy nhiên, còn
khá nhiều vấn đề về chuyên môn y tế chưa được pháp luật điều chỉnh như
hiện nay mới chỉ các quy định liên quan đến việc điều trị chất dạng thuốc
phiện bằng Methadone chứ chưa có các quy định liên quan đến việc điều trị
nghiện chất dạng thuốc phiện bằng các thuốc thay thế khác, thiếu các quy
định hướng dẫn cụ thể việc thực hiện các biện pháp can thiệp giảm tác hại
bằng bao cao su và cung cấp bơm kim tiêm sạch,.....
Một vấn đề cũng có số lượng văn bản điều chỉnh cao đó là các quy
định về chế độ, chính sách, tài chính trong can thiệp giảm tác hại trong dự
phòng lây nhiễm HIV với 4 văn bản chiếm tỷ lệ 15,38%. Điều này đã chứng
50
tỏ mặc dù trong điều kiện kinh tế còn nhiều khó khăn nhưng Nhà nước đã
hết sức quan tâm đến các cán bộ làm công tác can thiệp giảm tác hại trong dự
phòng lây nhiễm HIV.
2. Đánh giá về hệ thống pháp luật về can thiệp giảm hại trong dự phòng
lây nhiễm HIV
2.1. Về tính hợp hiến, hợp pháp
Tính hợp hiến, hợp pháp thể hiện các văn bản về can thiệp giảm tác hại
trong dự phòng lây nhiễm HIV khi xây dựng và ban hành phải xuất phát từ
Hiến pháp, từ các bộ luật, đạo luật về phòng, chống HIV/AIDS hay nói cách
khác, các văn bản về can thiệp giảm tác hại trong dự phòng lây nhiễm HIV
đều phải đảm bảo tuân theo Hiến pháp và pháp luật. Từ cách tiếp cận này,
qua rà soát cho thấy: tất các các văn bản về can thiệp giảm tác hại trong dự
phòng lây nhiễm HIV đều có căn cứ pháp lý rõ ràng, đồng thời nội dung của
các văn bản không có quy định trái với quy định của Hiến pháp cũng như trái
với quy định của nghị quyết, luật, pháp lệnh, nghị định mà văn bản đó hướng
dẫn thi hành.
2.2. Về tính thống nhất, đồng bộ
Tính thống nhất và đồng bộ của hệ thống pháp luật về can thiệp giảm
tác hại trong dự phòng lây nhiễm HIV trước hết được xác định bởi sự thống
nhất giữa pháp luật về vấn đề này với hệ thống pháp luật về phòng, chống
HIV/AIDS cũng như các ngành luật khác trong hệ thống pháp luật Việt Nam.
Từ cách tiếp cận này, qua rà soát cho thấy:
Về cơ bản hệ thống pháp luật về can thiệp giảm tác hại trong dự phòng
lây nhiễm HIV không xuất hiện các mâu thuẫn tuy nhiên tính thống nhất,
đồng bộ chưa thực sự cao, cụ thể như sau:
Luật phòng, chống HIV/AIDS đã quy định "các biện pháp can thiệp
giảm tác hại trong dự phòng lây nhiễm HIV bao gồm tuyên truyền, vận động,
khuyến khích sử dụng bao cao su, bơm kim tiêm sạch, điều trị nghiện các
chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế và các biện pháp can thiệp giảm
tác hại khác nhằm tạo điều kiện cho việc thực hiện các hành vi an toàn để
51
phòng ngừa lây nhiễm HIV" và khoản 1 Điều 21 quy định "Các biện pháp
can thiệp giảm tác hại trong dự phòng lây nhiễm HIV được triển khai trong
các nhóm đối tượng có hành vi nguy cơ cao thông qua các chương trình, dự
án phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội".
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật phòng, chống ma túy năm
2000, trong đó bổ sung thêm Điều 34a về biện pháp can thiệp giảm tác hại
của nghiện ma tuý, cụ thể như sau:
"Điều 34a
1. Biện pháp can thiệp giảm tác hại của nghiện ma tuý là biện pháp
làm giảm hậu quả tác hại liên quan đến hành vi sử dụng ma túy của người
nghiện gây ra cho bản thân, gia đình và cộng đồng.
2. Biện pháp can thiệp giảm tác hại của nghiện ma túy được triển khai
trong nhóm người nghiện ma túy thông qua chương trình, dự án phù hợp với
điều kiện kinh tế - xã hội.
3. Chính phủ quy định cụ thể các biện pháp can thiệp giảm tác hại của
nghiện ma túy và tổ chức thực hiện các biện pháp này.".
Tuy nhiên, tính đồng bộ của hệ thống pháp luật về can thiệp giảm tác
hại trong dự phòng lây nhiễm HIV là chưa cao, cụ thể như sau:
- Mặc dù Luật phòng, chống ma túy đã có quy định về các biện pháp
can thiệp giảm tác hại của nghiện ma túy nhưng đến nay vẫn chưa có hướng
dẫn cụ thể nội dung của các biện pháp giảm tác hại của nghiện ma túy là gì
và việc tổ chức thực hiện các biện pháp này như thế nào? Bên cạnh đó, các
quy định về cai nghiện ma túy của pháp luật về phòng, chống ma túy cũng
chưa thực sự đồng nhất với các quy định của pháp luật về phòng, chống
HIV/AIDS bởi mặc dù đã coi nghiện ma túy là một bệnh nhưng các văn bản
quy định về vấn đề này vẫn chỉ cho người nghiện chất dạng thuốc phiện có
hai lựa chọn là cai nghiện tại gia đình hoặc cộng đồng mà hoàn toàn không có
quy định nhằm tạo điều kiện cho họ tham gia điều trị nghiện các chất dạng
thuốc phiện bằng thuốc thay thế. Bên cạnh đó, việc thực hiện cai nghiện ma
túy tại các cơ sở chữa bệnh bắt buộc về bản chất chỉ là thực hiện việc cắt cơn,
52
trong khi đó nghiện chất dạng thuốc phiện là bệnh mạn tính cần điều trị lâu
dài nhưng hiện nay vẫn chưa có cơ chế pháp lý cho việc triển khai điều trị
nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế tại các cơ sở này.
- Pháp luật về phòng, chống mại dâm tuy về cơ bản không có mâu
thuẫn với pháp luật về phòng, chống HIV/AIDS nhưng do được ban hành
trước Luật phòng, chống HIV/AIDS nên không có các quy định cụ thể về
việc triển khai biện pháp can thiệp giảm hại bằng bao cao su.
- Pháp luật về xử lý vi phạm hành chính quy định "áp dụng biê ên pháp
đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là người nghiê ên ma túy từ đủ 18 tuổi trở
lên đã bị áp dụng biê ên pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn mà vẫn còn
nghiện hoă êc chưa bị áp dụng biê ên pháp này nhưng không có nơi cư trú ổn
định". Như vậy, người nghiện ma túy đang tham gia chương trình điều trị
nghiện chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế vẫn có thể bị áp dụng biện
pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
2.3 Về tính ổn định, phù hợp
Hệ thống pháp luật về can thiệp tác hại trong dự phòng lây nhiễm HIV
được hình thành do nhu cầu điều chỉnh các quan hệ xã hội liên quan đến vấn
đề này và hướng các quan hệ này phát triển theo một trình tự nhất định. Do
vậy, hệ thống pháp luật về can thiệp tác hại trong dự phòng lây nhiễm HIV
phải đảm bảo tính ổn định, tính phù hợp thể hiện sự tương quan giữa trình độ
của hệ thống pháp luật này với trình độ phát triển của kinh tế xã hội đất nước.
Nó không thể cao hơn hoặc thấp hơn trình độ phát triển đó, nhưng phải đón
đầu được sự phát triển trong một tương lai gần. Khi xem xét tiêu chí này, cần
chú ý tới mối quan hệ giữa pháp luật về can thiệp tác hại trong dự phòng lây
nhiễm HIV với các yếu tố kinh tế, chính trị, đạo đức, tập quán, truyền thống
và các quy phạm xã hội khác.
Tính ổn định, tính phù hợp còn thể hiện ở việc điều chỉnh pháp luật về
can thiệp tác hại trong dự phòng lây nhiễm HIV, nếu quá trình điều chỉnh
pháp luật diễn ra phù hợp với bản chất, tính chất của hoạt động can thiệp tác
hại trong dự phòng lây nhiễm HIV thì pháp luật đó sẽ góp phần thúc đẩy sự
53
phát triển hoạt động can thiệp tác hại trong dự phòng lây nhiễm HIV và
ngược lại. Pháp luật về can thiệp tác hại trong dự phòng lây nhiễm HIV
không chỉ điều chỉnh mối quan hệ xã hội đã định hình mà còn phải có khả
năng dự báo, tức là điều chỉnh những quan hệ mới nảy sinh trong hoạt động
can thiệp tác hại trong dự phòng lây nhiễm HIV.
Từ cách tiếp cận này, qua rà soát cho thấy:
Hệ thống pháp luật về can thiệp giảm tác hại trong dự phòng lây nhiễm
HIV đã tương đối ổn định và phù hợp. Điều này thể hiện rõ nét qua việc các
quy định của pháp luật về can thiệp giảm tác hại trong dự phòng lây nhiễm
HIV gần như không phải sửa đổi, bổ sung kể từ khi được ban hành đến nay,
đặc biệt là các quy định về chuyên môn kỹ thuật y tế và đã đáp ứng khá tốt
yêu cầu của thực tiễn. Tuy nhiên, do việc chưa có tiền lệ pháp luật về can
thiệp giảm tác tại trong dự phòng lây nhiễm HIV nên hệ thống pháp luật về
vấn đề này không tránh khỏi tình trạng tính dự báo chưa cao, cụ thể như sau:
- Pháp luật về can thiệp giảm tác hại trong dự phòng lây nhiễm HIV
quy định việc hạn chế mở rộng điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện
bằng thuốc thay thế (Khoản 1 Điều 10 Nghị định số 108/2007/NĐ-CP: không
áp dụng điều trị thay thế trong các cơ sở trại giam, trại tạm giam do ngành
công an và quốc phòng quản lý, trong các cơ sở chữa bệnh do ngành lao
động, thương binh và xã hội quản lý). Trong khi đó, căn cứ nhu cầu triển khai
điều trị thay thế của các tỉnh, thành phố trọng điểm về ma túy và HIV/AIDS,
nhu cầu điều trị của những người nghiện ma túy, căn cứ mục tiêu điều trị cho
80.000 người nghiện ma túy vào năm 2015 đã được quy định tại Quyết định
số 5146/QĐ-BYT ngày 27 tháng 12 năm 2010 do Bộ Y tế ký ban hành theo
ủy quyền của Chính phủ, việc hạn chế mở rộng điều trị thay thế tại Nghị định
số 108 vừa không phù hợp với thực tế triển khai điều trị thay thế vừa hạn chế
sự tham gia của các ngành, đặc biệt là ngành lao động, thương binh và xã hội,
ngành công an và quốc phòng trong việc cung cấp dịch vụ điều trị thay thế
cho các đối tượng có nhu cầu.
- Pháp luật về can thiệp giảm tác hại trong dự phòng lây nhiễm HIV
chưa có quy định về điều kiện của đối tượng và quy trình xét chọn đối tượng
54
được tham gia trị thay thế. Hoạt động quản lý nhà nước về lĩnh vực phòng,
chống ma túy nói chung và quản lý người nghiện ma túy nói riêng, do ngành
công an và lao động, thương binh và xã hội quản lý. Hiện nay, người nghiện
ma túy được hỗ trợ cai nghiện ma túy theo qua hai hình thức chủ yếu, gồm
cai nghiện tự nguyện tại gia đình và cộng đồng và cai nghiện bắt buộc tại các
cơ sở chữa bệnh được thành lập theo quy định của pháp lệnh xử lý vi phạm
hành chính và luật phòng, chống ma túy. Tuy nhiên, theo luật định, ngành y tế
hiện có nhiệm vụ cung cấp dịch vụ điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện
bằng thuốc thay thế cho những người nghiện ma túy. Trong bối cảnh đó, các
quy định về điều kiện của đối tượng và thủ tục xét chọn đối tượng tham gia
điều trị thay thế một cách rõ ràng là vô cùng cần thiết, vừa đảm bảo việc họ
được tham gia điều trị thay thế trừ trường hợp sử dụng ma túy trái phép theo
quy định tại Khoản 5, Điều 10 của Nghị định số 108 và bảo đảm tránh sự
chống lấn, chồng chéo trong việc quản lý đối tượng nghiện ma túy.
- Pháp luật về can thiệp giảm tác hại trong dự phòng lây nhiễm HIV
chưa có nội dung quy định về phân loại cơ sở điều trị nghiện chất dạng thuốc
phiện, điều kiện hoạt động và đăng ký hoạt động điều trị nghiện chất dạng
thuốc phiện. Thực tế, những quy định về các nội dung này là điều kiện tiên
quyết cho việc xác định mô hình và việc thiết lập các cơ sở điều trị nghiện
chất dạng thuốc phiện. Trong bối cảnh đó, việc quy định những nội dung này
sẽ tạo dựng căn cứ pháp lý hoàn thiện cho việc thiết lập và đưa vào vận hành
các cơ sở điều trị thay thế và cơ sở cấp phát thuốc.
- Pháp luật về can thiệp giảm tác hại trong dự phòng lây nhiễm HIV
chưa có quy định về việc bảo đảm an toàn nguồn cung ứng thuốc điều trị thay
thế. Nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế là một bệnh mãn
tính, cần được điều trị và hỗ trợ lâu dài. Với mục tiêu đến năm 2015 sẽ điều
trị thay thế cho vào khoảng 80.000 người nghiện ma túy, việc xây dựng các
quy định về việc bảo đảm nguồn thuốc trở nên cấp bách hơn bao giờ hết để
đảm bảo ổn định nguồn cung ứng thuốc, đảm bảo bệnh nhân được điều trị
liên tục, không ngắt quãng, góp phần vào việc đảm bảo an ninh trật tự và an
55
toàn xã hội.
- Pháp luật về can thiệp giảm tác hại trong dự phòng lây nhiễm HIV
chưa có quy định về chế độ chính sách đối với những người làm công tác
điều trị thay thế. Theo thống kê, có ít nhất 40% số người nghiện ma túy đang
được điều trị thay thế tại các cơ sở điều trị Methadone là người nhiễm HIV
(cá biệt một số cơ sở điều trị Methadone của thành phố Hà Nội và thành phố
Hồ Chí Minh có tới 50-70% bệnh nhân là bệnh nhân AIDS đang điều trị
thuốc kháng vi rút (ARV)); đồng thời có một tỷ lệ khá lớn số lượng người
nghiện chích ma túy hiện đang điều trị tại các cơ sở Methadone đồng nhiễm
viêm gan C (có cơ sở lên tới 97,5%). Mặc dù công tác trong điều kiện làm
việc có mức độ rủi ro cao, độc hại, nhưng các cán bộ đang công tác tại các cơ
sở điều trị thay thế (điều trị Methadone) chưa được hưởng bất kể chế độ phụ
cấp ưu đãi nghề nào, trong khi các công chức, viên chức công tác trong lĩnh
vực xét nghiệm, khám, điều trị, chăm sóc người bệnh HIV/AIDS, lao, tâm
thần tại các cơ sở y tế công lập đã được hưởng các chế độ phụ cấp ưu đãi
theo quy định tại Nghị định của Chính phủ số 56/2011/NĐ-CP ngày
04/07/2011 quy định chế độ phụ cấp ưu đãi theo nghề đối với công chức, viên
chức công tác tại các cơ sở y tế công lập.
2.4. Về kỹ thuật xây dựng văn bản
Kỹ thuật xây dựng văn bản là một vấn đề rộng lớn, phúc tạp bao gồm
tổng thể những phương pháp, phương tiện được sử dụng trong quá trình soạn
thảo văn bản quy phạm và hệ thống hoá pháp luật. Việc tuân thủ các phương
pháp, phương tiện này nhằm bảo đảm cho pháp luật có đầy đủ các khả năng
để điều chỉnh có hiệu quả các quan hệ xã hội.
Quá trình xây dựng văn bản không đơn thuần là kết cấu, câu chữ, hình
thức văn bản mà chính là quá trình từ phương pháp phát hiện các nhu cầu
điều chỉnh pháp luật, điều tra, khảo sát, xác định các mục tiêu, các nguyên
tắc, đến việc chọn hình thức thể hiện, sử dụng ngôn ngữ pháp luật tính cô
đọng, lôgic, chính xác và một nghĩa, xây dựng các quy phạm, các chế định và
56
dự thảo văn bản trên thực tế, thẩm tra văn bản...
Từ cách tiếp cận này, qua rà soát cho thấy: Hệ thống pháp luật về can
thiệp giảm tác hại trong dự phòng lây nhiễm HIV còn một số vấn đề cần giải
quyết.
Thứ nhất đó việc chưa thống nhất trong việc sử dụng cụm từ "người
nghiện chất dạng thuốc phiện" và "người nghiện ma túy". Sự không thống
nhất này dẫn đến khó xác định một cách cụ thể các chủ thể khi áp dụng các
quy định của pháp luật, ví dụ nếu là người nghiện chất dạng thuốc phiện thì
có phải áp dụng quy định của pháp luật về phòng, chống ma túy hay không
và ngược lại?
Thứ hai đó là về khái niệm cơ sở khám bệnh, chữa bệnh theo quy định
của Luật khám bệnh, chữa bệnh. Nếu xét theo khái niệm của Luật khám
bệnh, chữa bệnh thì các cơ sở điều trị nghiện chất dạng thuốc phiện bằng
thuốc thay thế sẽ là cơ sở khám bệnh, chữa bệnh và phải tuân thủ các quy
định của pháp luật về khám bệnh, chữa bệnh. Tuy nhiên, nếu áp dụng các quy
định của luật khám bệnh, chữa bệnh thì sẽ khó khăn cho việc hoạt động của
các cơ sở này vì các lý do: (1) không xác định được mô hình tổ chức là bệnh
viện, phòng khám đa khoa hay chuyên khoa; (2) không thể tổ chức được việc
cung cấp thuốc tại chỗ nếu không phải là bệnh viện nhưng nếu tổ chức theo
mô hình bệnh viện thì lại không thể tổ chức được vì thiếu nhiều điều kiện và
cũng không phù hợp với thực tiễn của hoạt động điều trị thay thế; (3) không
có đủ người hành nghề có chứng chỉ hành nghề chuyên khoa tâm thần như
quy định của pháp luật về khám bệnh, chữa bệnh.
Thứ ba, nhiều văn bản trong hệ thống pháp luật về can thiệp giảm tác
hại trong dự phòng lây nhiễm HIV là văn bản đơn hành nên giá trị pháp lý
không cao và gây khó khăn khi muốn áp dụng các văn bản này cho các chủ
thể pháp luật khác. Ví dụ, quy định về điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị
và nhân sự của cơ sở điều trị nghiện chất dạng thuốc phiện bằng methadone
chỉ áp dụng đối với các cơ sở thuộc Hải Phòng và thành phố Hồ Chí Minh
57
nên không thể áp dụng cho các cơ sở thuộc các tỉnh, thành phố khác.
BÀN LUẬN
1. Ưu điểm:
Qua công tác hệ thống hoá pháp luật về can thiệp giảm tác hại trong dự
phòng lây nhiễm HIV cho thấy hiện nay có 26 văn bản trực tiếp hoặc gián
tiếp điều chỉnh các hoạt động can thiệp giảm tác hại trong dự phòng lây
nhiễm HIV. Những ưu điểm của các văn bản này là:
a) Hệ thống pháp luật về can thiệp giảm tác hại trong dự phòng lây
nhiễm HIV luôn luôn gắn với các chính sách, đường lối quan điểm của Đảng
và Nhà nước trong từng thời kỳ đã thể hiện rõ nét nguyên tắc "Đảng lãnh đạo,
Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ". Mọi đường lối, chủ trương, chính sách
của Đảng về lãnh đạo công tác phòng chống HIV/AIDS đều được Nhà nước
thể chế hoá bằng pháp luật và được tổ chức thực thi trong cuộc sống.
b) Hệ thống pháp luật về phòng chống HIV/AIDS đảm bảo tính hợp
hiến, hợp pháp, tính thống nhất, đồng bộ với hệ thống pháp luật Việt Nam
cũng như tính ổn định, phù hợp tuy chưa cao nhưng bước đầu đã tạo được
hành lang pháp lý cho các hoạt động can thiệp giảm tác hại trong dự phòng
lây nhiễm HIV góp phần từng bước ngăn chặn và đẩy lùi đại dịch HIV/AIDS
ở Việt Nam.
2. Tồn tại:
Bên cạnh những ưu điểm trên, hệ thống pháp luật về can thiệp giảm tác
hại trong dự phòng lây nhiễm HIV vẫn còn những mặt tồn tại cần khắc phục
để hoàn thiện như:
1. Hệ thống pháp luật về can thiệp giảm tác hại trong dự phòng lây
nhiễm HIV không nằm ngoài hệ thống pháp luật Việt Nam nên đều có hạn
chế chung là luật, pháp luật phần lớn đều quy định về nguyên tắc, muốn thực
hiện được phải có nhiều văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thi hành làm
cho hiệu lực tức thì của luật, pháp lệnh chưa thực hiện được.
2. Các văn bản qui phạm pháp luật được ban hành kịp thời để điều
chỉnh các vấn đề mới nảy sinh đã giúp cho công tác quản lý ngành tốt hơn
58
nhưng tính dự báo chưa cao nên sau một thời gian thực hiện đã nảy sinh một
số bất cập nhất định cần phải sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với yêu cầu của
thực tiễn.
3. Thực trạng tổ chức triển khai các quy định của pháp luật về can thiệp
giảm tác hại trong dự phòng lây nhiễm HIV
3.1. Đánh giá công tác thông tin, giáo dục, truyền thông
Các hoạt động thông tin, giáo dục, truyền thông về can thiệp giảm tác hại trong dự phòng lây nhiễm đã được triển khai trên diện rộng với sự tham gia của các bộ, ban ngành, đoàn thể, bằng nhiều hình thức đa dạng phong phú. Dưới đây là kết quả các hoạt động thông tin, giáo dục và truyền thông được triển khai trong những năm qua.
3.1.1. Hoạt động thông tin, giáo dục, truyền thông pháp luật về can thiệp
giảm tác hại trong dự phòng lây nhiễm HIV cho cán bộ, công chức, viên
chức:
Ngay sau khi các văn bản quy phạm pháp luật về phòng, chống
HIV/AIDS được ban hành, đặc biệt là Luật phòng, chống nhiễm vi rút gây ra
hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (HIV/AIDS) và Nghị định
số 108/2007/NĐ-CP ngày 26/6/2007 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành
một số điều của Luật phòng, chống nhiễm vi rút gây ra hội chứng suy giảm
miễn dịch mắc phải ở người (HIV/AIDS), trên cơ sở các hướng dẫn về phổ
biến, giáo dục pháp luật, ngành y tế đã tổ chức nhiều hội nghị phổ biến cho
đối tượng là các cán bộ, nhân viên của ngành y tế cũng như các bộ, ngành có
liên quan khác như công an, lao động - thương binh và xã hội...
"Chúng tôi đã tiến hành hoạt động thông tin, giáo dục, truyền thông pháp
luật về can thiệp giảm tác hại với nhiều hình thức từ hội nghị phổ biến đến
lồng ghép việc phổ biến nội dung các văn bản trong các lớp tập huấn -
PVS Lãnh đạo Trung tâm phòng, chống HIV/AIDS Hải Phòng"
Bên cạnh việc tổ chức các hội nghị phổ biến văn bản quy phạm pháp
luật về can thiệp giảm tác hại trong dự phòng lây nhiễm HIV, hoạt động
59
thông tin, giáo dục, truyền thông pháp luật về can thiệp giảm tác hại trong dự
phòng lây nhiễm HIV cho các cán bộ, công chức, viên chức còn được thực
hiện thông qua hình thức sao gửi văn bản.
"Tất cả các văn bản về can thiệp giảm tác hại đều được sao gửi cho các
đơn vị - PVS Lãnh đạo Trung tâm phòng, chống HIV/AIDS Sơn La, Nghệ
An, Kiên Giang, thành phố Hồ Chí Minh và Hải Phòng"
Tuy nhiên, do việc phổ biến nội dung cụ thể của các văn bản quy phạm
pháp luật về can thiệp giảm tác hại trong dự phòng lây nhiễm HIV mới chỉ
chủ yếu áp dụng đối với các văn bản có hình thức ban hành là luật, nghị định
và quyết định của Thủ tướng Chính phủ còn các văn bản khác thì chỉ được
sao gửi đến các Sở Y tế tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và các đơn vị
trực thuộc Bộ chứ ít khi có không hướng dẫn triển khai cụ thể nên về đến các
cơ quan, đơn vị trên, lãnh đạo lại gửi cho các bộ phận liên quan, còn các bộ
phận khác lại không biết hoặc lãnh đạo cơ quan, đơn vị chỉ thông báo trong
các buổi giao ban hàng tuần và hội nghị sơ kết, tổng kết 06 tháng, cuối năm
nên hiệu quả không cao.
"Thú thật là văn bản nhiều quá nên nhiều lúc chỉ đọc qua nội dung rồi sao
cho anh em để nghiên cứu triển khai chứ cũng không phổ biến cụ thể - PVS
Lãnh đạo Trung tâm phòng, chống HIV/AIDS Kiên Giang"
"Cũng có nghe nói là có văn bản quy định ưu tiên về truyền thông trên
truyền hình và phát thanh nhưng do đó là nhiệm vụ của phòng truyền
thông nên chúng tôi chỉ thực hiện việc cung cấp nội dung còn tổ chức thực
hiện thì do phòng truyền thông triển khai cụ thể- PVS Lãnh đạo phòng can
thiệp - Trung tâm phòng, chống HIV/AIDS Sơn La"
Bên cạnh đó, do việc phổ biến nội dung của các văn bản pháp luật về
can thiệp giảm tác hại chưa được coi trọng đúng mức nên cũng đã ảnh hưởng
lớn đến việc tổ chức triển khai các hoạt động thông tin, giáo dục, truyền
60
thông về can thiệp giảm tác hại cho cộng đồng, mà cụ thể là do chưa có hiểu
biết sâu về các quy định của pháp luật liên quan đến can thiệp giảm tác hại
nên việc xây dựng các thông điệp truyền thông chủ yếu tập trung vào các
biện pháp can thiệp chứ ít tuyên truyền về quyền và nghĩa vụ của công dân
liên quan đến vấn đề này.
"Nội dung truyền thông chủ yếu là về các biện pháp can thiệp như cách sử
dụng bao cao su, tác dụng của việc sử dụng BKT sạch - TLN với cán bộ
phòng can thiệp Trung tâm phòng, chống HIV/AIDS Kiên Giang"
3.1.2. Hoạt động thông tin, giáo dục, truyền thông pháp luật về can thiệp
giảm tác hại trong dự phòng lây nhiễm HIV cho cộng đồng
Trên cơ sở các quy định của pháp luật, các hoạt động thông tin, giáo
dục, truyền thông về can thiệp giảm tác hại trong dự phòng lây nhiễm HIV đã
được triển khai trên diện rộng với sự tham gia của các bộ, ban ngành, đoàn
thể, bằng nhiều hình thức đa dạng phong phú. Dưới đây là kết quả các hoạt
động thông tin, giáo dục và truyền thông pháp luật về can thiệp giảm tác hại
trong dự phòng lây nhiễm HIV được triển khai trong những năm qua.
61
3.1.2.1. Hoạt động truyền thông trực tiếp: Truyền thông trực tiếp trên các nhóm đối tượng có nguy cơ vẫn là hoạt động chính của truyền thông về can thiệp gảm tác hại trong dự phòng lây nhiễm HIV. Hoạt động truyền thông trực tiếp có thể được lồng ghép với các hoạt động can thiệp giảm tác hại do các cộng tác viên hoặc tuyên truyền viên đồng đẳng cho nhóm nguy cơ cao thực hiện qua hoạt động phân phát bơm kim tiêm và bao cao su hoặc truyền thông trực tiếp lồng ghép vào các chiến dịch truyền thông trên địa bàn hoặc hoạt động truyền thông định kỳ thông qua các câu lạc bộ đồng đẳng, những người đồng cảm, ban ngành đoàn thể. Bên cạnh đó, hình thức truyền thông trực tiếp đến tận từng nhà dân kết hợp với cấp phát tài liệu truyền thông cũng được thực hiện, đặc biệt là đi thăm hộ gia đình có người nghiện chích ma túy hoặc người nhiễm HIV.
Bảng 5. Số lượt người được tiếp cận thông tin giáo dục truyền thông
về can thiệp giảm hại qua các năm.
tượng
Đối truyền thông T T Số lượt người được tiếp cận hằng năm 2009 2007 2008 2010 2011 2012
1 Người NCMT 13778 14490 23513 73159 89007 200033
7989 37127 20169 41587 60591 76334 2
Phụ nữ mại dâm và tiếp viên nhà hàng
71 343 1249 2023 2942 3986 3
Người quan hệ tình dục đồng giới nam
4051 7631 10772 18963 21653 27378 4 Người nhiễm HIV
5
4467 5083 10014 13781 18525 27377
Thành viên gia người đình nhiễm HIV
166007 215604 275140 303638 471259 505568
6
Các đối tượng khác (nhóm di biến động, phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ...)
Tổng 198370 282286 342866 455161 665988 842688
(Nguồn: Báo cáo hoạt động hằng năm của các tỉnh được điều tra)
62
Số lượt người được truyền thông trực tiếp với các nhóm có hành vi nguy cơ cao tăng đều theo năm. Đặc biệt với những nhóm người được xem là ít và khó tiếp cận như nhóm người có quan hệ tình dục đồng giới nam thì số lượt tiếp cận hàng năm cũng tăng một cách đáng kể.
Bảng 6. Phân phát tài liệu truyền thông
Tổng TT Loại
Số lượng tài liệu đã phân phát 2010 2007 2008 2009 2011 2012 tài liệu
Tờ rơi 175087 218896 372623 422881 585122 804617 2585226 1
16089 14611 15621 23439 18479 46919 490758 2
40714 22947 36685 58197 52930 420700 635003 3
16622 25508 40538 94850 63854 43670 223042 4
Áp phíc Sách Các tài liệu truyền thông khác Tổng 250519 283970 467476 601377 722396 1317918 3934029
(Nguồn: Báo cáo hoạt động hằng năm của các tỉnh được điều tra)
Số tài liệu truyền thông được sử dụng tăng đều theo năm. Đặc biệt số tờ rơi, sách mỏng được phân phát số lượng lớn, trong 5 năm qua đã phân phát được hơn 46 triệu tài liệu truyền thông.
3.1.2.2. Truyền thông trên hệ thống truyền thanh của xã/phường
Theo kết quả đánh giá sơ bộ hoạt động truyền thông tuyến xã phườngthuộc 05 tỉnh được điều tra cho thấy: Số lượt truyền thông trên hệ thống truyền thanh của xã phường tăng từ 16.134 lượt năm 2007 lên 20.631 lượt năm 2008, trung bình tăng 5.400 lượt/năm với tổng số trong bốn năm là 250.863 lượt.
3.1.2.3 Truyền thông nhân sự kiện
63
Truyền thông nhân sự kiện cũng là một thế mạnh các địa phương thường áp dụng trong phòng, chống HIV/AIDS. Các địa phương cũng đã tận dụng các ngày hội, ngày lễ hoặc các sự kiện lớn để tổ chức truyền thông phòng, chống HIV/AIDS, trong đó hầu hết các tỉnh được điều tra đều tập trung tổ chức truyền thông nhân ngày Ngày Thế giới phòng, chống
HIV/AIDS, đặc biệt từ năm 2008, đã tổ chức Tháng hành động quốc gia phòng, chống HIV/AIDS và theo báo cáo của các tỉnh, thành phố, hoạt động này đã thu hút được hàng triệu người tham gia.
Hoạt động truyền thông đặc biệt là truyền thông trực tiếp đã góp phần nâng cao nhận thức của cộng đồng và nhóm đối tượng có nguy cơ cao về HIV/AIDS, cùng với chương trình can thiệp giảm tác hại, đã giúp họ thay đổi hành vi, thực hiện hành vi an toàn phòng lây nhiễm HIV cho bản thân và cho cộng đồng, góp phần hạn chế sự lây nhiễm HIV/AIDS tại các địa phương. Hoạt động thông tin giáo dục truyền thông đã có tác động không nhỏ đến sự thay đổi về kiến thức phòng, chống HIV/AIDS trong các nhóm nguy cơ cao và trong các nhóm cộng đồng dân cư. Kết quả điều tra năm 2009 cho thấy 54,7% phụ nữ mại dâm, 47,6% nam tiêm chích và 53,6% nam quan hệ tình dục đồng giới có thể xác định đúng các cách phòng tránh lây nhiễm HIV qua đường tình dục và có thể loại bỏ được các quan niệm sai lầm về lây truyền HIV.1
Bảng 7. Tỷ lệ người NCMT sử dụng bao cao su khi quan hệ tình
1 IBBS 2009 thực hiện tại 10 tỉnh trên nhóm TCMT và GMD và 4 tỉnh với nhóm MSM
64
dục với PNMD
Bảng 8. Tỷ lệ phần trăm phụ nữ bán dâm cho biết có sử dụng bao cao su
với khách hàng
Tuy nhiên, qua điều tra tại 05 tỉnh cho thấy tỷ lệ hiểu biết pháp luật về
can thiệp giảm tác hại trong dự phòng lây nhiễm HIV của đối tượng có hành
vi nguy cơ cao là khá thấp, cụ thể như sau:
Không có tỉnh nào có tỷ lệ phần trăm người có hiểu biết đầy đủ các
biện pháp can thiệp giảm tác hại trong dự phòng lây nhiễm HIV vượt qua
50%, mà cụ thể là hầu như các đối tượng là nghiện chích ma túy thì chỉ biết
biện pháp can thiệp giảm hại là BKT và điều trị nghiện chất dạng thuốc phiện
bằng thuốc thay thế chứ không coi việc sử dụng bao cao su như là một biện
pháp can thiệp giảm tác hại. Tương tự như vậy đối với nhóm đối tượng là phụ
nữ bán dâm và người có quan hệ tình dục giới cũng chỉ chủ yếu coi việc sử
dụng bao cao su là biện pháp can thiệp giảm hại mà không xác định được
việc sử dụng riêng BKT trong tiêm chích ma túy cũng là biện pháp can thiệp
giảm hại.
Bảng 9. Tỷ lệ phần trăm người có hiểu biết đầy đủ các biện pháp can thiệp
65
giảm tác hại.
Tương tự như kết quả khảo sát sự hiểu biết đầy đủ về các biện pháp
can thiệp giảm tác hại trong dự phòng lây nhiễm HIV thì cũng không có tỉnh
nào có tỷ lệ phần trăm người có hiểu biết đầy đủ các nội dung của pháp luật
về can thiệp giảm tác hại trong dự phòng lây nhiễm HIV vượt quá 20%, cụ
thể là hầu như tất cả các nhóm đối tượng được phỏng vấn đề không xác định
được quyền và nghĩa vụ của mình. Đây là trở ngại lớn nhất của việc tổ chức
thực thi các quy định của pháp luật về can thiệp giảm tác hại trong dự phòng
lây nhiễm HIV bởi khi đối tượng chưa ý thức được đầy đủ nghĩa vụ của mình
trong việc thực hiện các quy định của pháp luật về can thiệp giảm tác hại thì
việc thực hiện nó sẽ chưa thể đạt hiệu quả, ví dụ như người nghiện chích ma
túy đã nhiễm HIV không xác định được được việc sử dụng BKT chung cũng
thể bị coi là hành vi cố ý lây truyền HIV cho người khác nên chỉ coi việc này
là nhằm hạn chế sự lây truyền HIV chứ không nghĩ rằng mình có thể bị khởi
tố hình sự.
Bảng 10. Tỷ lệ phần trăm người có hiểu biết đầy đủ các nội dung của pháp
luật về CTGH
Qua đánh giá công tác truyền thông về can thiệp giảm tác hại trong dự
phòng lây nhiễm HIV vẫn còn những khó khăn, bất cập tập trung tại một số
vấn đề sau:
- Pháp luật dù đã có quy định về đào tạo, đào tạo liên tục cho cán bộ
làm công tác phòng, chống HIV/AIDS, trong đó bao gồm cả các cán bộ làm
66
công tác truyền thông về can thiệp giảm hại nhưng đến nay vẫn chưa có văn
bản hướng dẫn cụ thể về vấn đề này, đặc biệt là chưa xây dựng được khung
chương trình đào tạo về thông tin, giáo dục truyền thông trong hoạt động can
thiệp giảm tác hại trong dự phòng lây nhiễm HIV cũng như việc chỉ định các
cơ sở đào tạo về vấn đề này.
- Ngoại trừ một văn bản liên tịch giữa Bộ Y tế, Bộ Thông tin và truyền
thông là của Thông tư liên tịch số 20/2010/TTLT-BTTTT-BYT ngày
20/8/2010 hướng dẫn việc ưu tiên về thời điểm, thời lượng phát sóng trên đài
phát thanh, đài truyền hình; dung lượng và vị trí đăng trên báo in, báo điện tử
đối với thông tin, giáo dục, truyền thông về phòng, chống HIV/AIDS thì chưa
có các văn bản hướng dẫn việc phối hợp liên ngành giữa cơ quan truyền
thông, giáo dục sức khỏe của ngành y tế với ngành tư pháp, ngành thông tin
truyền thông và ngành văn hóa, thể thao và du lịch trong việc thực hiện các
hoạt động truyền thông, đặc biệt là trong việc xây dựng các thông điệp truyền
thông về pháp luật trong hoạt động can thiệp giảm tác hại nên chất lượng của
hoạt động này chưa cao. Bên cạnh đó, việc tổ chức thực hiện Thông tư liên
tịch số 20/2010/TTLT-BTTTT-BYT cũng chưa được quan tâm đúng mức nên
dẫn đến tình trạng các buổi tọa đàm, phóng sự thường được phát vào thời
điểm ít thu hút được người dân trong độ tuổi lao động quan tâm.
- Hạn chế về kinh phí triển khai thực hiện cũng là một trong các
nguyên nhân ảnh hưởng lớn đến hiệu quả của hoạt động truyền thông, đặc
biệt là truyền thông ở tuyến xã, phường. Nguồn kinh phí của chương trình
mục tiêu quốc gia phòng, chống HIV/AIDS cấp cho xã phường chỉ đủ chi trả
cho phụ cấp cho cán bộ chương trình, kinh phí còn lại chỉ đủ đáp ứng cho
tháng chiến dịch truyền thông phòng, chống HIV/AIDS chứ không đủ để chi
cho việc thực hiện truyền thông theo định kỳ.
- Các hoạt động truyền thông mới chỉ đạt về độ bao phủ và số lượng
thực hiện nhưng hình thức, phương pháp tổ chức chưa thực sự phù hợp với
67
đặc điểm của nhóm đối tượng này nên hiệu quả không cao.
3.2. Đánh giá việc tổ chức thực hiện các quy định của pháp luật về can
thiệp giảm tác hại trong dự phòng lây nhiễm HIV
3.2.1. Đánh giá việc tổ chức thực hiện các quy định của pháp luật về can
thiệp bằng bao cao su
Các quy định của Luật, Nghị định số 108/2007/NĐ-CP và các văn bản
hướng dẫn thi hành Luật, Nghị định đã tạo ra hành lang pháp lý khá thuận lợi
cho việc tổ chức các can thiệp bằng BCS. Điều này thể hiện rõ qua việc độ
bao phủ của chương trình cung cấp bao cao su tăng đều qua các năm.
Bảng 11. Độ bao phủ của chương trình bao cao su
Năm Số quận/huyện triển khai Số xã/phường/thị trấn triển
chương trình (n=85) khai chương trình (n=1388)
2007 53 789
2008 57 834
2009 64 906
2010 67 1011
2011 83 1167
2012 83 1298
(Nguồn: Tổng hợp số liệu báo cáo hoạt động hằng năm của các tỉnh được
khảo sát)
Việc triển khai cung cấp BCS được thực hiện qua nhiều mô hình đa
dạng nhằm làm tăng tính sẵn có cũng như khả năng tiếp cận với BCS cho các
đối tượng có hành vi nguy cơ cao. Các mô hình chính đã được xây dựng và
triển khai bao gồm: Mô hình phân phát BCS thông qua nhân viên tiếp cận
cộng đồng; mô hình hộp cung cấp BCS cố định; mô hình cung cấp BCS tại
các nhà nghỉ, khách sạn, cơ sở dịch vụ giải trí, Phòng tư vấn xét nghiệm tự
nguyện hoặc lồng ghép tại câu lạc bộ/điểm giáo dục sức khỏe... trong đó, mô
hình phân phát BCS thông qua NVTCCĐ và cung cấp BCS tại các nhà nghỉ,
khách sạn, cơ sở dịch vụ giải trí là hai mô hình được đánh giá là có hiệu quả
68
nhất.
"Sử dụng NVTCCĐ đi phát BCS là hiệu quả nhất bởi họ có khả tiếp cận được
đối tượng, sau đó là hình thức đặt BCS tại các nhà nghỉ, khách sạn vì đây là
địa điểm diễn ra hầu hết các hoạt động tình dục - PVS cán bộ Phòng Can
thiệp giảm hại Trung tâm PC HIV/AIDS Hải Phòng"
"Hình thức cung cấp BCS cho PNMD tốt nhất là thông qua NVTCCĐ vì họ
không chỉ có khả tiếp cận được đúng đối tượng mà còn có khả năng tìm
kiếm được các đối tượng mới. Bên cạnh đó, hình thức cung cấp BCS tại các
nhà nghỉ, khách sạn cũng là hình thức có hiệu quả cao bởi nó không chỉ
phục vụ riêng cho đối tượng là PNMD mà còn cho cả các đối tượng khác
như người NCMT có quan hệ tình dục - PVS cán bộ Phòng Can thiệp giảm
hại Trung tâm PC HIV/AIDS Nghệ An"
Tuy nhiên, việc tổ chức triển khai các quy định của pháp luật về can
thiệp giảm tác hại trong dự phòng lây nhiễm HIV bằng biện pháp cung cấp
bao cao su cũng đang gặp phải nhiều khó khăn, thách thức:
* Pháp luật chỉ quy định về trách nhiệm của các chương trình, dự án
trong việc cung cấp BCS miễn phí hoặc bán trợ giá cũng như trách nhiệm của
người phụ trách các địa điểm vui chơi, giải trí, bến tàu, bến xe, nhà ga, các
khách sạn, nhà nghỉ, nhà trọ, nhà hàng trong việc phối hợp với các chương
trình, dự án trong việc cung cấp bao cao su miễn phí hoặc đặt máy bán bao
cao su tự động tại cơ sở của mình và các cơ sở dịch vụ lưu trú khác mà chưa
có quy định về trách nhiệm phải tự cung cấp BCS của nhóm đối tượng này.
"Mặc dù việc cung cấp BCS tại kênh không truyền thống như nhà nghỉ, khách
sạn đạt hiệu quả khá cao nhưng do số lượng BCS của chương trình còn giới
hạn so với nhu cầu thực tiễn nên cần có quy định trách nhiệm của chủ các cơ
sở này trong việc tự cung cấp BCS - PVS Lãnh đạo Trung tâm PC HIV/AIDS
69
Kiên Giang"
* Một số quy định của pháp luật còn chưa thực sự chặt chẽ nên dễ tạo
kẽ hở để lợi dụng nhằm mục đích kiếm lợi, mà cụ thể là theo quy định của
pháp luật hiện hành thì việc in dòng chữ "cung cấp miễn phí, không được
bán" có thể in trực tiếp trên bao bì của BCS hoặc in trên nhãn phụ của BCS.
Quy định này tuy đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn là rất nhiều BCS được
nhập khẩu trực tiếp nên khó có thể in trực tiếp lên BCS nhưng nếu chỉ in trên
nhãn phụ thì trên thực tế là rất ít khi nhãn phụ được gắn cùng BCS.
"Việc quy định in dòng chữ "cung cấp miễn phí, không bán" trên nhãn phụ đôi
lúc tạo kẽ hở cho NVTCCĐ nếu họ muốn lợi dụng để bán BCS của chương
trình - PVS Lãnh đạo Trung tâm PC HIV/AIDS Sơn La"
* Pháp luật về phòng, chống mại dâm tuy không có quy định cụ thể về
việc coi BCS là tang chứng của hoạt động mại dâm nhưng trên thực tế thì các
cơ sở kinh doanh dịch vụ lưu trú vẫn gặp khá nhiều phiền hà liên quan đến
việc cung cấp BCS tại cơ sở, trong khi đó pháp luật về can thiệp giảm hại lại
chưa có quy định cụ thể về vấn đề này nên đã tạo tâm lý e ngại cho các chủ
cơ sở khi tự mua BCS để cung cấp tại cơ sở mình.
"Thỉnh thoảng khi thực hiện kiểm tra khách sạn, nếu thấy BCS không phải của
dự án, công an và bên phòng, chống tệ nạn xã hội vẫn hỏi tại sao lại để nhiều
BCS tại quầy lễ tân? - PVS chủ khách sạn tại Kiên giang"
* Vẫn còn tồn tại sự thiếu đồng thuận trong phối hợp liên ngành khi tổ
chức thực hiện biện pháp can thiệp bằng BCS tại các kênh không truyền
thống như cơ sở dịch vụ ăn uống, điểm massage...
"Nên cân nhắc việc cung cấp bao cao su tại quán bar, cơ sở masage, vũ
trường vì dễ bị hiểu lầm là cho phép hoạt động mại dâm tại các cơ sở đó -
70
TNL với cán bộ phòng, chống tệ nạn xã hội thành phố Hồ Chí Minh"
3.2.2. Đánh giá việc tổ chức thực hiện các quy định của pháp luật về can
thiệp bằng BKT:
Cũng tương tự như chương trình BCS, các quy định của Luật, Nghị
định số 108/2007/NĐ-CP và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật, Nghị định
đã tạo ra hành lang pháp lý khá thuận lợi cho việc tổ chức các can thiệp bằng
BKT. Điều này thể hiện rõ qua việc độ bao phủ của chương trình cung cấp
BKT tăng đều qua các năm.
Bảng 12. Độ bao phủ của chương trình BKT
Năm Số quận/huyện triển khai Số xã/phường/thị trấn triển
chương trình (n=85) khai chương trình (n=1388)
2007 55 791
2008 59 815
2009 68 912
2010 70 1023
2011 83 1176
2012 83 1302
(Nguồn: Tổng hợp số liệu báo cáo hoạt động hằng năm của các tỉnh được
khảo sát)
Việc triển khai hoạt động can thiệp bằng BKT đã được thực hiện bằng
nhiều hình thức khá đa dạng thông qua nhiều mô hình khác nhau nhằm tăng
tính sẵn có và tính dễ tiếp cận của BKT cho đối tượng nghiện chích ma túy.
Các mô hình chính đã được xây dựng và triển khai bao gồm: Mô hình phân
phát BKT thông qua nhân viên tiếp cận cộng đồng; mô hình hộp cung cấp
BKT cố định; mô hình điểm phân phát BKT cố định; mô hình điểm phân phát
thứ cấp qua nhà thuốc, hiệu thuốc, trạm y tế, Phòng tư vấn xét nghiệm tự
nguyện hoặc lồng ghép tại câu lạc bộ/điểm giáo dục sức khỏe.....
Tại các tỉnh được khảo sát, mô hình phát BKT được áp dụng phổ biến
nhất là thông qua mạng lưới nhân viên tiếp cận cộng đồng, hộp cung cấp
71
BKT
Phát BKT qua mạng lưới nhân viên tiếp cận cộng đồng là kênh phát
BKT chính ở hầu hết các tỉnh được khảo sát với tỷ lệ chiếm đến 90% số BKT
được phát ra. Yếu tố chính quyết định sự thành công của mô hình này là do
có khả năng tiếp cận đối tượng tốt. Bên cạnh việc phát BKT, nhân viên tiếp
cận cộng đồng còn có nhiệm vụ tìm kiếm, tiếp cận đối tượng nghiện chích
mới trên địa bàn để thực hiện việc cung cấp BKT, tài liệu truyền thông và
thực hiện việc truyền thông giáo dục sức khoẻ trực tiếp cho người nghiện
chích ma túy đồng thời tư vấn chuyển gửi đối tượng đến các dịch vụ hỗ trợ
như tư vấn xét nghiệm tự nguyện, khám điều trị STI, phòng khám ngoại trú...
Ngoài việc phát BKT trực tiếp cho người nghiện chích ma túy tại các tụ điểm
tiêm chích, nhân viên tiếp cận cộng đồng còn quy ước với người NCMT về
những điểm, hộp BKT bí mật đặt tại nhà NVTCCĐ, tụ điểm tiêm chích, quán
nước, cửa hàng tạp hoá... để tăng khả năng tiếp cận BKT sạch cho người
NCMT. Mô hình này hiện nay đã nhận được sự ủng hộ của chính quyền, ban
ngành, đoàn thể và cộng đồng mà minh chứng rõ ràng nhất đó là việc toàn bộ
các nhân viên tiếp cận cộng đồng đã được cấp thẻ nhân viên tiếp cận cộng
đồng.
Tuy nhiên, mô hình này cũng đang gặp một số thách thức và hạn chế
sau:
- Chất lượng hoạt động của NVTCCĐ phụ thuộc rất nhiều vào tính tự
giác, nhiệt tình với công việc của bản thân họ.
- Nhiều NVTCCĐ là cán bộ kiêm nhiệm (đặc biệt là ở tuyến huyện và
tuyến xã) nên không đủ thời gian cho việc giám sát, khó bao quát hết hoạt
động của các tuyên truyền viên đồng đẳng trên địa bàn.
- Mạng lưới thiếu ổn định do bản thân nhiều NVTCCĐ cũng là người
NCMT, họ có thể bị bắt do có những hành vi phạm pháp, nhiều người thay
đổi công việc hoặc chết do mắc các bệnh liên quan đến AIDS... khi đó các
chương trình, dự án lại phải tuyển dụng và đào tạo từ đầu.
- Chi phí để duy trì hoạt động của mạng lưới cao do phải trả lương và
72
phụ cấp đi lại hàng tháng trong khi nếu không có nguồn kinh phí viện trợ mà
chỉ sử dụng nguồn kinh phí của chương trình mục tiêu quốc gia và sự hỗ trợ
từ nguồn ngân sách địa phương thì sẽ rất khó khăn.
"Nếu chỉ trông vào kinh phí của Chương trình quốc gia và ngân sách của địa
phương thì sẽ không thể đủ cho hoạt động duy trì mạng lưới, đặc biệt là khi
các NVTCCĐ đã quen hưởng phụ cấp cao của Dự án nước ngoài - PVS cán
bộ Phòng Can thiệp giảm hại Trung tâm PC HIV/AIDS Hải Phòng"
Việc phát BKT qua hệ thống Trạm Y tế thường được kết hợp với hình
thức hộp BKT cố định nên có ưu điểm là chi phí vận hành thấp đồng thời có
thể lồng ghép cung cấp nhiều dịch vụ cho đối tượng đích như truyền thông
giáo dục sức khoẻ, khám STI... và có khả năng duy trì bền vững do mô hình
này tận dụng được các dịch vụ cũng như con người sẵn có của hệ thống y tế.
Tuy nhiên, mô hình này cũng có nhược điểm lớn là chỉ tiếp cận được đối
tượng NCMT cũ, đã lộ diện mà rất hạn chế trong việc tiếp cận với đối tượng
NCMT mới do đối tượng sợ bị phát hiện, e ngại sự kỳ thị từ phía cán bộ y tế
và cộng đồng.
Hộp BKT đặt ở nơi kín đáo được nhiều đối tượng NCMT hưởng ứng
do có thể tiếp cận lấy BKT bất cứ khi nào có nhu cầu. Hộp BKT thường được
treo ở các cơ sở y tế như Trạm Y tế, điểm điều trị Methadone, cơ sở
TVXNTN... và do cán bộ y tế quản lý. Mô hình này được triển khai khá
thành công tại Hà Tĩnh, hộp BKT được chia làm 2 ngăn, ngăn trên đựng BKT
sạch và BCS, ngăn dưới đựng BKT bẩn. Hàng ngày cán bộ Trạm y tế có trách
nhiệm kiểm tra, nếu hết BKT thì đặt BKT sạch vào và thu gom BKT bẩn ở
ngăn dưới của hộp và ở khu vực xung quanh.
Mô hình hộp BKT cố định có chi phí vận hành thấp và có khả năng
duy trì bền vững. Tuy nhiên cũng có nhược điểm, đó là khó quản lý số lượng
và mục đích sử dụng BKT của người NCMT. Do đó dễ xảy ra tình trạng
“trống” BKT trong hộp, mặc dù trước đó CTV vừa mới đặt BKT vào hộp.
73
Ngoài ra, hộp BKT có thể bị cộng đồng phản đối do kỳ thị với người NCMT,
sợ mất an ninh trật tự trong khu vực và sợ ô nhiễm môi trường do BKT bẩn bị
người NCMT vứt tràn lan.
Bên cạnh các khó khăn trong việc tổ chức triển khai các mô hình thì
hoạt động can thiệp bằng bơm kim tiêm cũng đang gặp phải các khó khăn
liên quan đến vấn đề pháp lý. Thứ nhất là do pháp luật về phòng, chống ma
túy chưa có quy định rõ ràng về các biện pháp can thiệp giảm tác hại trong
phòng, chống ma túy nên người NCMT vẫn có tâm lý e ngại khi tiếp cận với
các điểm cung cấp bơm kim tiêm cố định do sợ bị theo dõi.
"Do thiếu các quy định cụ thể về can thiệp giảm hại trong phòng, chống ma
túy nên chúng tôi chỉ có thể truyền thông về lợi ích của việc sử dụng bơm kim
tiêm chứ không thể làm người NCMT yên tâm để tiếp cận với các điểm cung
cấp bơm kim tiêm một cách công khai - PVS cán bộ phòng can thiệp Trung
tâm Phòng, chống HIV/AIDS Nghệ An"
Bên cạnh đó, việc quy định phải có xác nhận của công an cấp xã nơi cư
trú về tình trạng pháp lý cũng là một rào cản cho việc mở rộng mạng lưới
NVTCCĐ bởi nhiều người, kể cả đối tượng là cộng tác viên, cũng e ngại có
sự hiểu lầm là mình thuộc nhóm đối tượng NCMT, còn đối tượng là người
NCMT lại lo ngại bị tiết lộ thông tin về tình trạng nghiện của mình.
"Chúng em cũng muốn tham gia là NVTCCĐ nhưng cứ nghĩ đến việc công
an xã biết là mình là người NCMT thì em lại ngại - TNL với nhóm người
NCMT Sơn La"
Một vấn đề nữa cũng đang là vướng mắc xuất phát từ thực tiễn đó là
việc giao cho công an cấp xã xác nhận về tình trạng pháp lý bởi một số nội
dung xác nhận không thuộc thẩm quyền của công an, mà cụ thể: Theo quy
định của pháp luật hiện hành thì người đề nghị làm NVTCCĐ phải là người
không đang trong thời gian bị truy cứu trách nhiệm hình sự, không đang
74
trong thời gian chấp hành bản án hình sự hoặc quyết định áp dụng biện pháp
xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh, giáo dục tại xã,
phường, thị trấn và việc xác nhận này do cơ quan công an thực hiện. Tuy
nhiên, quy định này chưa phù hợp ở chỗ cơ quan công an không nắm được
việc áp dụng biện pháp xử lý đối với đối tượng đề nghị do thẩm quyền quyết
định áp dụng biện pháp này thuộc Chủ tịch Ủy ban nhân dân. Bên cạnh đó,
quy định về tiêu chuẩn để được làm NVTCCĐ cũng còn có điểm bất cập bởi
theo quy định hiện hành thì NVTCCĐ phải người không đang trong thời gian
bị truy cứu trách nhiệm hình sự, không đang trong thời gian chấp hành bản án
hình sự hoặc quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở
giáo dục, cơ sở chữa bệnh, giáo dục tại xã, phường, thị trấn. Tuy nhiên, trên
thực tế có nhiều trường hợp tuy đang bị chấp hành bản án hình sự nhưng lại
không liên quan đến tội phạm về ma túy hay mại dâm như người đang trong
thời gian chấp hành bản án hình sự là án treo đối với các tội danh như gây tai
nạn giao thông hay kinh tế cũng không được làm NVTCCĐ.
"Thực tế bảo chúng tôi xác nhận việc một người có đang trong thời gian áp
dụng biện pháp xử lý hành chính hay không là không hợp lý vì chúng tôi
đâu có quản lý việc này mà xác nhận - TLN với công an tỉnh Kiên Giang"
3.2.3. Chương trình điều trị nghiện chất dạng thuốc phiện bằng thuốc
thay thế
Chương trình điều trị Methadone được bắt đầu triển khai thí điểm tại
thành phố Hải Phòng và thành phố Hồ Chí Minh từ tháng 04/2008. Đến nay,
chương trình này đã đạt được một số kết quả đáng khích lệ, cụ thể như sau:
- Giảm tần suất sử dụng heroin: Việc sử dụng Heroin đã giảm đi đáng
kể về cả tần suất và liều sử dụng ở bệnh nhân tham gia điều trị. Kết quả
nghiên cứu cho thấy tỷ lệ sử dụng các chất dạng thuốc phiện đã giảm từ
100% xuống còn 57% sau tháng đầu tiên điều trị, 30% sau tháng thứ 2 và còn
10% sau 3 tháng điều trị Methadone, ngay cả những bệnh nhân còn sử dụng
75
heroin, tần suất sử dụng heroin cũng đã giảm rõ rệt (từ 60 lần/tháng xuống 2
lần/tháng), không còn tình trạng sử dụng chung bơm kim tiêm khi tiêm chích
ma tuý.
- Cải thiện chất lượng cuộc sống của người bệnh: Đa số bệnh nhân
tham gia điều trị đã có những cải thiện về sức khỏe, chuyển biến tích cực về
thái độ cũng như cuộc sống (thang đo chất lượng cuộc sống tăng từ 69 lên 81
điểm cho sức khoẻ). Nhiều bệnh nhân trước đây chưa có việc hiện nay đã và
đang tích cực tìm việc làm và dành thời gian hỗ trợ gia đình.
"Kết quả điều trị cho người nghiện rất khả quan, hầu hết đều có sự cải thiện
tốt về sức khỏe, thái độ khi tiếp xúc cũng tốt hơn nhiều so với những ngày
đầu mới tham gia, nhiều trường hợp nhờ có sức khỏe tốt lên mà đã tìm được
làm - PVS bác sỹ điều trị của cơ sở điều trị thay thế quận Lê Chân Hải
Phòng"
- Góp phần cải thiện về tình hình an ninh trật tự và an toàn xã hội: Tỷ
lệ bệnh nhân có các hành vi vi phạm pháp luật trong nhóm bệnh nhân tham
gia điều trị giảm một cách rất đáng kể và có ý nghĩa: với 40% bệnh nhân có
hành vi vi phạm pháp luật tại thời điểm trước khi vào chương trình điều trị,
thì sau 9 tháng giảm xuống còn 1,39%. Theo báo cáo của công an quận Lê
Chân, chỉ sau 6 tháng triển khai chương trình Methadone, số vụ trộm cắp vặt
liên quan đến nhóm người nghiện chích ma túy tại khu vực bệnh viện Việt
Tiệp giảm 60-70% và số vụ vi phạm pháp luật có liên quan đến ma túy tại
khu vực Chợ Sắt cũng giảm hơn 70%. Bên cạnh việc giảm các hành vi vi
phạm pháp luật, những mâu thuẫn trong gia đình, xã hội cũng giảm mạnh khi
bệnh nhân được điều trị bằng Methadone (từ 20% trước điều trị xuống còn
3,5% sau 9 tháng).
"Kết quả triển khai hoạt động điều trị thay thế đã có đóng góp lớn cho việc
ổn định an ninh trật tự trên địa bàn - TNL đại diện công an quận Lê Chân
76
Hải Phòng"
Tuy nhiên, hoạt động điều trị nghiện chất dạng thuốc phiện bằng thuốc
thay thế cũng đang gặp nhiều khó khăn, thách thức:
- Người nghiện chất dạng thuốc phiện vẫn còn tâm lý e ngại khi tiếp
cận với dịch vụ điều trị thay thế do sợ bị tiết lộ về tình trạng nghiện của mình.
Nguyên nhân của vấn đề này xuất phát từ việc quy trình xét chọn người bệnh
tham gia điều trị thay thế chưa thực sự hợp lý bởi người nghiện ma túy không
thể trực tiếp đến cơ sở điều trị mà bắt buộc phải qua khâu xét chọn từ tuyến
xã.
"Một trong các yếu tố cản trở việc tiếp cận của người nghiện với dịch vụ
điều trị thay thế đó chính là quy định phải qua khâu xét chọn tại cộng đồng
- PVS bác sỹ điều trị của cơ sở điều trị thay thế quận Bình Thạnh - thành
phố Hồ Chí Minh"
- Thiếu sự nhất quán giữa quy định của pháp luật về phòng, chống ma
túy, xử lý vi phạm hành chính và pháp luật về phòng, chống HIV/AIDS. Hoạt
động quản lý nhà nước về lĩnh vực phòng, chống ma túy nói chung và quản
lý người nghiện ma túy nói riêng, do ngành công an và lao động, thương binh
và xã hội quản lý. Hiện nay, người nghiện ma túy được hỗ trợ cai nghiện ma
túy theo qua hai hình thức chủ yếu, gồm cai nghiện tự nguyện tại gia đình và
cộng đồng và cai nghiện bắt buộc tại các cơ sở chữa bệnh được thành lập
theo quy định của pháp luật xử lý vi phạm hành chính và luật phòng, chống
ma túy. Theo đó, do việc chưa thống nhất trong việc sử dụng cụm từ "người
nghiện chất dạng thuốc phiện" và "người nghiện ma túy" nên khó xác định
một cách cụ thể các chủ thể khi áp dụng các quy định của pháp luật, ví dụ nếu
là người nghiện chất dạng thuốc phiện thì có phải áp dụng quy định của pháp
luật về phòng, chống ma túy hay không và ngược lại?
"Qua thực tế triển khai tại địa phương, chúng tôi thấy rằng cần có sự
thống nhất giữa các văn bản của trung ương liên quan đến vấn đề cai
nghiện ma túy vì cùng một đối tượng mà có đến hai cách gọi và ba cách xử
lý thì quá phức tạp và khó thực hiện - TLN đại diện cơ quan lao động,
77
thương binh và xã hội quận Bình Thạnh - thành phố Hồ Chí Minh"
- Thiếu các quy định về phân loại cơ sở điều trị nghiện chất dạng thuốc
phiện, điều kiện hoạt động và đăng ký hoạt động điều trị nghiện chất dạng
thuốc phiện. Hiện nay, các quy định về điều kiện hoạt động mới chỉ được quy
định trong Đề án thí điểm trị nghiện chất dạng thuốc phiện bằng Methadone
của thành phố Hải Phòng và thành phố Hồ Chí Minh chứ chưa phải là quy
định trong một văn bản quy phạm pháp luật, trong khi đó Nghị định số
108/2007/NĐ-CP lại cũng không có quy định cụ thể nên đã phần nào hạn chế
việc thành lập mới các cơ sở điều trị.
"Thực tế, những quy định về các nội dung này là điều kiện tiên quyết cho
việc xác định mô hình và việc thiết lập các cơ sở điều trị nghiện chất dạng
thuốc phiện khi xây dựng các đề án về tổ chức hoạt động điều trị thay thế
để trình Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt nhưng do chỉ có các quy định
trong các đề án thí điểm nên rất khó thuyết phục khi trình Ủy ban - PVS
78
đại diện Lãnh đạo Sở Y tế tỉnh Nghệ An"
CHƯƠNG IV. KẾT LUẬN
1. Hệ thống văn bản về can thiệp giảm tác hại trong dự phòng lây
nhiễm HIV tuy đã bước đầu tạo ra được một hành lang pháp lý khá thông
thoáng và thuận lợi cho việc tổ chức triển khai thi hành các biện pháp can
thiệp giảm tác hại trong dự phòng lây nhiễm HIV nhưng chưa thực sự đáp
ứng được yêu cầu của thực tiễn và cần phải được sửa đổi, bổ sung trong thời
gian tới.
2. Hoạt động phổ biến các quy định của pháp luật được triển khai rộng
rãi với nhiều hình thức đa dạng, phong phú. Tuy nhiên, hoạt động này vẫn
còn mang tính hình thức và thiếu các thông điệp truyền thông phù hợp với
đặc điểm của từng nhóm đối tượng.
3. Việc thực hiện các biện pháp can thiệp giảm tác hại trong dự phòng
lây nhiễm HIV bằng bao cao su và bao cao su được triển khai với phạm vi
bao phủ ngày một rộng đã giúp tăng khả năng tiếp cận cho các đối tượng có
hành vi nguy cơ. Hoạt động điều trị nghiện chất dạng thuốc phiện bằng thuốc
thay thế cũng đạt được nhiều kết quả đáng khích lệ nhưng cũng giống như
việc tổ chức hoạt động can thiệp này cũng còn gặp nhiều khó khăn mà một
trong số các nguyên nhân đó chính là sự thiếu đồng bộ hoặc chưa phù hợp
79
của hệ thống pháp luật.
CHƯƠNG V: KIẾN NGHỊ
1. Về hoàn thiện hệ thống pháp luật về can thiệp giảm tác hại trong dự
phòng lây nhiễm HIV
Trong giai đoạn tới, cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật về can
thiệp giảm tác hại trong dự phòng lây nhiễm HIV, trong đó cần tập trung vào
một số vấn đề sau:
1.1. Chính thức hóa và cụ thể hóa các quy định về can thiệp giảm tác
hại trong dự phòng lây nhiễm HIV trong Luật phòng, chống HIV/AIDS để
tạo hành lang pháp lý mạnh hơn cho việc tổ chức triển khai thực hiện các
hoạt động can thiệp giảm tác hại trong dự phòng lây nhiễm HIV mà cụ thể là
cần bổ sung một chương riêng quy định về các biện pháp can thiệp giảm tác
hại trong dự phòng lây nhiễm HIV, trong đó cần tập trung làm rõ một số nội
dung sau:
a) Nội dung của các biện pháp can thiệp giảm tác hại trong dự phòng
lây nhiễm HIV;
b) Trách nhiệm của các chủ thể pháp luật bao gồm chính quyền các
cấp, cơ sở y tế, ngành công an, ngành lao động - thương binh và xã hội cũng
như của các đối tượng thụ hưởng chính sách trong việc tổ chức triển khai các
biện pháp can thiệp giảm tác hại trong dự phòng lây nhiễm HIV;
c) Các điều kiện bảo đảm cho việc tổ chức thực hiện các biện pháp can
thiệp giảm tác hại trong dự phòng lây nhiễm HIV.
1.2. Sửa đổi, bổ sung các quy định của pháp luật về phòng, chống ma
túy và phòng, chống mại dâm nhằm tạo sự đồng bộ, thống nhất giữa các văn
bản pháp luật, trong đó cần tập trung vào các vấn đề sau:
a) Đối với pháp luật về phòng, chống ma túy:
- Cần sớm có các quy định về các biện pháp can thiệp giảm tác hại
trong phòng, chống ma túy để tạo sự thống nhất, đồng bộ với hệ thống pháp
luật về phòng, chống HIV/AIDS;
- Sửa đổi, bổ sung các quy định về cai nghiện ma túy theo hướng loại
80
trừ các đối tượng đang tham gia chương trình điều trị nghiện chất dạng thuốc
phiện bằng thuốc thay thế ra khỏi đối tượng bị áp dụng biện pháp cai nghiện
bắt buộc, trừ trường hợp các đối tượng đó vẫn tiếp tục sử dụng ma túy trong
quá trình điều trị;
- Thống nhất việc sử dụng các từ ngữ "nghiện chất dạng thuốc phiện"
và "nghiện ma túy" để tránh tình trạng áp dụng hai hệ thống pháp luật trên
cùng một chủ thể pháp luật là người nghiện.
b) Đối với pháp luật về phòng, chống mại dâm:
Cần có các quy định cụ thể hơn về trách nhiệm của các chủ thể pháp
luật như chủ nhà hàng, khách sạn, các địa điểm vui chơi, giải trí... trong việc
tổ chức biện pháp can thiệp giảm tác hại bằng bao cao su để tạo sự thống
nhất, đồng bộ với hệ thống pháp luật về phòng, chống HIV/AIDS cũng như
nâng cao hiệu quả của các hoạt động can thiệp.
2. Về tổ chức triển khai các hoạt động can thiệp giảm tác hại trong dự
phòng lây nhiễm HIV
2.1. Nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ làm công tác can thiệp giảm
tác hại trong dự phòng lây nhiễm HIV, trong đó tập trung vào việc xây dựng
kỹ năng cho đội ngũ cán bộ trực tiếp làm công tác thông tin, giáo dục, truyền
thông về can thiệp giảm tác hại.
2. 2. Tiếp tục đẩy mạnh công tác thông tin, giáo dục, truyền thông về
can thiệp giảm tác hại trong đó cần tập trung vào việc nâng cao chất lượng
của các thông điệp, tài liệu truyền thông; tiếp tục đa dạng hóa các hình thức
truyền thông bảo đảm tính phù hợp với từng nhóm đối tượng.
2. 3. Tiếp tục nghiên cứu, xây dựng các mô hình tổ chức triển khai các
hoạt động cung cấp bao cao su và bơm kim tiêm sạch bảo đảm tính phù hợp
81
với từng nhóm đối tượng.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tài liệu tiếng Việt:
1. Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (2011), “Báo cáo công tác cai
nghiện ma túy ở Việt Nam thời gian qua”, Hà Nội.
2. Bộ Y tế (2004), Hệ thống hóa các văn bản quy phạm pháp luật về
3. Bộ Y tế (2011), Báo cáo công tác phòng chống HIV/AIDS 6 tháng đầu
phòng, chống HIV/AIDS.
năm 2012”, Hà Nội.
4. Chính phủ (2007), Nghị định số 108/2007/NĐ-CP của Chính phủ Quy
định chi tiết thi thành một số điều của Luật phòng, chống Virus gây ra hội
chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (HIV/AIDS), Hà Nội
5. Trường Đại học Y khoa Hà Nội (1995), Nhiễm HIV/AIDS: Y học cơ sở,
lâm sàng và phòng chống, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội, tr.32-178.
1. UNODC (2009) “Báo cáo hoạt động phòng chống ma túy trên toàn cầu
năm 2008”, Hà Nội.
Tài liệu tiếng Anh:
7. Asamoah-Odei E, Garcia-Calleja JM & Boerma T (2004).
“HIV
prevalence and trends in sub-Saharan: no decline and
large subregional
Differences” Lancet, 364:35-40.
8. AIDS Center of the South-Kazakhstan Oblast (2007).
Presentation to the
national meeting on universal access to ART treatment and
testing services.
3-4 September.Astana.
82
9. AIDS Foundation East- West (2007), Officially registered HIV cases by
region of the Russian Federation – 1 January 1987
10. Booth RE, Kwiatkowski CF, Brewster JT (2006). Predictors
of HIV sero-
status among drug injectors at three Ukraine sites.AIDS,
20(17): 2217-
2223
11. Choi KH et al.(2007).The influence of social and sexual
networks in the
spread of HIV and syphilis among men who have sex with
men in
Shanghai, China.Journal of Acquired Immune Deficiency
Syndromes,
45(1):77-84
12. Dourado I et al.(2007).HIV-1 seroprevalence in the
general population of Salvador, Bahia State, Northeast
Brazil.Cadernos de Sausde Pusblica, 23 (1): 25-32.
13. Emmanuel F, Archibald C, Altaf A (2006). What drives
the HIV epidemic among injecting drug users in
Pakistan: a risk factor analysis.Abstract MOPE0524.XVI
International AIDS conference.13-18 August.Toronto.
14. Euro HIV (2007).HIV/AIDS surveillance in Europe:end-
year report
2006, No.75.Saint-Maurice, Institut de Veille Sanitaire
15. Hallett TB et al.(2006). Declines in HIV prevalence can
be associated
with changing sexual behaviour in Uganda, urban Kenya,
Zimbabwe, and urban Haiti.Sexually Transmitted
83
Infections, 82 (Suppl.I): il-i8.
16. Hamers F.F. (2006), HIV/AIDS in Europe : trends in EU-
wide
priorities, Eurosurveillance, 11 (11)
17. Health Protection (2007) HIV and AIDS in the United
Kingdom
update: data to the end of March 2007. Health
Protection Report, 1 (17).
18. Inciardi JA, Syvertsen JL, Surratt HL (2005). HIV/AIDS in
the
Caribbean Basin. AIDS Care, 17 (Suppl.1): S9- S25.
19. Kumar R et al (2005). HIV-1 trends, risk factors and
growth in India.
National Commission on Macroeconomics and Health
(NCMH) Background Papers – Burden of Disease in India.
September. New Delhi, Ministry of Health & Family
Welfare.
20. Ladnaya NN (2007). The national HIV and AIDS epidemic
and HIV
surveillance in the Russian Federation. Presentation to
“Mapping the AIDS Pandemic” meeting. 30 June.
Moscow.
21. Ministry of Health and Sanitation. Sierra Leone (2007).
Antenatal HIV
and syphilis sentinel surveillance (2006). Freetown.
22. Ministry of Health China (2006). 2005 update on the
HIV/AIDS
epidemic and response in China. Beijing, Ministry of
84
Health China, UNAIDS, WHO.
23. Ministry of Health Pakistan (2005). National study of
reproductive
tract and sexually transmitted infections: Survey of high
risk groups in Lahore and Karachi, March-August 2004.
Islamabad.
24. Ministry of Health Belarus (2007). HIV epidemic
situation in the
Republic of Belarus in 2006. Information Bulletin, 24
Minks.
25. Ministry of Health Kazakhstan et al.(2005). Rusults of
investigation
of the real situation with drug abuse in Kazakhstan.
Almaty (in
Russian).
26. Ministry of Health New Zealand (2007). AIDS in New
Zealand. Issue 59. Auckland. Available at
http://moh.govt.nz/moh.nsf/indexmh/aids-nzissue 59
27. National AIDS Programme Myanmar (2007). Sentinel
Survey Data for March-April 2006. Yangon.
28. National AIDS Program Argentina (2005).
Epidemiological surveillance report. . December. Buenos
Aires.
29. National Center for HIV/AIDS, Dermatology and STIs
(2007). HIV
Sentinel surveillance (HSS) 2006/2007: reslts, trends
and estimates. Phnom Penh.
30. National Centre in HIV HIV Epidemiology and Clinical
85
Research
(2006). HIV/AIDS, viral hepatitis and sexually
transmissible infections in Australia; annual surveillance
report 2006, Sydney.
31. National Centre in HIV Epidemiology and Clinical
Research (2007).
Australian HIV Surveillance Report, 23 (1). January.
32. PAHO (2007). AIDS in the Americas: the evolving
epidemic, response
and challenges ahead. Washington, DC.
33. Public Health Agency of Canada (2006). HIV and AIDS in
Canada:
surveillance report to June 30,2006. Ottawa. Available
at: www.phac-aspc.gc.ca/aids-
sida/publiccation/index.html surveillance.
34. Prestage G et al.(2006). Trends in unprotected anal
intercourse among
Sydney gay men. Abstract WEPE0721. XVI. Internationl
AIDS
Conference. 13-18 August. Toronto.
35. Russian Federal AIDS Centre (2007), Officially
registered HIV cases
in Russian Federation: 1 January 1987 – 31 December
2006, 14
Febreuary, Moscow, AIDS Foundation East West.
36. Soto RJ et al. (2007). Sentnel surveillance of sexually
86
transmitted
infection/HIV and risk behaviours in velnerable
population in five Central American countries. Journa of
Acquired Immune Deficiency Syndromes. Ahead of print.
37. UNAIDS (2007). Comparing adult antenatal-clinic based
HIV
prevalence with prevalence from national population
based surveys in
sub-Saharan Africa. UNAIDS presentation. Accessed 17
November 2007 at
http://data.unaids.org/pub/Presentation/2007/surey_anc_
2007_en.pdf.
38. UNAIDS/WHO (2006). AIDS epidemic update: December
2006.
UNAIDS, Geneva 2006. UNAIDS/06.29E.
ISBN9291735426.
39. UNAIDS (2008). Report on the global AIDS epidemic.
Geneva.
40. US Centers for Disease Control and Prevention (2007a).
HIV/AIDS
surveillance report: cases of HIV infection and AIDS in
the United
States and dependent areas, 2005. Vol.17.Revised June
2007. Atlanta.
41. UNAIDS (2007). Report on the global AIDS epidemic.
Geneva.
42. Van Griensven F et al. (2006).HIV prevalence among
87
populations of
men who have sex with men – Thailand, 2003 and 2005.
Morbidity and Mortality Weekly Report, 55 (31): 844-
8.August 11.
43. WHO (2007). HIV/AIDS in the South-East Asia
region.March. New
Delhi, WHO Regional Office for South-East Asia.
http://www.searo.who.int/hiv-aids
44. WHO, UNAIDS, UNICEF (2007). Towards universal
access: scaling up priority HIV/AIDS interventions in
88
the health sector: progress report. April.Geneva.

