0
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐH NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN
BÁO CÁO TỔNG KẾT
KẾT QUẢ THỰC HIỆN ĐỀ TÀI THUỘC DỰ ÁN KHOA HỌC
CÔNG NGHỆ NÔNG NGHIỆP VỐN VAY ADB
Tên đề tài: NGHIÊN CỨU BIỆN PHÁP CẢI TẠO, PHỤC HỒI VÀ
SỬ DỤNG ĐẤT CANH TÁC SAU KHAI THÁC KHOÁNG SẢN
TẠI THÁI NGUYÊN
Cơ quan chủ quản dự án: Bộ Nông nghiệp và PTNT
Cơ quan chủ trì đề tài: Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
Chủ nhiệm đề tài: PGS.TS. Đặng Văn Minh
Thời gian thực hiện đề tài: 9/2009 – 12/2011
Thái Nguyên, tháng 10/2011
1
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Thái Nguyên một trong những tỉnh trữ lượng khoáng sản lớn nhất
cả nước, đặc biệt các khoáng sản phục vụ cho ngành luyện kim chế biến
vật liệu xây dựng như: sắt, chì, kẽm, titan, đá, sét,… Với những tiềm năng lớn
về khoáng sản, trên địa bàn tỉnh rất nhiều sở khai thác, chế biến khoáng
sản từ quy nhỏ đến lớn đây một trong những ngành chiếm dụng diện
tích nông lâm nghiệp lớn. Những tác động tiêu cực tới môi trường: ô nhiễm môi
trường không khí, ô nhiễm môi trường nước, ô nhiễm môi trường đất... do hoạt
động sản xuất, khai thác, chế biến khoáng sản không thể tránh khỏi. Kết quả
nghiên cứu về thực trạng môi trường đất, nước tại một số khu vực khai thác
khoáng sản của tỉnh Thái Nguyên cũng đã và đang là những vấn đề nhức nhối.
- Mỏ sắt Trại Cau: ớc thải sản xuất của mỏ sắt Trại Cau chủ yếu
nước thải từ khâu tuyển rửa quặng. Như hàm lượng sắt (Fe) trong mẫu vượt tiêu
chuẩn tới trên 670 lần, hàm lượng chì (Pb) vượt chuẩn cho phép xấp xỉ 6,7 lần,
hàm lượng asen (As) vượt chuẩn từ 3,78 đến 3,88 lần, hàm lượng cadimi (Cd)
vượt chuẩn trên 2 lần tiêu chuẩn cho phép. Các chỉ tiêu về ô nhiễm hữu như
BOD5, COD cũng đều xấp xỉ cho phép.
- nghiệp khai thác thiếc Thượng, Đại Từ: Kết quả phân ch các
mẫu đất khu vực cho thấy: Chỉ số As trong đất vượt tiêu chuẩn, As từ 13,10 đến
15,48 mg/kg trong khi tiêu chuẩn là 12 (TCVN 7209-2002).
- nghiệp chì - kẽm làng Hích, Đồng Hỷ: Kết quả phân tích chất lượng
nước thải cho thấy tất cả các mẫu, nước thải đã dấu hiệu ô nhiễm kim loại
nặng, đặc biệt hàm lượng kẽm trong nước tại các điểm quan trắc đều vượt từ
2,11 đến 7,23 lần so với tiêu chuẩn cho phép (TCVN 5045:1995), hàm lượng
chất lơ lửng trong nước (TSS) rất cao.
Khai thác khoáng sn đa phương đã thu hp din tích đt sn xuất
nông nghip. Quá trình khai thác đã làm mất kh năng canh tác ca đt nông
lâm nghip như: đ đt đá lên đt trng trt, nước thi bùn đt do quá trình
tuyn qung vùi lp đt canh tác, do đó những khu vc sau khai thác đt
không còn kh năng canh tác, b hoang. Đng thi, quá trình khai thác phi
đào đt đá đ ly qung và đt đá thải đ thành nhng bãi thi cao hàng vài
chc t; nhng bãi thi đt đá này mi khi mưa to, xói mòn, sạt l làm
2
đt đá trôi xung và vùi lp y rau u ca các h nông dân có rung
gn các khu bãi thi. Mt yêu cu cp thiết đt ra làm thế nào đ phc hi
li kh năng canh tác ca đt, hn chế xói n st l, khc phc hu qu do
khai thác khoáng sản đ li.
Nhận thức quan điểm chtrương của Đảng và Nhà nước đối với
công tác bảo vmôi trường trong thời kđy mạnh ng nghiệp a, hiện đại
hóa, năm 2006, Hội đồng nhân dân tỉnh Thái Nguyên đã thông qua Đề án "Bảo
vệ i trường trong thời kđẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại a giai đoạn
2007 - 2010 những m tiếp theo trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên". Mục tiêu
là: Phòng ngừa, hạn chế, khắc phục hiệu quô nhiễm, suy thoái môi trường;
y dựng Thái Nguyên thành tỉnh sự phát triển hài a giữa tăng trưởng
kinh tế với thực hiện tiến bxã hội bảo v môi trường. Nhằm nâng cao hiệu
quả sdụng đất đai sau khi khai thác khoáng sản, đề tài: "Nghiên cứu biện
pháp cải tạo, phục hồi s dụng đất canh tác sau khai thác khoáng sản
Thái Nguyên" là cần thiết phục vụ cho nhu cầu bảo v môi trường hiện tại và
tương lai.
II. MỤC TIÊU ĐỀ TÀI
1. Mục tiêu tổng quát
Xây dựng biện pháp cải tạo, phục hồi sử dụng đất bthoái hóa ô
nhiễm sau khai thác khoáng sản nhằm tăng diện ch đất có chất ợng tốt sử dụng
cho sản xuất ng lâm nghiệp, góp phần m ng độ che phủ đất trên những ng
đất trống nghèo kiệt có địa nh phức tạp do ảnh hưởng của hoạt động khai thác
khoáng sản .
2. Mục tiêu cụ thể
- Đánh giá thực trạng đất đai bao gồm cả diện tích chất lượng đất tại
những vùng sau khai thác khoáng sản.
- Xác định các loại cây biện pháp kỹ thuật sử dụng cây cải tạo đất họ
đậu, cây khả năng hút kim loại nặng, cây m nghiệp để trồng trên vùng đất
sau khai thác khoáng sản.nhằm cải tạo phục hồi và tăng độ che phủ đất
- Xây dựng hình cải tạo sử dụng đất sau khai thác khoáng sản
bằng các loài cây tuyển chọn được.
3
III. TNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CU TRONG VÀ NGOÀI NƯC
1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới:
Hoạt động khai thác khoáng sản đã phát triển mạnh từ thập kỷ trước
nhiều quốc gia giàu tài nguyên như Nga, Mỹ, Australia, Campuchia, Indonesia,
Phillipines, Trung Quốc, Ấn Độ, ... nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng gia tăng
nguyên liệu khoáng của thế giới như quặng sắt, chì, kẽm, thiếc, than đá, đồng
các loại khoáng sản khác,... Ngành khai thác khoáng sản ngành sử dụng diện
tích đất rất lớn, mặt khác đa số các mỏ đều nằm dưới những cánh rừng thủy
vực chức năng tạo sinh kế cho người dân. Hoạt động khai thác khoáng sản
dẫn đến suy thoái tài nguyên đất, tài nguyên rừng, tài nguyên nước,... rất lớn
(Hiếu Anh, 2010), [1]. Tổ chức Bảo vệ môi trường Green Cross của Thụy
Viện Blacksmith của Mỹ đã ng bố kết quả nghiên cứu và đưa ra 10 nguyên nn
ô nhiễm môi trường y c hại nghm trọng nht trên thế gii, trong đó 2
nguyên nhân y ô nhiễm thi a i trường đất có liên quan đến khai khoáng.
- Khai thác vàng thủ công: Với phương tiện đơn giản nhất như quặng
vàng trộn lẫn với thủy ngân, hỗn hợp này sẽ được nung chảy, thủy ngân bốc hơi,
chất còn lại là vàng. Hậu quả, người khai thác hít khí độc, còn chất thải thủy ngân
gây ô nhiễm, môi trường đất từ đó tích tụ trong cây cối, động vật từ đó lan
sang chuỗi thực phẩm.
- Khai khoáng công nghiệp: Khó khăn lớn nhất xử chất thải dưới
dạng đất đá bùn. Chất thải này thể các hóa chất độc hại người ta sử
dụng để tách quặng khỏi đất đá. Chất thải các mỏ thường các hợp chất
sulfid-kim loại, chúng có thể tạo thành axít, với khối lượng lớn chúng có thể gây
hại đối với đồng ruộng và nguồn nước ở xung quanh. Bùn từ các khu mỏ chảy ra
sông suối có thể gây ùn tắc dòng chảy từ đó gây lũ lụt [4].
Theo nghiên cu của Avílio A. Franco and Sergio M. De Faria
(1996). Các li y họ đậu rhizobia hoc bradyrhizobia cung cp khong 12
tấn hữu khô 190 kgN/ha/năm. Các t nghim với các loài y bản địa
cây h đậu đã tnh ng trong việc cải to đất, khu vực khai thác mỏ l
thiên và dư lượng axit tkhai thác bauxite không cần bổ sung c cht
hữu . Tuy nhiên, cn bổ sung phosphate, thạch cao, vi chất dinh dưỡng
kali [15].
4
Gần đây các nkhoa học Trung Quốc đã bắt đầu tiến hành một dự án
thử nghiệm đầu tiên trên thế giới trồng cây để thu gom As độc hại trong đất.
Theo Chen Toongbin thuộc Viện khoa học địa Tài nguyên thì dán trên
được thực hiện tại ba địa điểm ở tỉnh Hồ Nam, Triêt Giang và Quảng Đông. Mỗi
địa điểm thử nghiệm diện tích 1 ha được trồng 30 tấn hạt Pteris vittata L.,
một loại dương xỉ thhấp thu được 10% As từ đất trong ng 1 năm. Các
nhà khoa học Trung Quốc đã dần dần hoàn thiện kỹ thuật trồng cây dương xỉ
(Pteris vittata L.) vetiver để “hút” các nguyên tố kim loại nặng trong đất như
thạch tín, đồng, kẽm… Với kỹ thuật này, họ hy vọng có thể giải quyết về cơ bản
vấn đề ô nhiễm kim loại nặng vùng hạ du của Trung Quốc do quá trình khai
khoáng gây nên (Shu W. S và cộng sự, 2002) [17].
Một trong những mục tiêu của công tác hoàn thổ là lập lại thảm thực vật
nhằm m cho khu vực ổn định, bền vững thể ngăn ngừa, kiểm soát được
xói mòn. Với những đặc trưng sinh lý và hình thái độc đáo, cỏ vetiver (Vetiveria
zizanioides L.) được sử dụng rất hiệu quả không chỉ để kiểm soát xói mòn
còn loài khả năng chống chịu cao đối với những loại đất bô nhiễm kim
loại nặng. Nhiều nghiên cứu cho thấy, loài cỏ này có thể phát triển tốt trên nhiều
loại đất khác nhau, thậm chí cả trong điều kiện môi trường đất khắc nghiệt: rất
chua, kiềm, hàm ợng Mn và Al di động cao. vậy, cỏ vetiver đã được sử
dụng rất thành công trong phục hồi cải tạo đất vùng mỏ như: mỏ than, vàng,
bentonit, bôxit Australia; mỏ vàng, kim cương, platin Nam Phi; mỏ đồng
Chi Lê; mỏ chì Thái Lan, mỏ chì, kẽm, bôxit Trung Quốc v.v…(
Chantachon S. và cộng sự, 2003) [16].
một số nước, nội dung thiết lập thảm thực vật trong chương trình
hoàn thổ còn bao gồm cả việc sdụng phân bón. Những khu vực được xác định
cải tạo để sử dụng cho mục đích nông nghiệp thường phải chương trình duy
trì việc bổ sung phân bón. Tùy trường hợp cụ thể mà người ta sử dụng thạch cao
hoặc vôi để điều chỉnh độ pH, tùy theo loại giống cây trồng, loại cây mật đ
cây, tỷ lệ sinh trưởng người ta sử dụng thêm các loại phân đạm, lân hoặc
kali. Một số loại chất thải hữu cũng được sử dụng như phân, máu, xương
động vật, bùn cống rãnh …chúng vừa có tác dụng như phân bón vừa có tác dụng