
Hồ Chí Minh hoàn thiện đường lối chính trị
và tổ chức cho sự ra đời của Mặt trận Việt Minh
1- Hồ Chí Minh là tượng trưng cho tinh hoa của dân tộc Việt Nam, một quốc
gia có truyền thống văn hóa, tư tưởng được hình thành qua hàng ngàn năm lịch sử,
mà cốt lõi là ý chí độc lập và khát vọng tự do. Đó là mục tiêu cao cả, quyền dân
tộc thiêng liêng quy tụ toàn dân đứng lên chiến đấu đánh bại các đội quân ngoại
bang phương Bắc xâm lược, để giành và giữ vững chủ quyền đất nước qua các
thời đại lịch sử.
“ Tự do độc lập là quyền trời cho của mỗi dân tộc… Hễ một dân tộc đã
đứng lên kiên quyết tranh đấu cho Tổ quốc họ thì không ai, không lực lượng gì
chiến thắng được họ” (1).
Độc lập, tự do là tư tưởng cốt lõi của học thuyết giải phóng và phát triển
dân tộc của Hồ Chí Minh, là nền tảng của đường lối chiến lược đại đoàn kết dân
tộc qua các thời kỳ cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Sự hình thành Mặt trận dân tộc thống nhất trong cách mạng Việt Nam do
Đảng tổ chức và lãnh đạo đã diễn ra qua một tiến trình vận động từ năm 1930 và
được hoàn thiện về đường lối chính trị và tổ chức với sự ra đời của Việt Minh năm
1941.
Việt Minh ra đời giữa lúc nhân dân Việt Nam đang sống quằn quại trong
cảnh “ nước sôi lửa nóng”, lúc “ quyền lợi dân tộc giải phóng cao hơn hết thảy”.
Việc cứu nước là việc chung của đồng bào cả nước, ai là người Việt Nam đều phải
kề vai sát cánh:
“Quyết làm cho nước non này,
Cờ treo độc lập, nền xây bình quyền:
Làm cho con cháu Rồng, Tiên,
Dân ta giữ lấy lợi quyền của ta” (2)

Hồ Chí Minh sớm xác định cuộc cách mạng của nhân dân các nước thuộc
địa chống lại ách thống trị của chủ nghĩa đế quốc là “ dân tộc cách mệnh”. Cuộc
cách mạng để “ giải phóng gông cùm nô lệ cho đồng bào”, là một sự nghiệp lớn, “
là việc chung của cả dân chúng”, “ trong đó công nông là gốc cách mệnh”, là “ chủ
cách mệnh”, “học trò, nhà buôn nhỏ, điền chủ nhỏ…là bầu bạn cách mệnh”; các
giới đồng bào sĩ, nông, công, thương đều phải đoàn kết lại do đảng cách mạng
lãnh đạo để chống bọn đế quốc và tay sai.
Người không rơi vào giáo điều khuôn mẫu, không đơn giản hóa vấn đề dân
tộc theo quan điểm coi vấn đề dân tộc thực chất là vấn đề nông dân và nội dung cơ
bản về quyền lợi của nông dân là ruộng đất.
Nội dung cơ bản của cách mạng thuộc địa là quyền tự do độc lập. Nhân
dân thuộc địa có một động lực vĩ đại khi họ đã hiểu được giá trị của sự đoàn kết
dân tộc, quyết vùng dậy đấu tranh chống ách thống trị của chủ nghĩa thực dân
giành lại quyền độc lập dân tộc và tự do cho toàn dân.
Cách mạng của nhân dân các nước thuộc địa có thể giành được thắng lợi
trước cách mạng của nhân dân các nước tư bản và họ có thể giúp đỡ những người
anh em ở phương Tây trong nhiệm vụ giải phóng hoàn toàn.
Đây là những quan điểm cách mạng cơ bản của Hồ Chí Minh làm nền tảng
để xây dựng đường lối chiến lược cách mạng, thực hiện khối đại đoàn kết thống
nhất dân tộc trong câch mạng giải phóng dân tộc ở nước ta.
2- Đầu năm 1930, nắm vững bản chất vấn đề dân tộc, Hồ Chí Minh đã lập ra Đảng
cộng sản Việt Nam. Cương lĩnh đầu tiên của Đảng do chính Người soạn thảo,
được Hội nghị thành lập Đảng nhất trí thông qua đã kết hợp đúng đắn vấn đề dân
tộc với vấn đề giai cấp, trong đó nổi lên hàng đầu là vấn đề dân tộc. Cương lĩnh
nêu rõ chủ trương chiến lược của Đảng trong cách mạng giải phóng dân tộc là
đánh đổ đế quốc thực dân Pháp và bọn phong kiến, “ làm cho nước Việt Nam được
hoàn toàn độc lập”, thực hiện các quyền tự do dân chủ, kể cả vấn đề tịch thu

ruộng đất của đế quốc và bọn phản cách mạng đem chia cho nông dân, chuẩn bị
thực hành thổ địa cách mạng. Đảng phải thu phục cho được đại bộ phận công nhân
và nông dân, đồng thời phải đoàn kết với tiểu tư sản, trí thức, trung nông, tranh thủ
hoặc trung lập phú nông, trung, tiểu địa chủ, tư sản Việt Nam… Chủ trương thành
lập Hội phản đế đồng minh cũng được nêu ra để Ban chấp hành Trung ương phải
tổ chức ngay.
Điểm sáng nổi bật trong Cương lĩnh đầu tiên của Đảng là chủ trương
chiến lược chống đế quốc và tay sai giành độc lập, tự do, thực hiện đại đoàn kết
dân tộc. Phong trào cách mạng nổ ra năm 1930 có tính quần chúng rộng rãi, nhất
là những địa phương có phong trào lên đến đỉnh cao nhất như Nghệ An, Hà Tĩnh
đã cuốn hút mạnh mẽ sức mạnh đoàn kết dân tộc, không chỉ có công nông mà còn
có các tầng lớp trí thức, một số sĩ phu, phú nông, trung, tiểu địa chủ và một số
quan lại nhỏ ở nông thôn. Đó là một sự thật lịch sử, bước đầu minh chứng tính
hiện thực về sức mạnh của chủ nghĩa dân tộc và sự đoàn kết của nhân dân Việt
Nam trong cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, về tính chân xác của quan điểm
giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc, đoàn kết toàn dân chống đế quốc và tay sai
của Hồ Chí Minh.
Ngày 18-11-1930, Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra bản Chỉ thị về vấn
đề thành lập Hội phản đế đồng minh, nhắc lại tư tưởng cách mạng đúng của
Cương lĩnh chính trị đầu tiên, coi việc đoàn kết toàn dân là một trong những nhân
tố thắng lợi của cuộc cách mạng. Chỉ thị phê phán những nhận thức sai lầm trong
Đảng như đã tách rời vấn đề dân tộc với vấn đề giai cấp, đã coi nhẹ vai trò của Hội
phản đế đồng minh trong cách mạng ở thuộc địa. Tư tưởng đoàn kết dân tộc trong
Cương lĩnh đầu tiên của Đảng, nội dung của Chỉ thị của Ban Thường vụ Trung
ương Đảng chưa được Ban Chấp hành Trung ương Đảng quán triệt, trái lại còn
tiếp tục mắc bệnh “tả” khuynh giáo điều. Khuynh hướng “tả”, biệt phái giai cấp đó
được tiếp tục biểu hiện rõ trong thư của Trung ương gửi cho các cấp đảng bộ ngày
9-12-1930 và các văn kiện khác của Đảng trong những năm 1931-1935 về sau.

Trong những năm 1936-1939, Đảng Cộng sản Đông Dương đã quyết định
vận động thành lập Mặt trận nhân dân phản đế rộng rãi, sau gọi là Mặt trận thống
nhất dân chủ để tập hợp các giai cấp, các đảng phái chính trị dù nhỏ bé, bấp bênh
vào cuộc đấu tranh chống bọn phản động thuộc dịa và tay sai, đòi các quyền tự do
dân chủ, cơm áo và hòa bình. Hồ Chí Minh cũng đã truyền đạt cho Ban Chấp hành
Trung ương Đảng chủ trương phải tổ chức mặt trận một cách rộng rãi, phải đấu
tranh không khoan nhượng chống tư tưởng bè phái, biệt lập. Đây là một bước
trưởng thành mới về chủ trương xây dựng Mặt trận thống nhất của Đảng. Cao trào
đấu tranh dân chủ rộng rãi của quần chúng diễn ra trong toàn quốc đã dẫn đến các
hình thức phối hợp và liên minh hành động giữa các giai cấp, đảng phái chính trị,
các đoàn thể quần chúng khác nhau trong từng đợt, từng phong trào đấu tranh đòi
quyền lợi dân chủ và dân sinh. Mặt trận dân chủ “đã bắt đầu thực hiện từng bộ
phận” chứ chưa được hình thành về mặt tổ chức, có hệ thống từ cơ sở đến trung
ương, song đảng đã tích lũy thêm những kinh nghiệm có ý nghia thực tiễn quan
trọng trong cuộc vận động xây dựng mặt trận những năm tiếp theo. Những kinh
nghiệm đó đã được Nguyễn Văn Cừ, Tổng Bí thư của Đảng tổng kết bước đầu
trong tác phẩm Tự chỉ trích, công bố tháng 7 - 1939.
3- Từ tháng 9-1939 trở đi, các dân tộc ở Đông Dương đứng trước nguy cơ mất
còn, “ Quyền lợi tất cả các giai cấp bị cướp giật, vận mạng dân tộc nguy vong
không lúc nào bằng”. Vì vậy Hội nghị lần thứ sáu của Ban Chấp hành Trung ương
Đảng do Nguyễn Văn Cừ chủ trì đã quyết định giương cao ngọn cờ dân tộc lên
hàng đầu. Hội nghị đã quyết định lập Mặt trận thống nhất dân tộc phản đế Đông
Dương nhằm mục đích đánh đế quốc Pháp, vua chúa bản xứ và bọn tay sai của đế
quốc phản bội dân tộc; giành lại quyền độc lập hoàn toàn cho cả dân tộc trên bán
đảo Đông Dương (thi hành quyền dân tộc tự quyết).
Sự liên hiệp các dân tộc ở Đông Dương không nhát thiết bắt buộc các dân
tộc phải thành lập một quốc gia duy nhất vì các dân tộc Việt Nam, Miên, Lào vốn
là một quốc gia độc lập. Mỗi dân tộc có quyền giải quyết vận mệnh theo ý muốn

của mình, song sự tự quyết cũng không nhất định là rời hẳn nhau ra. Chính vì vậy,
Hội nghị quyết định sẽ lập Chính phủ Liên bang Cộng hòa dân chủ Đông Dương,
một chính phủ chung cho tất cả các tầng lớp nhân dân trong xứ và trong phong
trào giải phóng dân tộc.
Vào mùa Xuân năm 1941, Hồ Chí Minh đã được trở về Tổ quốc trực tiếp
chỉ đạo Ban Cháp hành Trung ương Đảng lãnh đạo và tổ chức nhân dân đánh
Pháp, đuổi Nhật để giành lại quyền độc lập, tự do.Trung ương Đảng đã khẳng định
và tiếp tục phát triển tư tưởng cách mạng dân tộc của Hồ Chí Minh, rằng: Nói đến
vấn đề dân tộc là nói đến quyền tự do độc lập của mỗi dân tộc.Dân tộc đó có
quyền lựa chọn con đường giải phóng của mình. Sau khi đánh đuổi Pháp, Nhật,
Đảng phải thi hành đúng chính sách dân tộc tự quyết cho các quốc gia dân tộc ở
Đông Dương. Các dân tộc sống trên bán đảo Đông Dương sẽ tùy ý muốn, tổ chức
thành liên bang cộng hòa dân chủ hay đứng riêng thành lập một quốc gia tùy theo
ý muốn của mình.
Hội nghị quyết định nêu cao ngọn cờ giải phóng dân tộc lên hàng
đầu, thống nhất lực lượng cách mạng trên toàn cõi Đông Dương, không phân biệt
thợ thuyền, dân cày, phú nông, tiểu tư sản, tư sản bản xứ, trung, tiểu địa chủ, ai có
lòng yêu nước thương nòi vào một Mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi, đánh
Pháp, đuổi Nhật giành quyền độc lập, tự do cho các dân tộc ở Đông Dương theo
quan điểm thực hiện quyền dân tộc tự quyết. Đối với dân tộc Việt Nam sau khi
đánh đuổi được Pháp – Nhật, sẽ lập nên nước Việt Nam mới theo chế độ dân chủ
cộng hòa… Đây là một sự thay đổi về chiến lược cách mạng tư sản dân quyền của
Đảng, xác định lại tính chất của cuộc cách mạng Đông Dương hiện tại không phải
là cuộc cách mạng tư sản dân quyền, cuộc cách mạng phải giải quyết hai vấn đề:
phản đế và điền địa nữa, mà là cuộc cách mạng chỉ giải quyết một vấn đề cần kíp
“ dân tộc giải phóng” vì nếu không đánh đuổi được Pháp – Nhật thì vận mạng
của dân tộc phải chịu kiếp ngựa trâu muôn đời mà vấn đề ruộng đất cũng không

