
133
TẠP CHÍ KHOA HỌC, Đại học Huế, Số 54, 2009
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ ĐĂNG KÝ KINH DOANH TRÊN ĐỊA BÀN
THÀNH PHỐ HUẾ VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ
Lê Th
ị
Th
ả
o
Tr
ườ
ng
Đạ
i h
ọ
c Khoa h
ọ
c,
Đạ
i h
ọ
c Hu
ế
TÓM TẮT
Đă
ng ký kinh doanh và qu
ả
n lý ho
ạ
t
độ
ng
đă
ng ký kinh doanh là m
ộ
t trong nh
ữ
ng n
ộ
i
dung tr
ọ
ng y
ế
u trong vi
ệ
c c
ả
i cách hành chính trong giai
đ
o
ạ
n hi
ệ
n nay
ở
các t
ỉ
nh, thành ph
ố
nh
ằ
m
đả
m b
ả
o quy
ề
n t
ự
do kinh doanh và phát huy hi
ệ
u qu
ả
trong ho
ạ
t
độ
ng kinh doanh c
ủ
a
các ch
ủ
th
ể
đầ
u t
ư
và khai thác h
ợ
p lý ti
ề
m n
ă
ng kinh t
ế
- xã h
ộ
i c
ủ
a
đấ
t n
ướ
c. Qu
ố
c H
ộ
i
đ
ã ban
hành Lu
ậ
t
Đầ
u t
ư
n
ă
m 2005, Lu
ậ
t Doanh nghi
ệ
p n
ă
m 2005 t
ạ
o môi tr
ườ
ng và v
ị
th
ế
c
ạ
nh tranh
cho các doanh nghi
ệ
p trong và ngoài n
ướ
c
đ
ã
đ
ánh d
ấ
u m
ộ
t b
ướ
c ti
ế
n m
ớ
i trong ho
ạ
t
độ
ng
đă
ng ký kinh doanh cho các doanh nghi
ệ
p trên lãnh th
ổ
Vi
ệ
t Nam nói chung và trên
đị
a bàn
thành ph
ố
Hu
ế
nói riêng. Trên c
ơ
s
ở
đ
ánh giá th
ự
c tr
ạ
ng ho
ạ
t
độ
ng
đă
ng ký kinh doanh và th
ự
c
tr
ạ
ng qu
ả
n lý ho
ạ
t
độ
ng kinh doanh, bài vi
ế
t
đư
a ra m
ộ
t s
ố
gi
ả
i pháp ki
ế
n ngh
ị
nh
ằ
m n
ă
ng cao
hi
ệ
u qu
ả
công tác qu
ả
n lý
đă
ng ký kinh doanh nói chung và trên
đị
a bàn thành ph
ố
Hu
ế
nói
riêng.
1. Mở đầu
Đăng ký kinh doanh (ĐKKD) và quản lý hoạt động ĐKKD là một trong những
nội dung trọng yếu trong việc cải cách hành chính trong giai đoạn hiện nay ở các tỉnh,
thành phố nhằm đảm bảo quyền tự do kinh doanh và phát huy hiệu quả trong hoạt động
kinh doanh của các chủ thể đầu tư và khai thác hợp lý tiềm năng kinh tế - xã hội của đất
nước. Quốc Hội đã ban hành Luật đầu tư năm 2005, Luật doanh nghiệp năm 2005 tạo
môi trường và vị thế cạnh tranh cho các doanh nghiệp trong và ngoài nước đã đánh dấu
một bước tiến mới trong hoạt động ĐKKD cho các doanh nghiệp trên lãnh thổ Việt
Nam nói chung và trên địa bàn Thành phố Huế nói riêng. Tính đến ngày 01/01/2008 đã
có hơn 40.000 doanh nghiệp thành lập mới trên cả nước, riêng ở Thành phố Hồ Chí
Minh đã có gần 20.000 doanh nghiệp mới thành lập với vốn đầu tư lên tới hơn 100.000
tỷ đồng. Các doanh nghiệp đã góp phần to lớn vào sự tăng trưởng kinh tế chung của cả
nước, đạt 8,48% và bội thu kỷ lục trong thu hút đầu tư nước ngoài năm 2007 lên đến
20,3 tỷ đôla [13].
2. Đăng ký kinh doanh và quản lý hoạt động đăng ký kinh doanh
ĐKKD là một thuật ngữ pháp lý nhưng trong mỗi giai đoạn phát triển khác nhau
của nền kinh tế thì thuật ngữ ĐKKD cũng được hiểu và thể hiện khác nhau. Trong cơ

134
chế kế hoạch hóa tập trung, hoạt động ĐKKD được hiểu theo cơ chế “xin - cho” thì
ĐKKD là thủ tục pháp lý bắt buộc đối với việc thành lập doanh nghiệp. Với việc chuyển
đổi nền kinh tế thị trường đảm bảo quyền tự do kinh doanh được ghi nhận trong Hiến
pháp năm 1992, cơ chế “xin - cho” trong hoạt động ĐKKD bị xóa bỏ, để thừa nhận tính
hợp pháp cho sự tồn tại của doanh nghiệp, các chủ thể phải làm thủ tục pháp lý bắt buộc
để hợp pháp hóa sự ra đời của mình và cũng được sử dụng với thuật ngữ ĐKKD.
Như vậy, ĐKKD là một thủ tục hành chính hợp pháp hóa sự ra đời của doanh
nghiệp thông qua đó nhà nước thừa nhận và bảo vệ cho doanh nghiệp các quyền và lợi
ích hợp pháp trong quan hệ kinh doanh và ghi nhận về mặt pháp lý sự tồn tại độc lập
của một chủ thể kinh doanh.
Khởi sự cho hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp, các chủ thể đầu tư phải
tiến hành ĐKKD theo trình tự pháp luật quy định về hồ sơ đối với từng loại hình doanh
nghiệp theo quy định tại Luật Doanh nghiệp 2005: doanh nghiệp tư nhân (Điều 16), công
ty hợp danh (Điều 17), công ty trách nhiệm hữu hạn (Điều 18), công ty cổ phần (Điều 19)
và luật cũng quy định về nhà đầu tư nước ngoài khi thành lập doanh nghiệp kinh doanh tại
Việt Nam.
Khi cho phép sự tồn tại của các chủ thể kinh doanh, ĐKKD thì cũng chính là mục
tiêu của nhà nước trong việc quản lý hoạt động ĐKKD của các chủ thể này. Thông qua
việc ĐKKD, quản lý ĐKKD đối với các doanh nghiệp là quản lý các thông tin về doanh
nghiệp được cơ quan quản lý nhà nước có ghi vào sổ ĐKKD lưu giữ, các doanh nghiệp
nào đủ điều kiện để thành lập hoạt động và loại bỏ những chủ thể không đủ tư cách pháp
lý để tham gia kinh doanh. Việc ĐKKD có ý nghĩa quan trọng trong việc thiết lập trật tự
trong hoạt động kinh doanh và tạo môi trường kinh doanh đầu tư lành mạnh, đây là một
trong những nhân tố thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế.
3. Thực trạng về đăng ký kinh doanh, quản lý đăng ký kinh doanh trên địa bàn
thành phố Huế
Theo báo cáo của Sở Kế hoạch Đầu tư tỉnh Thừa Thiên Huế, khu vực kinh tế tư
nhân đã tăng lên mạnh mẽ. Đến năm 2006, toàn tỉnh có 2.195 doanh nghiệp ĐKKD, trong
đó 1.382 doanh nghiệp tư nhân, 626 công ty trách nhiệm hữu hạn, 187 công ty cổ phần,
với tổng số vốn đăng ký là 4.268,5 tỷ đồng Việt Nam; số doanh nghiệp chủ yếu tập trung
vào ngành thương mại 44,8%, xây dựng 24%, công nghiệp 10,8%, khách sạn, nhà hàng
8,5 %, và các doanh nghiệp có mức vốn đăng ký dưới 1 tỷ đồng chiếm 79%. Tính đến
tháng 12 năm 2007, số doanh nghiệp đã tăng lên đến 2.418 doanh nghiệp với vốn đăng ký
là 7.114.408 triệu đồng. Trong đó, số lượng doanh nghiệp đăng ký năm 2007 là 420 doanh
nghiệp tăng 102,4% so với năm 2006 với tổng số vốn đăng ký là: 1.969.865 triệu đồng. Ở
thành phố Huế, số lượng doanh nghiệp cũng tăng lên trong thời gian từ năm 2005. Tính
đến thời điểm tháng 12 năm 2007, trên địa bàn thành phố Huế có 799 doanh nghiệp.
Trong đó, số doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp là 84 doanh nghiệp, xây

135
dựng là 89 doanh nghiệp, thương nghiệp khách sạn nhà hàng là 486 doanh nghiệp, giao
thông vận tải là 70 doanh nghiệp, các ngành khác là 70 doanh nghiệp [8].
Tình hình hoạt động cấp giấy chứng nhận ĐKKD trong thời gian qua có những
thành tựu đáng kể. Theo số liệu thống kê từ Sở Kế hoạch Đầu tư tỉnh Thừa Thiên Huế,
tính đến thời điểm từ năm 2005 đến tháng 12/2008, đã cấp giấy chứng nhận ĐKKD cho
1.354 doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Huế với tổng số vốn đăng ký lên đến
4.697.502 triệu đồng, cấp giấy chứng nhận đăng ký hoạt động 277 chi nhánh và 41 văn
phòng đại diện. Trong
đó, chỉ tính riêng năm
2005, trên địa bàn
thành phố đã làm thủ
tục cấp 305 giấy chứng
nhận ĐKKD cho
doanh nghiệp với 165
doanh nghiệp tư nhân,
07 công ty trách nhiệm
hữu hạn một thành
viên, 93 công ty trách
nhiệm hữu hạn, 40
công ty cổ phần, với
tổng số vốn đăng ký
781.626 triệu đồng và cấp giấy chứng nhận đăng ký hoạt động cho 77 chi nhánh và 8
văn phòng. Năm 2006, các doanh nghiệp đăng ký kinh doanh có chiều hướng tăng lên
trên địa bàn thành phố với 348 doanh nghiệp được cấp giấy chứng nhận ĐKKD, trong
đó, có 190 doanh nghiệp tư nhân, 06 công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, 11
công ty trách nhiệm hữu hạn, 41 công ty cổ phần với tổng vốn đăng ký 781.142 triệu
đồng, 80 chi nhánh và 13 văn phòng đại diện được cấp giấy chứng nhận đăng ký hoạt
động trên địa bàn.
Hiện nay, hoạt
động kinh doanh trên
địa bàn với mức vốn
đăng ký lớn nhất là 50
tỷ đồng và mức thấp
nhất là 500 triệu đồng.
Các doanh nghiệp đã
đóng hơn 40% tổng sản
phẩm nội địa của thành
phố, giải quyết việc
làm cho hơn 12.332 lao
Bi
ể
u
đồ
: So sánh doanh nghi
ệ
p và t
ổ
ng s
ố
v
ố
n
Đ
KKD hàng n
ă
m
c
ủ
a Thành ph
ố
Hu
ế
t
ừ
2005 - 2008
(Ngu
ồ
n: Báo cáo c
ủ
a S
ở
K
ế
ho
ạ
ch -
Đầ
u t
ư
t
ỉ
nh Th
ừ
a Thiên Hu
ế
n
ă
m 2008)
305
781,626
340
781,142
351
1899,969
350
1234,765
Ϭ
ϱϬϬ
ϭϬϬϬ
ϭϱϬϬ
ϮϬϬϬ
ϮϬϬϱ ϮϬϬϲ ϮϬϬϳ ϮϬϬϴ
Doanh nghiÖp
Vèn ®¨ng ký
3 8 5
3 0 6
4 6 8
3 4 8
4 6 8
3 6 1
6 0 7
360
Ϭ
ϭϬϬ
ϮϬϬ
ϯϬϬ
ϰϬϬ
ϱϬϬ
ϲϬϬ
ϳϬϬ
ϮϬϬϱ ϮϬϬ ϲ ϮϬϬϳ ϮϬϬ ϴ
TØnh Th õ a Th iªn
Hu Õ
Th µn h ph è H u Õ
Bi
ể
u
đồ
: So sánh s
ố
l
ượ
ng Doanh nghi
ệ
p
đượ
c c
ấ
p v
ố
n GCN
Đ
KKD c
ủ
a
t
ỉ
nh Th
ừ
a Thiên Hu
ế
và Thành ph
ố
Hu
ế
t
ừ
2005 - 2008
(Ngu
ồ
n: Báo cáo c
ủ
a S
ở
K
ế
ho
ạ
ch -
Đầ
u t
ư
t
ỉ
nh Th
ừ
a Thiên Hu
ế
n
ă
m 2008)

136
động... Tính đến thời điểm tháng 12 năm 2008, con số doanh nghiệp được cấp giấy chứng
nhận ĐKKD là 1.354 doanh nghiệp, trong đó có 719 doanh nghiệp tư nhân, 93 công ty
trách nhiệm hữu hạn một thành viên, 371 công ty trách nhiệm hữu hạn, 171 công ty cổ
phần, với 277 chi nhánh được thành lập hoạt động và 41 văn phòng đại diện; số doanh
nghiệp còn tồn tại hoạt động kinh doanh tính đến thời điểm tháng 12/2008 là 1.260 doanh
nghiệp với vốn đăng ký 6.045.631 triệu đồng và 271 chi nhánh và văn phòng đại điện…
Qua biểu đồ trên ta thấy, trong thời gian qua, hoạt động kinh doanh và thành lập
doanh nghiệp kinh doanh chủ yếu tập trung trên địa bàn Thành phố Huế, chiếm tỷ trọng
từ 80% đến 90% số doanh nghiệp được cấp giấy chứng nhận ĐKKD. Điều đó cho thấy
rằng các tiềm năng kinh tế tại các địa bàn khác trên phạm vi tỉnh Thừa Thiên Huế chưa
được chú trọng đầu tư khai thác cũng như chưa có các biện pháp khuyến khích đầu tư
hữu hiệu để kêu gọi đầu tư của các nhà đầu tư trong nước trên địa bàn thành phố Huế
cũng như tỉnh Thừa Thiên Huế để có một hệ thống đầu tư kết hợp nhiều ngành nghề,
nhiều lĩnh vực kinh doanh.
Số doanh nghiệp ĐKKD cũng như số vốn đăng ký tăng lên qua các năm, Luật
Doanh nghiệp năm 2005 được xem như là một bước “cởi trói” cho các doanh nghiệp, là
nhân tố khuyến khích thúc đẩy sự tham gia của các loại hình doanh nghiệp và năng cao
vốn để đáp ứng nhu cầu cạnh tranh của bản thân doanh nghiệp.
Thực sự hoạt động kinh doanh trên địa bàn thành phố Huế chưa phát huy hết
tiềm năng kinh tế để thúc đẩy sự phát triển kinh tế trên địa bàn. Việc áp dụng cơ chế
một cửa liên thông trong ĐKKD để khai sinh cho doanh nghiệp cũng gây không ít trở
ngại cho doanh nghiệp và chưa phát huy hết hiệu quả của cơ chế này. Các doanh nghiệp
còn mất nhiều thời gian trong các thủ tục trước khi được cấp giấy chứng nhận ĐKKD.
Sự lạc hậu về cơ sở vật chất kỹ thuật của cơ quan ĐKKD và trình độ chuyên môn
nghiệp vụ của các cán bộ làm công tác ĐKKD còn nhiều hạn chế, gây nhiều phiền hà
cho nhà đầu tư; chưa áp dụng được các tiến bộ khoa học công nghệ trong việc cấp giấy
cuchứng nhận ĐKKD cho các chủ đầu tư. Vì vậy, cần cập nhật thường xuyên các thông
tin, các biểu mẫu, các chính sách ưu đãi, trình tự thành lập doanh nghiệp, các dự án đầu
tư… trên trang web hiệp hội doanh nghiệp hoặc cơ quan quản lý chuyên ngành để thuận
tiện cho các nhà đầu tư có điều kiện tiếp cận thông tin nhanh nhất và thuận tiện nhất.
3.1. Về thủ tục đăng ký thành lập doanh nghiệp
Ngày 03/5/2007 Uỷ ban Nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế đã triển khai cơ chế “Một
cửa liên thông” quy định trách nhiệm của Sở Kế hoạch và Đầu tư, Cục Thuế và Công an
tỉnh cùng phối hợp triển khai thực hiện trong việc giải quyết thủ tục thành lập doanh nghiệp,
cấp giấy chứng nhận ĐKKD, thủ tục khắc dấu, cấp giấy chứng nhận đăng ký mẫu dấu; cấp
mã số thuế ở tỉnh. Thời gian thực hiện tất cả các thủ tục liên quan đến ĐKKD chỉ mất 6
ngày, 2 lần đi lại (lần nộp hồ sơ và lần nhận kết quả), chỉ kê khai một lần và đến 1 nơi duy
nhất là “Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả” tại Sở Kế hoạch và Đầu tư. So với trước đây, để

137
thực hiện các yêu cầu trên thì tổ chức, cá nhân phải mất 17 ngày, 10 lần đi lại, kê khai 3 lần
và phải đến 3 đơn vị khác nhau. Đây là mô hình có thời gian giải quyết ngắn nhất, được
công dân và doanh nghiệp đồng tình và đang tiếp tục triển khai áp dụng quy chế mới theo
thông tư liên tịch 05/2008/TTLT/BKH-BTC-BCA ngày 29/7/2008 hướng dẫn cơ chế phối
hợp giữa các cơ quan giải quyết đăng ký kinh doanh, đăng ký thuế và đăng ký con dấu đối
với doanh nghiệp thành lập.
3.2. Về vấn đề đặt tên doanh nghiệp và quản lý về đặt tên doanh nghiệp
Việc đặt tên doanh nghiệp trùng hoặc gây nhầm lẫn với tên của doanh nghiệp đã
đăng ký có chiều hướng gia tăng ở tất cả các địa bàn. Các doanh nghiệp hoạt động kinh
doanh không chỉ tìm kiếm địa bàn, bạn hàng, ký kết hợp đồng và tiêu thụ sản phẩm trên
phạm vi một địa bàn mà mở rộng trong phạm vi nhiều địa bàn cả trong và ngoài nước.
Không quản lý được việc đặt tên cho các doanh nghiệp gây nhầm lẫn và trùng lắp ở các
địa bàn sẽ gây ảnh hưởng đến chủ thể kinh doanh, nhà đầu tư mà còn gây ảnh hưởng
đến người tiêu dùng. Nguyên nhân của thực trạng trên là do thiếu hệ thống tra cứu tên
doanh nghiệp. Các doanh nghiệp, các nhà đầu tư không biết tìm ở đâu để kiểm tra tên
doanh nghiệp của mình có bị trùng hay nhầm lẫn với tên của doanh nghiệp khác đã
đăng ký hay chưa khi lập hồ sơ ĐKKD.
Hiện nay, tại địa bàn thành phố Huế, việc quản lý vấn đề đặt tên cho doanh nghiệp
thuộc thẩm quyền và trách nhiệm của Sở Kế hoạch Đầu tư. Tuy nhiên, Sở chỉ quản lý các
doanh nghiệp trong phạm vi địa bàn của Tỉnh. Hiện nay, chưa có mạng lưới để cung cấp
thông tin một cách có hệ thống và tránh trùng lắp ở các tỉnh thành khác nhau trên phạm vi
cả nước. Trong khi doanh nghiệp hoạt động kinh doanh không chỉ bó hẹp trong phạm vi
của một tỉnh thành mà có thể tìm kiếm thị trường, có các quan hệ với các đối tác, cũng
như mở rộng hoạt động của mình dưới hình thức thành lập chi nhánh và văn phòng đại
diện tại các tỉnh khác. Mặt khác, một khó khăn của cơ quan ĐKKD ở Việt Nam là chưa
quản lý được tên doanh nghiệp một cách đồng bộ, hiệu quả và hậu quả là đã xảy ra nhiều
tranh chấp về tên doanh nghiệp. Cơ quan có thẩm quyền còn gặp nhiều khó khăn trong
việc quản lý đăng ký kinh doanh khi các doanh nghiệp đặt tên doanh nghiệp… không có
các thông tin hệ thống để biết được bao nhiêu doanh nghiệp với loại hình đó tồn tại và ở
các địa bàn khác có sử dụng tên gọi như doanh nghiệp đăng ký không; Do đó, đòi hỏi cơ
quan quản lý phải có một bức tranh tổng quan về doanh nghiệp, về tên doanh nghiệp và
loại hình hoạt động kinh doanh mới tạo điều kiện thuận tiện và nhanh chóng trong thủ tục
thành lập và cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh cho doanh nghiệp, đồng thời bảo
vệ quyền lợi hợp pháp cho các chủ thể kinh doanh trên thương trường.
Quy định về cơ chế “một cửa liên thông” nhưng sự phối hợp giữa các cơ quan
chưa đồng bộ, phòng ĐKKD thuộc Sở kế hoạch và Đầu tư tỉnh Thừa Thiên Huế đã áp
dụng cơ chế này để cấp giấy chứng nhận ĐKKD cho doanh nghiệp nhưng cơ quan công
an chưa uỷ quyền hoàn toàn công tác làm dấu cho cán bộ phòng ĐKKD mà cử cán bộ
đến làm việc thứ 2, thứ 4 và thứ 6 hàng tuần.

