
1
Báo cáo cho Hội thảo CFM
**********
Dự án CARD 027/06 VIE
Tăng cường kỹ năng và cải tiến công nghệ cho các xưởng xẻ quy mô nhỏ
vùng nông thôn Việt Nam
Chế biến, bảo quản và sử dụng gỗ rừng trồng
Philip Blackwell: University of Melbourne, AVI and FSIV
Pham Duc Chien: Forest Science Institute of Vietnam (FSIV)
Tổng quan về công nghiệp xẻ Việt Nam
Ngành công nghiệp xẻ của Việt Nam bao gồm các xưởng xẻ quy mô nhỏ phục vụ việc
xẻ các loại gỗ sẵn có và một số cơ sở lớn phục vụ việc xẻ gỗ nhập khẩu hoặc các loại
gỗ đặc biệt. Các cơ sở xẻ này sử dụng các loại thiết bị giống nhau, phần lớn sử dụng
cưa vòng nằm sản xuất tại Việt Nam. Một số cơ sở sử dụng cưa vòng đứng. Sự khác
nhau giữa hai loại cưa này là cưa vòng đứng được lắp đặt cố định và cây gỗ được đẩy
vào để xẻ trong khi cưa vòng nằm thì được lắp đặt chuyển động trên 1 giá đỡ nhưng
cây gỗ xẻ lại được cố định.
Cả hai loại cưa đều chủ yếu xẻ theo phương pháp tiếp tuyến, gọi là xẻ phẳng.
Phần lớn các tấm ván được xẻ theo phương pháp tiếp tuyến (ván xẻ có các vòng năm
nằm nghiêng một góc nhỏ hơn 450 so với mặt ván), trong khi một số lượng nhỏ được
xẻ xuyên tâm (Vòng năm của ván lớn hơn 450 so với mặt ván), và là phương pháp áp
dụng để xẻ các loài gỗ khó sấy hoặc hoặc sinh trưởng lệch.
Sau khi được xẻ, các tấm ván được cắt bìa, cạnh bằng một cưa vòng (phần gỗ
loại: phần gỗ bìa, gỗ sát vỏ có hoặc không có vỏ) để đạt được các kích thước mong
muốn.
Các cơ sở cưa xẻ rất khác nhau trên toàn thế giới. Theo tiêu chuẩn Châu Âu,
các cơ sở xẻ của Việt Nam rất tốn sức lao động để vận hành nhưng giá cho việc thiết
lập một cơ sở xẻ thì rất rẻ. Một cơ sở xẻ của Úc hoặc Mỹ có thể tới 5 triệu đô la với
công suất 50.000m3 trên năm nhưng chỉ sử dụng vài nhân công. Nếu so sánh, các

2
xưởng cưa xẻ Việt Nam có hiệu quả kinh tế cao nếu tính toán khoảng cách từ xưởng
xẻ tới nguồn gỗ và chiều dài của đất nước.
Kết quả khảo sát về chế biến gỗ Việt Nam
Kết quả khảo sát cho thấy ngành chế biến gỗ vùng nông thôn đã phát triển rất nhanh
từ thập kỷ trước cùng với sự thành thục của các rừng trồng các loài keo. Các kết quả
điều tra là khá giống nhau ở các miện: Miền Bắc, Miền Trung, và Miền Nam. Nhiều
cơ sở mở rộng sản xuất do kết quả của chính sách thị trường mở, lao động rẻ, nguyên
liệu rẻ, thiết bị rẻ, đã giải quyết vấn đề xẻ gỗ rừng trồng có đường kính nhỏ, và các
các xưởng xẻ vùng nông thôn đã vận hành khá thành công công việc kinh doanh, tạo
ra nhiều lợi ích cho cộng đồng địa phương.
Câu hỏi đầu tiên được nêu lên là liệu các thiết bị hiện tại có hoàn thành được
các mục tiêu đề ra, và có cần thiết phải mua các thiết bị mới tốt hơn. Cho một giai
đoạn ngắn và trung bình, câu trả lời là không. Hiệu suất của xưởng xẻ (tỷ lệ từ gỗ tròn
sang gỗ xẻ) rất cao, chứng minh một điều là chất lượng gỗ tròn khá tốt và chất lượng
làm việc của máy xẻ là chấp nhận được. Tuy nhiên, nếu các thiết bị được cải thiện
hơn, năng suất lao động sẽ tăng lên. Câu hỏi thứ hai được nêu ra là là nguyên nhân gì
khiến rất nhiều các xưởng xẻ không sử dụng hết công suất của mình. Thiết bị hỏng
không phải là nguyên nhân lớn dẫn tới việc xưởng cưa làm việc dưới công suất;
nhưng nguồn cung cấp nguyên liệu và thị trường không ổn định là nguyên nhân chính.
Xưởng cưa có đầu tư cao sẽ làm làm nguy cơ này thêm trầm trọng. Tiền đầu tư thiết
lập một cưa vòng nằm ở Việt Nam là khá thấp, khoảng 3-4.000 đô la. Thực tế là các
xưởng cưa không hoạt động hết công suất nhưng khấu hao thiết bị vô hình không quan
trọng, trong khi việc đầu tư các thiết bị hiện đại vẫn tiếp tuc. Điều này thay đổi bản
chất kinh doanh từ đầu tư thấp, vùng nông thôn, không liên tục, mùa vụ, và mềm dẻo
tới hoạt động liên tục, lý tưởng là 3 ca. Giá vận chuyển gỗ tròn tới các xưởng cưa lớn
hơn sẽ tăng thêm. Rất nhiều các xưởng cưa nhỏ ở địa phương rất khó mở rộng sản
xuất vì họ không thể mở rộng thêm mặt bằng hoặc xưởng cưa nằm ở gần khu đông
dân cư.
Khảo sát một số cở sở chế biến gỗ tổng hợp ở Miền Trung và Miền Nam thành
lập được 2-3 năm về trước sản xuất đồ mộc cao cấp cho xuất khẩu, một số điểm rất
đáng chú ý như sau:

3
Đầu tiên, có một mức độ cao về an toàn lao động và bảo vệ sức khoẻ cho công
nhân. Thứ hai, gỗ tròn của một số loài (sồi, beach...) chất lượng rất cao từ Đức, Nga,
Hồ đào và Thông từ Mỹ, Teck từ Philipin, và gỗ rừng tự nhiên lá rộng từ Nam Mỹ...
được nhập vào Việt Nam làm nguyên liệu cho sản xuất đồ mộc cao cấp. Thứ ba, một
số hệ thống máy tính hiện đại kiểm soát thiết bị sản xuất (trong một cơ sở có giá trị
khoảng 80 triệu đô la Úc) đã được nhập khẩu vào để sản xuất đồ mộc cho xuất khẩu.
Tuy nhiên, xưởng xẻ có các cưa vòng nằm Việt Nam (trong 1 trường hợp, 20 cưa
vòng nằm được lắp đặt trên một dãy) phục vụ việc xẻ gỗ tròn có chất lượng cao thành
gỗ xẻ có chất lượng cao phục vụ việc sản xuất đồ mộc. Rõ ràng là có thể xây dựng
được cơ sở chế biến trị giá 2-5 triệu đô la Mỹ và lắp đặt hệ thống này. Các quyết định
như vậy cần được cân nhắc vì chưa đề cập tới giá trị của 21 cưa vòng nằm cùng chi
phí lắp đặt, cùng tiền thuê nhân công địa phương. Việc cải thiện có thể được thực hiện
được với các loại cưa Việt Nam và điều này được trình bày ở một báo cáo khác. Thứ
tư, sấy cưỡng bức, xử lý gỗ, và kỹ thuật sấy không khí đã được thiết lập.
Chính phủ không hỗ trợ về tài chính để làm giảm chi phí cho việc thiết lập một
xưởng xẻ. Chi phí cho việc thiết lập một xưởng cưa là khá thấp và tốt hơn là nên để
theo thị trường. Tuy nhiên, cùng với thời gian cuộc khảo sát được tiến hành, khảo sát
các lò sấy cũng được thực hiện. Rất nhiều các lò sấy được nhập nội với chất lượng rất
cao. Thêm vào đó, các lò sấy sản xuất tại Việt Nam từ các lò được thiết kế tốt đáp ứng
các yêu cầu của sấy keo và bạch đàn, tới các lò sấy có chất lượng thấp. Tuy nhiên, sự
vận hành của các lò sấy này chưa được hiệu quả do chưa làm đúng các nguyên tắc cơ
bản của sấy gỗ, và không sử dụng thiết bị giám sát chuẩn (ví dụ sử dụng nhiệt kế ẩm)
để đảm bảo quá trình sấy gỗ diễn ra đúng theo lịch trình. Nói một cách khác, sấy
cưỡng bức sử dụng một lò “hộp nóng” hơn là sử dụng thiết bị kiểm soát chuẩn. Điều
này sẽ dẫn tới việc sấy hỏng, độ ẩm gỗ không đều/sấy quá. Đây là vấn đề cần được
đào tạo do phần lớn các lò sấy được phỏng vấn đề có thiết bị kiểm tra độ ẩm qua nhiệt
kế ẩm nhưng vẫn không làm việc hiệu quả. Phần lớn các lò sấy đều dùng sai vách
ngăn. Điều này dẫn tới việc sử dụng năng lượng không hiệu quả, và độ ẩm gỗ sẽ
không đều trong các tấm ván và giữa các tấm ván khi kết thúc quá trình sấy. Thêm
vào đó, các lò sấy đều không có chế độ sấy riêng cho từng loài. Có hay không các lò
sấy tốt nhất đang được sử dụng ở điều kiện Việt Nam cũng là một vấn đề cần thảo
luận (vấn đề nghiên cứu và chuyển giao công nghệ). Trong khi rất nhiều các chủ
xưởng cưa khi được hỏi cho rằng sấy gỗ có rất nhiều cơ hội, nhưng có một thực tế là

4
không phải xưỏng cưa nào cũng có thể tự xây dựng và vận hành được một lò sấy. Sấy
không khí đòi hỏi kỹ thuật tốt, nhưng cũng rất ngạc nhiên ở đây là không có nhiều các
xưởng cưa ứng dụng sấy không khí. Mặt bằng hạn chế là một vấn đề khi các xưởng xẻ
muốn sấy bằng không khí. Cũng có một câu hỏi là làm giảm độ ẩm gỗ bằng phương
pháp sấy không khí tối đa được bao nhiêu. Có thể độ ẩm này bằng hoặc thấp hơn điểm
độ ẩm bão hoà một chút.
Việc sử dụng công nghệ sấy dùng năng lượng mặt trời là sự lựa chọn có tính
khả thi và kinh tế. Các kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng việc tiết kiệm năng lượng ở các
lò sấy này là rất lớn. Các vấn đề này cùng các khuyến nghị sẽ được trình bày ở một
báo cáo khác để cải thiện ngành sấy gỗ. Chất lượng sấy là điều kiện tiên quyết để sản
xuất đồ mộc chất lượng cao. Rất nhiều các xưởng xẻ nhỏ vùng nông thôn có kế hoạch
mở rộng sản xuất bằng cách sản xuất đồ mộc, và như vậy nhu cầu về sấy gỗ ngày càng
tăng lên.
Biến màu, mục, và côn trùng phá hại gỗ là các vấn đề rất quan trọng ở Việt
Nam do điều kiện thời tiết nóng ẩm, mư nhiều. Ngay sau khi cây được hạ, nó trở
thành đối tượng của các tác nhân phá hại. Bài học ở đây là cây chỉ nên được chặt khi
đã có kế hoạch tiêu thụ phù hợp với thời gian lưu bãi hợp lỹ. Cả khảo sát và đánh giá
chất lượng gỗ lưu bãi chất lượng sản phẩm cuối cùng chỉ ra nhiều vấn đề. Biến màu
xảy ra phổ biến ở gỗ tròn. Thông và cao su là hai loại gỗ đặc biệt hay bị biến màu hơn
các loại gỗ keo và bạch đàn. Nhưng biến màu vẫn là một vấn đề với các loài này.
Ngòai việc lưu gỗ ở bãi gỗ chờ vận chuyển, các xưởng xẻ cũng lưu gỗ ở cơ sở của
mình; nhu cầu trong một số trường hợp đặc biệt cần phải xử lý gỗ để loại bỏ sự biến
màu và mục gỗ. Một khối lượng lớn gỗ keo được sử dụng để đống đồ mộc, và kết quả
khảo sát cho thấy thị trường này vẫn đang phát triển và thay thế cho việc sử dụng gỗ
keo sản xuất các sản phẩm có giá trị thấp như bao bì, hộp, crates vv. Rất nhiều độ gỗ
nội địa sử dụng sơn sẫm cho sản phẩm của mình. Đây là một phương pháp giải quyết
sự biến màu của gỗ. Tuy nhiên, khi thị trường mở rộng, xu thế thị trường muốn giá trị
của các loài gỗ được bộc lộ. Đây là trường hợp sợi gỗ ngắn cao su được xuất khẩu.
Thị trưonừg yêu cầu có màu nhạt. Xuất khẩu gỗ cao su chắc chắn phải xử lý bảo quản
để loại trừ biến màu gỗ. Mười năm về trước, điều này xử lý này sử dụng PCP nồng độ
cao (Pentachlorophenol – (5%) mixed with borax- (1.5%). Hiện này, PCP không còn
được sử dụng, xử lý hiện tại chú trọng tới việc sử dụng axit cộng borax, các chất
không làm hại tới con người và môi trường, mặc dù chất này cũng khá có hại cho cá.

5
Khi mà sử dụng gỗ keo cho sản xuất đồ mộc, xử lý bảo quản không phải là vấn đề
quan tâm nhất đối với các xưởng xẻ.
Chuyến thăm một cơ sở xử lý gỗ ở Miền Nam cho thấy cơ sở xử lý gỗ rất tinh
vi. Nguời chủ rất quan tâm tới tiềm năng của thị trường. Một báo cáo riêng sẽ trình
bày nhu cầu về nghiên cứu và đào tạo, cơ hội của thị trường tiềm năng cho gỗ xử lý,
gỗ tròn cho xây dựng, nhưng cũng có thiết kế của một cở sở sử lý gỗ đơn giản mà các
chủ xưởng cưa có thể sử dụng được mà không làm tổn hại tới con người và môi
trường.
An toàn lao động là vấn đề vô cùng quan trọng ở các xưởng cưa. Các vấn đề an
toàn lao động đã được đánh giá, báo cáo, và đề xuất để cải thiện điều kiện làm việc.
Trong khi an toàn lao động liên quan tới việc sử dụng cưa được chú ý, các vấn đề về
bụi và tiếng ồn lại không được chú trọng ở các xưởng cưa. Vấn đề sức khoẻ lâu dài
(mũi, phổi, tai, mắt) nên được quan tâm. Chế tài của Việt Nam liên quan tới OH&S
cần được các chủ cưa thực hiện nghiêm chỉnh. Tập huấn OH&S rõ ràng là một chiến
lược cần thiết để tạo ra sự thay đổi về điều kiện làm việc ở các xưởng cưa. Nhu cầu
đào tạo và nghiên cứu sẽ được trình bày trong một báo cáo riêng rẽ, nhưng cũng là kết
quả của đợt khảo sát. Rõ ràng là từ nhân tố cơ sở của đào tạo về chế biến gỗ, đợt khảo
sát đã xác định được nhu cầu về đào tạo về kinh doanh, kế toán, thị trường và quản lý.
Đợt khảo sát đã cung cấp mộit số thông tin rất có giá trị về nhu cầu cơ bản của các
xưởng xẻ vùng nông thôn Việt Nam. Đợt khảo sát cũng đề xuất cần có thêm khảo sát
để thu thập thêm thông tin về nguồn cung cấp gỗ tròn. Đây là vấn đề cần được thảo
luận bởi các tổ chức lâm nghiệp Việt Nam. Thư hai, nhu cầu thị trường phù hợp cho
các xưởng xẻ cũng cần được phân tích, thúc đẩy. Điều này cần cách tiếp cận cục bộ
hoặc toàn ngành để thu thập thông tin cần thiết, và cuối cùng là thúc đẩy sự phát triển
của các cấu thành của công nghiệp chế biến là sấy gỗ và sản xuất đồ mộc.
Đào tạo
Dự án triển khai các khoá tập huấn với các chủ đề quan trọng về công nghiệp chế biến
gỗ cho các xưởng cưa xẻ vùng nông thôn. Các đợt tập huấn này gồm nhằm truyển tải
tới người học các chủ đề sau:
• Khoa học gỗ
o Sinh trưởng của cây
o Sự khác nhau giữa gỗ cứng và gỗ mềm

