Y SINH HỌC VÀ THÀNH CÔNG TRONG HUẤN LUYỆN VẬN ĐỘNG
VIÊN BƠI TRẺ
Đỗ Trọng Thịnh
Nguyễn Kiều Oanh
Tóm tắt:
Đào tạo vận động viên (VĐV) trẻ luôn sự quan tâm vấn đề cốt lõi
không thể thiếu trong công tác chuẩn bị lực lượng dự bị đào tạo vận động viên
cấp cao. Để đạt hiệu quả cao thành công trong lĩnh vực này, các vấn đề về sự
phát dục trưởng thành con người, các thời kỳ nhạy cảm phát triển tố chất thể lực,
các đặc điểm về khả năng chức phận, đặc điểm tâm lý… Như vậy, Y sinh học tâm
lý luôn luôn có vai trò quan trọng và là một trong những nhân tố quyết định cho sự
thành công trong huấn luyện vận động viên bơi trẻ.
TỪ KHÓA: Vận động bơi trẻ; Thể chất; Tuổi sinh học; Khả năng yếm khí;
Khả năng ra khí; Tâm lý.
Abstract:
The training for young athletes is a core issure and is indispensable in the
preparation of reverve forces and training high level athletes. To achieve high
efficiency and success in this area, the problem about growt and maturity of body
human, the sensitive periods of development of physically, the characteristics
funtions of the body and psychological…So that, biomedical Psychological
always have had role importance and it were one of the factors deciding for the
success in training young swimmer.
KEYWORDS: Young swimmer; Physically; Biological Age; Anaerobic
capacity; Psychological.
Sự phát triển mạnh mẽ của thể thao thế giới trong những năm qua đã cho
thấy, hầu như những thành tích thể thao cao nhất chỉ có thể đạt được nếu những
sở cần thiết của nó được tạo nên ngay từ lứa tuổi thiếu niên, nhi đồng. Do đó, việc
chuẩn bị cho vận động viên (VĐV) một cách lâu dài, hệ thống mục đích
hướng tới những thành tích thể thao cao nhất ý nghĩa cùng to lớn. Mục đích
chính của quá trình huấn luyện đào tạo nhiều năm nhằm phát triển các khả năng
vận động một cách tối ưu, phát triển công suất hoạt động, tiềm năm về sinh học
hiệu quả hoạt động của các chức năng bộ phận thể. Như vậy, để đạt được thành
công trong huấn luyện VĐV trẻ, người huấn luyện viên (HLV) cần phải am hiểu và
2
kiến thức về khoa học huấn luyện cùng với sự nắm bắt về loại hình phát triển,
khả năng tâm lý, diễn biến tập luyện theo các giai đoạn của quá trình huấn luyện
nhiều năm để đưa VĐV đạt tới đẳng cấp cao trên cơ sở, nền tảng của tính chất, đặc
điểm riêng về tốc độ phát triển sinh học của VĐV.
I. SỰ LỚN LÊN. TRƢỞNG THÀNH PHÁT TRIỂN THỂ CHẤT
VĐV
1. Mỗi cá thể đều có thể dự báo được mô hình phát triển thể chất, nhưng tốc
độ phát triển các giai đoạn thiếu niên nhi đồng giai đoạn thanh thiếu niên
từng cá thể lại có sự khác nhau:
giai đoạn thơ ấu cho đến tuổi nhi đồng, trẻ em sphát triển chiều cao
khoảng 6.35%/năm và cân nặng tăng khoảng 1.87 kg/năm.
Tốc độ phát triển chiều cao nhanh nhất đạt được tuổi dậy thì tuổi vị
thành niên.
Các VĐV trong cùng độ tuổi thể khác nhau tới 5 tuổi sinh học, nhất
tuổi vị thành niên. thế, thể tuổi khai sinh cùng 11 tuổi, nhưng tuổi sinh
học thì VĐV này là 10 tuổi và VĐV kia là 15 tuổi. Như vậy, về lĩnh vực thi đấu sẽ
có lợi cho VĐV có độ tuổi sinh học cao.
Chú ý: trong quá trình đào tạo VĐV, cần chú ý tới chu kỳ, nhân tố phát triển
vận dụng linh hoạt vào chương trình tập luyện sao cho phù hợp với sự biến đổi
phát triển thể chất của VĐV. Phải đảm bảo cho VĐV trẻ phát triển đúng theo s
phát triển sinh học, ghi lại những chỉ số phát triển cơ bản ở trước, trong và sau mỗi
năm (hay mùa tập luyện).
2. Thành tích thể bị ảnh hƣởng bởi sự “phát triển trƣởng thành”
của cơ thể. Vì thế, một số VĐV trẻ có thuận lợi hơn so với VĐV khác:
Khởi đầu, sự “phát triển sớm(chín sớm) sẽ thuận lợi về “kích cỡ”
thể, về thể lực thường thành tích tốt hơn sự “phát triển” muộn. Những VĐV
“phát triển sớm” sẽ thành công sớm, họ thuận lợi về sự phát triển thể lực
không nhất thiết phải nâng cao kỹ năng vận động hay đòi hỏi nhiều về năng khiếu.
Ngược lại, các V “phát triển muộn” phải trải qua những yếu kém, thi đấu
không thành công và buồn nản, bởi vì thể chất của hphát triển “chậmso với
những VĐV cùng tuổi.
tuổi vị thành niên sự “vụng về”, đó do sự phát triển thể chất nhanh
làm ảnh hưởng tới sự khéo léo trong hoạt động vận động, nhất đối với những
vận động viên “phát triển sớm”.
3
Những VĐV “phát triển muộn” thường bắt kịp hoặc có thành tích vượt trội
đầu thời kỳ trưởng thành (khi ở giữa tuổi thanh thiếu niên), nhưng việc này chỉ xảy
ra nếu như họ vẫn còn tiếp tục theo thể thao. Một số VĐV bỏ thể thao vì thành tích
kém hoặc thi đấu không thành công và bị loại khỏi đội.
Theo dõi các VĐV nhi đồng “xuất sắc” cấp tiểu học cho thấy, chỉ 25%
số đó còn tiếp tục đạt thành tích xuất sắc nhng năm sau này. Các nhà khoa
học cho biết, thành công sớm không hẳn là dự báo sẽ thành công trong tương lai.
Chú ý: Để giúp cho những VĐV “phát triển sớm” giữ được thành công
trong tương lai giống như các VĐV “phát triển muộn” thì phải thường xuyên theo
sát hcác giai đoạn thành tích skhó đạt thành công cao như giai đoạn
“phát triển sớm”. Thêm nữa, phải thực hiện những bước tích cực đgiữ lại các
VĐV “phát triển muộn”, hãy tạo hội giúp những VĐV này một số thành
công.
3. Sự khác nhau về phát triển thể chất và thời gian “nhanh” của thể
tạo nên sự khác nhau về chiều cao và hình dáng cơ thể ở nam và nữ:
Tốc độ tăng trưởng cao nhất về chiều cao trong khoảng từ 11 -13 tuổi
và ở nam trong khoảng từ 13-15 tuổi.
Sự khác nhau về hormon nam nữ nguyên nhân gây ra sự thay đổi
thể ở giai đoạn vị thành niên, sự thay đổi này có thể tác động, ảnh hưởng ti thành
tích thể thao (có thể tốt lên và có thể kém đi).
Nam có giai đoạn thơ ấu và nhi đồng diễn ra dài hơn nữ. Sự phát triển cơ thể
thể chất của nam phát triển mạnh hơn giai đoạn dậy thì. Nhìn chung. lứa
tuổi trưởng thành, nam tỷ lệ phần trăm về chiều cao lớn hơn, nhất độ dài
của chân.
Chú ý: Ở nam và nữ, quá trình phát triển và lớn lên của cơ thể và thể chất có
sự khác nhau. Cả nam nữ, khi giai đoạn phát triển nhanh” của thể diễn ra
thì đều sthay đổi về thể chất. Điều quan trọng biết vận dụng, tính toán
những sự khác nhau này vào trong huấn luyện khi VĐV tuổi vị thành niên, cũng
như trong quá trình đào tạo họ. sự thay đổi của thể rất ln đôi khi tác
động rất mạnh, điều quyết định là phải có thời gian để V thích hợp được với sự
thay đổi th của họ (về thể chất xúc cảm). Hơn nữa, sự thích ứng với những
thay đổi diễn ra chậm lại sau giai đoạn thay đổi nhanh cũng cần phải thời gian
để VĐV có được thuận lợi của sự thay đổi chậm.
II. NẮM VỮNG SINH HỌC ĐỂ HIỂU SỰ PHÁT TRIỂN THỂ
VĐV
4
Điều quan trọng đối vi huấn luyện viên (HLV) hiểu biết về phát triển
sinh lý học/ sinh vt học của V trẻ, đây là kiến thức để HLV có thể phát huy tối
đa tiềm năng của VĐV. Có ba thành phần sinh lý học chủ yếu phải chịu sự thay đổi
về định lượng thay đổi về định tính trong quá trình phát triển và lớn lên của
thể VĐV. Các thành phần này gồm khả năng ưa khí, khả năng yếm khí, sức
mạnh cơ, công suất và sức bền.
1. Khả năng ƣa khí:
- V02 max, khả năng hấp thụ, vận chuyển sử dụng oxygen. Đây
thông số chung dùng để đánh giá khả năng ưa khí.
- V02 max phát triển mạnh nữ 11=13 tuổi nam từ 12-14 tuổi. Đây
thời gian chính để phát triển khả năng ưa khí (thời kỳ nhạy cảm), cần phải tăng
cường rèn luyện tối đa khả năng này trong chương trình huấn luyện để phát triển
tiềm năng hoạt động trong thời gian dài cho VĐV.
- VĐV ở tuổi tớc dậy thì, cần phải cải thiện khả năng hoạt động vận động
trong thời gian dài, cường độ thấp để VĐV có thể nâng cao việc sử dụng khả năng
ưa khí của bản thân.
Đề nghị: HLV cần tối ưu hóa việc tập luyện ưa khí trong thời kỳ “nhạy
cảm” (11-13 tuổi ở nữ và từ 12-14 tuổi ở nam) để phát triển tối đa khả năng ưa khí
cho VĐV. Với VĐV tuổi trước dậy t(nữ từ 9-12 tuổi và nam từ 9-14 tuổi) tập
trung vào các cự ly dài để vừa rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo trong bơi vừa rèn
luyện khả năng ưa khí.
2. Khả năng yếm khí
- Khả năng yếm khí gồm bởi cường độ cao ở những đoạn ngắn
- Khối lượng tạp luyện yếm khi cao tuổi trước dậy thì không ý nghĩa
cải thiện khả năng yếm khí lâu dài cho VĐV trẻ (10-13 tuổi). Chỉ sau một thời gian
ngắn, khả năng này sẽ bị giảm sút.
- Tuy nhiên, khối lượng tập luyện ưa khí trong giai đoạn này sẽ nâng cao
thành tích ở các cự ly ngắn chứ không phải chỉ ở các cự ly dài.
- Tăng tải trọng tập luyện yếm khí sớm sẽ dn đến kém thích nghi VĐV
trẻ. - Từ từ tăng tỷ lệ tập luyện yếm khí bắt đầu từ tuổi 12-14 nữ từ tuổi
13-15 nam sphát triển tối đa khả năng yếm knâng cao thành tích. Nhưng
điều này chỉ thực hiện được nếu trước đó đã tập luyện tốt về ưa khí.
Chú ý: Trước tiên, HLV cần phát triển khả năng ưa khí cho VĐV, rồi sau đó
từ từ tăng tải trọng tập luyện yếm khí để phát triển tối đa khả năng yếm khí.
3. Sức mạnh cơ, công suất và sức bền:
5
- Một câu hỏi thường được đặt ra là, VĐV trẻ nên tp luyện sức mạnh
hay không? HLV phải biết về sự thích nghi và sự tăng sức mạnh và tác dụng
tối đa của sự tăng sức mạnh ở các VĐV trẻ.
- Sự “chuyển” sức mạnh, công suất và sức bền trên cạn thành thành tích bơi
có thể mất từ nửa nằm tới hai năm.
- tuổi 14-15 lúc xuất hiện sự phát triển lớn lên của thể đạt mức
cao nhất; sự thay đổi về mặt định lượng của xảy ra ng với việc tập luyện phù
hợp. Tuy nhiên, sự thay đổi này không phải đợi nửa năm đến hai năm sau,
được “chuyển” ngay thành sự nâng cao sức mạnh của cơ bắp.
Chú ý: Trước hết phải luôn nhớ, VĐV trẻ không phải người lớn thu nhỏ.
Bởi sự khác nhau về hormon và các vấn đề sinh học giữa trẻ em người
lớn. Khi tập luyện sức mạnh, trem không tăng kích cỡ của cơ, nhưng sự thích
nghi về thần kinh cơ. Chỉ sau khi dậy thì, sự phát triển về kích cỡ, trọng lượng của
mới diễn ra. Phải luôn nhớ rằng, khả năng chuyển” hoạt động của cơ thành tốc
độ bơi mới là điều quan trọng, HLV phải quan tâm tới việc giúp trẻ bơi nhanh hơn.
thế, HLV phải đảm bảo là, tập luyện sức mạnh chỉ để bổ sung hoặc thay đổi
phương thức tập để VĐV hưng phấn hơn mà thôi.
III. ĐẶC ĐIỂM PHÁT TRIỂN THEO CÁC GIAI ĐOẠN TUỔI
Thành tích thể thao được xác định bởi nhiều biến đổi. Hai VĐV có tuổi bằng
nhau, nhưng khả năng không như nhau do sphát triển khác nhau bên trong
thể: độ mềm dẻo, khả năng thăng bằng khả năng phối hợp, thời gian phản
ứng, các thành phần cơ thể, xúc cảm, sức bền…
1. Sự lớn lên và phát triển của cơ thể:
- Sự lớn lên” của cơ thể không diễn ra liên tục ở cùng mức độ, nhưng mức
độ phát triển lớn nhất của cơ thể là ở giai đoạn dậy thì.
- Sự lớn lên” của thể trước tiên là sự dài ra của xương, tiếp theo sự
phát triển của thân và cuối cùng là sự tăng khối lượng cơ bắp.
- Trước 6-8 tuổi, do hệ thần kinh trung ương phát triển chưa đầy đủ, nên
những kỹ năng tâm lý cũng chưa phát triển
- Do lượng hocrmon androgenic còn ít, nên không sự tăng nhanh khối
lượng bắp. thế, các VĐV trẻ tuổi trước dậy tsẽ không sự tăng nhanh
khối lượng ở những cơ tham gia các hoạt động vận động chủ yếu của môn thể thao
mà họ đang tập luyện
- Trên sở vmức độ “chín” trong quá trình phát triển lớn lên của
thể sự khác nhau mỗi giới tính. Dưới đây những chỉ dẫn chung về sự
phát triển của VĐV trẻ qua các giai đoạn.