1
BẢO TỒN VÀ SỬ DỤNG RAU BẢN ĐỊA TẠI VIỆT NAM:
THỰC TRẠNG, THÁCH THỨC VÀ KHUYẾN NGHỊ
Nguyễn Thị Ngọc Huệ 1 Lã Tuấn Nghĩa 2 Hoàng Đình Phi 3
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Trồng rau không chỉ tạo hội việc làm, mang lại thu nhập ổn định cho cộng đồng nông
nghiệp, góp phần cải thiện các điều kiện kinh tế - xã hội còn cung cấp nguồn dinh dưỡng cần
thiết đảm bảo sức khỏe và an ninh dinh dưỡng cho con người. Thật may mắn, các hệ sinh thái nông
nghiệp đa dạng của Việt Nam cho phép sản xuất cả các loài, giống rau nhiệt đới và rau ôn đới. Tính
đến 2011, Việt Nam có 780.000 ha trồng rau, tạo ra 12,28 triệu tấn rau với năng suất trung bình
16,0 tấn/ha[9]. Ngoài các loài rau chính bắp cải, chua, su hào, dưa chuột, ớt, đậu ve các
loài rau ăn lá, còn rất nhiều giống rau truyền thống loài hoang dại, bán hoang dại được duy
trì, canh tác và khai thác tự nhiên để sử dụng tại tất cả các vùng sinh thái nông nghiệp.
Việt Nam sự phong phú đa dạng về tài nguyên rau bản địa, bao gồm rau truyền thống,
rau rừng rau hoang dại. Trong số hơn 800 loài cây trồng đang được sử dụng, khoảng 94 loài
rau đang được sản xuất theo mùa vụ hàng trăm loài rau hoang dại được các cộng đồng dân
vùng sâu vùng xa sử dụng làm thức ăn[6][3]. Việt Nam việc canh tác các loài rau truyền thống,
khai thác rau hoang dại chủ yếu do các hộ nông dân nhỏ lẻ thực hiện và chưa được định hướng
thương mại trong thời gian qua. Tuy nhiên hiện nay, nhiều loài rau bản địa đã và đang trở thành các
đặc sản có triển vọng thương mại thu lợi nhuận cao, như rau Sắng (Melientha suavis L.), rau
Khai (Erythropalum scandens Blume, rau cải Mèo (Brassica juncera L.), rau Báng (Ficus callosa
Willd.), rau Chùm ngây (Moringa oleifera L), rau Rút ((Neptunia oleracea Lour.), dưa Mông(
Cucumis sativus L).... Rau bản địa giàu dinh dưỡng, dễ trồng, chống chịu sâu bệnh tốt và thích nghi
cao với điều kiện sinh thái khắc nghiệt[1][5]. Vì vậy, chúng có thể trở thành các nguồn gen quý cho
việc cải thiện gen của các giống rau trồng, đặc biệt là các loài, giống ở các vùng đang chịu tác động
bởi biến đổi khí hậu. Tại các vùng nông thôn, đặc biệt miền núi, các địa phương hay bị bão lụt
miền Trung, các giống rau truyền thống rau hoang dại giá trị không chỉ làm thực phẩm phục
vụ bữa ăn hàng ngày mà còn là cây dược liệu quí bảo vệ sức khỏe, cung cấp chủ động, trực tiếp cho
các địa phương kinh tế xã hội còn khó khăn. Mặc giá trị như vậy nhưng tính đa dạng độ
phong phú của các loài rau này đang bị giảm sút bởi các tác động của môi trường, chuyển đổi mục
đích sử dụng đất và biến đổi khí hậu. Chính vì vậy, nghiên cứu đánh giá đúng thực trạng bảo tồn và
sử dụng rau bản địa nước ta, từ đó xác định được một số thách thức chính đưa ra c khuyến
nghị nhằm giải quyết các vấn đề tồn tại rất cần thiết hữu ích đối các tổ chức nhân đang
nỗ lực quản sử dụng bền vững nguồn tài nguyên y sức khỏe sinh kế của con người
trong bối cảnh môi trường thay đổi.
II. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Các phương pháp sử dụng trong nghiên cứu: Thu thập tổng hợp dữ liệu liên quan từ các
đơn vị trong hệ thống bảo tồn tài nguyên thực vật quốc gia và từ các công trình liên quan; Phân tích
hệ thống trên quan điểm đa ngành được vận dụng để phân tích, đánh giá hiện trạng bảo tồn và sử
dụng tài nguyên rau bản địa, từ đó đưa ra một số thách thức và khuyến nghị.
III. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1. Giá trị và đa dạng sử dụng của rau bản địa Việt Nam
Ngày nay, cùng với sự gia tăng về nhận thức và trình độ dân trí, nhu cầu tiêu thrau xanh, đặc
biệt rau an toàn, ngày càng gia tăng. Mặt khác, những thách thức về biến đổi bất thường của khí
hậu, sự suy giảm độ phì của đất, skhan hiếm của nguồn nước tưới nguy cơ ngày càng cao của
1 Hội giống cây trồng Việt Nam
2 Trung tâm Tài nguyên Thực vật, VAAS
3 Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội.
2
suy thoái môi trường do sử dụng quá nhiều thuốc bảo vệ thực vật phân hoá học đòi hỏi phải
tăng cường phát triển rau bản địa bao gồm các giống rau truyền thống, rau rừng, rau hoang dại
khả năng thích nghi cao, cần đầu tư ít về phân bón hoá học và thuốc bảo vệ thực vật lại rất đa dạng
theo giống/ dạng, loài, mùa vụ, cách trồng và chế biến. [9].
Ưu thế của rau truyền thống, rau hoang dạigiàu vitamin, khoáng chất và protein, thích nghi
với đất khô hạn, bạc màu, kháng sâu bệnh tốt, nên hạn chế được việc sử dụng a chất, th
trồng theo cả phương thức quảng canh thâm canh. Hầu hết các nhà khoa học các chun gia
dinh dưỡng đều đồng ý rằng các loại thực phẩm từ thực vật tốt cho sức khoẻ con người, đặc biệt
các loại rau. Trong đó, các loại rau tự nhiên nhiều dinh dưỡng hơn những loại rau cùng loài
được trồng trong vườn nhà. Chúng thường tlệ các axit béo omega-3 cao hơn rất nhiều so với
các loại rau trồng (Michael Polla, 2008)[5]. Những loại rau y khả năng tự bảo vệ trước sâu
bệnh mà không cần bất cứ sự trợ giúp nào của con người nên chúng là rau sạch-rau an toàn.
Đối với đa số người Việt Nam, rau bản địa đã được người dân nông thôn khai thác sử dụng
từ lâu đời. Trong cuộc sống thường nhật, rau bản địa thể được sử dụng bằng nhiều cách năn
sống, luộc, nấu canh, chiên hoặc trộn xalat. Chúng cũng thể được muối chua hay đóng hộp. Rất
nhiều loài hoang dại được sử dụng làm rau “dân dã’, rau đặc sản, rau gia vị còn những vị
thuốc. Rau bản địa không chỉ có giá trị dinh dưỡng cho sức khỏe, giá trị kinh tế cho người trồng mà
còn có giá trị văn hóa. Chính vì vậy có một số cách tiếp cận với đa dạng sử dụng rau bản địa:
Đa dạng sử dung theo dân tộc văn hóa m thực: Nước ta nơi sinh sống của 54 dân tộc
anh em. Tuỳ thuộc vào đặc điểm của mỗi dân tộc, họ thường trú trong một môi trường sinh thái
nhất định, các dân tộc Kinh, Thái, Lào, Lự... sống ở các vùng thấp, còn các dân tộc Mông, Dao, Hà
Nhì, Phù Lá,... sống các vùng núi cao. Do vậy, mỗi dân tộc cũng cách sử dụng các giống rau
truyền thống, rau hoang dại khác nhau phù hợp với điều kiện tự nhiên phong tục tập quán, tín
ngưỡng của dân tộc đó. Chẳng hạn, nhóm dân tộc Thái - Mường ở Tây Bắc thường đồ rau rừng n,
làm nộm. Họ còn món canh đặc sản chế biến từ dọc khoai bông, cần rừng mọc ven suối các
loại măng rừng. Nhóm dân tộc y Nùng Việt Bắc sử dụng măng rừng muối chua với hạt móc
mật ớt, rau ngót rừng nấu canh; rau bkhai để xào, nấu canh; cây móc mật dùng ăn sống (lá
non) hay làm gia vị xào rán (quả, lá bánh tẻ ). Trong khi nhóm dân tộc Cao Lan Sán Chay ở Đông
Bắc hay sử dụng các loại củ mài, củ mỡ nấu canh hay hấp cơm. Còn dân tộc H’mông vùng núi
cao lại thường dùng hạt đậu răng ngựa, đậu mèo, cải mèo, đỏ nấu canh ăn với bánh bột ngô.
Người Kinh khu vực miền trung sử dụng nhiều loại rau gia vị như ớt, cà, cải cay, hoa chuối,
đu đủ xanh, quả vả để chế biến nhiều món ăn lạ hấp dẫn. Trong khi người Kinh đồng bằng sông
Hồng và đồng bằng sông Cửu Long lại sử dụng rất thường xuyên rau muống, rau ngót , giền, rau
sam, mồng tơi, rau đay, rau càng cua, rau ngải cứu, các loại hoa thiên lý, hoa lục bình, hoa so đũa,
hoa súng trong các bữa ăn[10].
Đa dạng sử dụng theo khu vực phân bố canh tác: Sự khác nhau về sinh thái phân bố
canh c của rau bản địa cũng yếu tố dẫn đến sự đa dạng trong văn a ẩm thực. Trong khi
nhiều loài rau bản địa phân bố sinh trưởng khắp các vùng sinh thái địa lý, được canh tác sử
dụng phổ biến như rau muống, rau giền, rau má, mồng tơi, diếp cá, bầu bí, mướp, một số loài,
giống lại chỉ có thể sinh trưởng ở một số khu vực nhất định. Rau bầu đất chỉ mọc được vùng thấp
đồng bằng; chỉ vùng cao có rau cải mèo, cải nương (Brassica juncea ) hoặc các loại măng
(Bamboos multiplex) khai thác từ rừng; rau khai, rau sắng, rau dớn chcó khu vực núi đá vôi
Bắc B; Vùng ven biển nhiều loài họ cà ( Solanum sp.) Dọc mùng(Colocasia odora);
nhóm rau chỉ sống dưới nước như rau ngổ, súng, rau rút (Neptunia eleracea Lour.); nhóm rau
sống nơi ẩm ven bãi sông, hồ, sui, ruộng nước như rau dệu (Alternanthera sessilis L.), cần trời; lại
nhóm rau sống dưới bóng râm trong rừng như rau tai voi(Clerodendrrum infortunantum L.), rau
cánh gà (Strophioblachia fimbricalyx Boerl.)…Chính vì thế hiện nay nhiều loại rau rừng, rau hoang
dại đã trở thành đặc sản của các vùng miền giá trị văn hóa ẩm thực cao. Đến Sa Pa người ta
phải tìm thưởng thức món cải mèo (Brassica juncea L.) xào khô; đến Lạng Sơn, Cao bằng, Bắc
Cạn tìm ăn rau bồ khai; đến Hòa Bình tìm ăn rau beo, rau đốm; đến Ba tìm ăn rau Báng; đi lễ
hội chù Hương chẳng ai không muốn mua rau Sắng (Meliantha suarvis L.); đến Lâm Đồng tìm ăn
lá bép; đến Huế phải mua Vả(Ficus roxburghii Wall.) về làm quà; đến đồng bằng sông Cửu Long ai
3
cũng muốn thử món “lẩu mắm” với đa dạng các loài rau bản địa như rau ngổ, rau rút, rau
đắng(Bacopa monnieri L.), hoa so đũa, súng, lục bình, ngó sen, bạc hà, càng cua, khổ qua, tía tô,
hẹ, hành tăm…
Bảng 1. Một số loài rau bản địa có giá trị làm thuốc ở Việt Nam
TT
Tên khoa học
Tên tiếng
Việt
Phần sử
dụng
Công dụng
1
Meliantha suervis L.
Rau Sắng
Lá, ngọn, hoa
Bổ dưỡng, chữa bệnh giun,
đường ruột
2
Erythropalum scandens
Blume
B Khai
Lá, chồi
Chữa bệnh về thận, sốt, tê
thấp, viêm gan siêuVT.
3
Gynura procumbens L.
Merr
Bầu Đất
Lá, ngọn
Chữa lợi tiểu, tiểu đường,
tiêu viêm, nhiễm độc
4
Ficus callosa Willd.
Rau Báng
Ngọn lá, quả
B dưỡng, chữa dị ứng da
5
Polyscias fruticosa L.
Harms
Đinh Lăng
Cả cây
Thuốc bổ, lợi tiểu, lợi sữa,
chữa phong thấp.
6
Blumea lacera F. Burm
Cải trời
Cả cây
Giải độc, tiêu viêm, tán uất
7
Moringa oleifera Lam
Chùm ngây
Lá, quả
Bổ dưỡng, phù nề, kiết lị
8
Amaranthus spp.
Rau Giền
Thân,
Bổ máu, Chữa táo bón
9
Artemisia vulgaris L.
Ngải Cứu
Cả cây
Chữa sẩy thai, viêm khớp.
10
Momordica charantia L.
Mướp đắng
Quả
Chữa đường ruột, giải nhiệt
11
Houttuynia cordata Thunb
Diếp Cá
Cả cây
Chữa táo bón, đau tai.
12
Eryngium foetidum L
Mùi Tàu
Cả cây
Rối loạn tiêu hóa, cảm mạo
13
Telosma cordata Merr.
Thiên Lý
Hoa, lá
Trị mất ngủ, giải khát
14
Peperomia pellucida
Konth
Càng Cua
Thân, lá
Trị đau đầu, sốt rét.
Đa dạng sử dụng như rau làm thuốc: Rau bản địa không chỉ rau lành, rau an toàn, nhiều
loại rau còn các giá trdược phẩm được người dân sử dụng như các loại rau thuốc chăm sóc
sức khỏe. Một số ví dụ: Để chữa cảm cúm, buồn nôn, giải độc cải trời( Blumea lacera F. Burm),
tía (Perilla ocymoides L.; điều hòa huyết áp Gừng - Zingiber officinale Rose; Tăng cường
máu, chữa bệnh thiếu hồng cầu: dền chua ( Hibiscus sabdariffa L.), rau giền đỏ( Amaranthus
tricolor L.; Chữa lợi tiểu, tiểu đường, tiêu viêm: rau bầu đất (Gynema procumbens L. Merr), rau má
(Centella asiatica L. Urb); Chữa bệnh đi ngoài, kiết l: Mơ Tam thể - Peaderia tomentosa, chùm
ngây( Moringa oleufera L.); Bổ thận: Rau khai (Erythoparum scandens Blume); chữa biếu cổ,
đái rắt rau rút (Neptunia oleracea Lour.); chữa mắt đỏ, viêm gan, nhức mỏi: rau đắng biển
(Bacopa monnieri L.)… Nhiều bài thuốc gia truyền cũng được tạo ra từ những cây rau dân dã.
Sử dụng rau bản địa trong bối cảnh biến đổi khí hậu: Những tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu
Việt Nam đã được các nhà khoa học trong nước quốc tế dự đoán cảnh báo. Do đó, một số
giải pháp đồng bộ phù hợp đã được đxuất để hạn chế tổn thất vsản xuất nông nghiệp thích
ứng với biến đổi khí hậu. Trong đó giải pháp sử dụng tài nguyên sinh học tại chỗ, hướng đến việc
chọn lọc và sử dụng đa dạng các loài, giống cây chịu hạn, chịu úng ngập, chịu mặn tại các vùng có
điều kiện khắc nghiệt rất được quan tâm. Rau bản địa đáp ứng được yêu cầu đó vì chúng là các loài
thực vật sức sống mãnh liệt, tính thích nghi cao với điều kiện môi trường khắc nghiệt, biến
đổi. thế đánh giá sử dụng hiệu quả nguồn gen rau bản địa sẽ góp phần duy trì phát triển
bền vững nông nghiệp, nông thôn trong cuộc đối đầu với những thách thức của biến đổi khí hậu.
3.2. Hiện trạng bảo tồn rau bản địa
Điều tra thu thập nguồn gen rau bản địa
Trước 2005, điều tra thu thập nguồn gen rau thường được kết hợp trong những chuyến thu
thập chung quĩ gen y trồng của Trung tâm Tài ngun thực vật ( Trung tâm TNTV). Thời gian
đó, hơn 2000 mẫu giống rau gia vị đã được thu thập từ c tỉnh thành trong cả nước. Đặc biệt
trong giai đoạn 2005-2010, tổng số 1.527 nguồn gen rau gia vị đã được thu thập từ khu vực di
dân xây dựng nhà máy thủy điện Sơn La và 289 nguồn gen tại Tây Nguyên [2]. Các nguồn gen thu
4
thập chủ yếu các giống địa phương trong đó nhiều giống truyền thống nhưng không các
loài rau bán hoang dại.
Bảo quản lưu giữ nguồn gen rau bản địa
Lưu giữ, bảo quản chuyển vị (ex situ)
Các tập đoàn bản của các chủng loại rau chính đã được xây dựng từ năm 1996. Các nguồn
gen rau thu thập, chủ yếu các giống rau địa phương bao gồm cả giống truyền thống đã đang
được lưu gibảo quản hạt trong kho lạnh trung hạn trên đồng ruộng. ng năm những mẫu
giống rau sức nẩy mầm sức khỏe hạt giống dưới qui định được nhân mới lại đưa vào bảo
quản theo qui định phù hợp. Hiện nay chưa có ngân hàng gen in vitro cho rau bản địa.
Bảng 2: Số nguồn gen và số loài rau thu thập từ các vùng sinh thái nông nghiệp đang được
lưu giữ bảo quản tại Trung tâm Tài nguyên thực vật (Đến tháng 1 năm 2012)
No.
Vùng sinh thái nông
nghiệp
Số loài
Rau bản địa có sự đa dạng
nguồn gen cao
1.1
1.2
Trung du MN Tây Bắc
39
Bí đỏ, bầu, mướp, cải lá
Trung du MN Đông Bắc
36
Bầu, bí đỏ, bí xanh, cải ,
2
Đồng bằng Sông Hồng
35
Cải, mướp, đậu cô ve, giền
3
Bắc Trung Bộ
39
Cà, Bí xanh, ớt, mướp, giền
4
Nam Trung Bộ
29
, Bí xanh, mướp, ớt
5
Tây Nguyên
30
Bí đỏ, dưa, đậu cô ve
6
Khu vực Đông Nam bộ
162
32
Mướp đắng, cải lá, mướp, cà
7
ĐB Sông Cửu Long
30
Cà, Mướp, dọc mùng, ớt
Số lượng nguồn gen số loài rau được bảo quản lưu giữ tại Trung tâm TNTV trình bày
Bảng 3.2 cho thấy tổng số 4.054 nguồn gen/mẫu giống rau( không kể một số loài cây có củ, đậu đỗ,
cây ăn quả sử dụng làm rau), với khoảng 80% là giống địa phương, truyền thống thu thập từ 7 vùng
sinh thái nông nghiệp khác nhau của Việt Nam hiện được bảo tồn tại Trung tâm TNTV An Khánh,
Hoài Đức, Nội. Trong số các nguồn gen rau đang lưu giữ, một số chi, loài sự đa dạng nguồn
gen cao như đỏ( Cucurbita spp.) trên 450 nguồn gen; cải ( Brassica spp.) gần 400 nguồn gen;
ớt (Capsicum frutescens L.) trên 350; mướp( Luffa cilindrica (L.) Roem ) trên 270; bầu (Lagenaria
siceraria Mol. Stadley) trên 200; xanh (Benincasa hispida) trên 200; ( Solanum melogena L.)
trên 170 nguồn gen; rau giền ( Amaranthus spp.) gần 150, đậu ve (Phaseolus vulgaris L.) gần
200 nguồn gen.
Bảo tồn lưu giữ nguyên vị ( in situ )trong vườn gia đình và trên đồng ruộng
Rau bản địa từ bao đời nay đã được người dân các vùng nông thôn Việt Nam trồng lưu giữ
trong vườn gia đình hay khai thác tự nhiên để phục vụ bữa ăn hàng ngày. Kết quả điều tra điểm của
Hodel et al.(1999) tại 100 vườn hộ 6 điểm của Lâm Đồng, Bình Dương, Đồng Nai, Cần Thơ,
Long An cho thấy tại các tỉnh phía nam tới 142 chủng loại rau khác nhau được lưu giữ để ăn,
trao đổi và bán thêm thu nhập[3]. Kết quả điều tra điểm ở 7 xã thuộc 4 huyện, tỉnh Nho Quan- Ninh
Bình, Nghĩa Đàn- Nghệ An, Thuận An- Bình ơng Châu Thành- Cần Thơ đại diên 3 hệ sinh
thái đồng bằng, trung du và miền núi của Trung tâm TNTV giai đoạn 2002-2004 cũng cho thấy rau
bản địa sự đa dạng về thành phần loài khá cao tại các vùng nghiên cứu, cao nhất hệ sinh thái
trung du( Nho Quan với trung bình 29 loài/vườn), thứ đến đồng bằng (Thuận An Châu Thành
với 28 loài/vườn ), và thấp nhất ở miền núi (Nghĩa Đàn 12 loài/ vườn). Mặc dù vậy, đến trước 2006
chưa có nghiên cứu cụ thể nào về bảo tồn rau bản địa trong vườn gia đình ở nước ta.
Từ năm 2006 đến nay, một số hình bảo tồn tài nguyên thực vật bao gồm cả rau bản địa
trong vườn gia đình đã được thực hiện tại 3 vùng sinh thái đồng bằng, trung du miền núi phía
bắc là Hải Hậu- Nam Định, Kỳ Sơn- Hòa Bình Nho Quan-Ninh Bình. Tại 3 điểm này có hơn 80
5
loài rau truyền thống, địa phương, rau bán hoang dại được người nông dân lưu giữ khai thác sử
dụng phục vụ sinh kế[7]. Trung tâm TNTV đã hỗ trợ kỹ thuật để nhân giống, qui hoạch vườn trồng,
lưu giữ phát triển một số nguồn gen giá trị kinh tế sử dụng cao trong vườn gia đình. Tuy
nhiên, các loài rau bản địa chưa được ưu tiên nghiên cứu phát triển như cây ăn quả và cây có củ.
Huyện Ba Vì, TP. Nội nơi đầu tiên thực hiện nhiệm vụ bảo tồn trên đồng ruộng các loài
rau bản địa, bao gồm các giống rau truyền thống và các loài rau rừng từ năm 2010. Tổng số 25 loài
bao gồm rau truyền thống(15 loài) hoang dại(10 loài) được trồng trên vườn đồi gần rừng
chăm sóc theo phương pháp truyền thống của người nông dân. Một số loài rau rừng đã được nhân
rộng, giới thiệu và thương mại hóa bởi Công ty Cổ phần nông nghiệp và Du lịch sinh thái Ba Vì[4].
Mô tả, đánh giá và tư liệu hóa rau bản địa
Tại Trung m TNTV, tổng số 2923 nguồn gen chiếm 72,1% tổng số nguồn gen rau và gia vị
đang lưu giữ đã được tả đánh giá các nh trạng hình thái nông học theo Biểu mẫu đánh giá do
Trung tâm Tài nguyên thực vật biên soạn trên sở tham khảo tài liệu của Viện Tài nguyên di
truyền thực vật quốc tế (IPGRI) nay Tổ chức sinh học quốc tế( BIOVERSYTY). Từ năm 2009
một số tập đoàn rau như chua, mướp đắng, mướp hổ, đỏ, tím được đánh gthêm tính
kháng một số loài sâu bệnh hại trên đồng ruộng. Tuy nhiên chỉ có trên 25% số nguồn gen rau được
tả đánh giá đầy đủ tất cả các tính trạng thế việc loại bỏ các nguồn gen trùng lặp chưa thực
hiện được, gây khó khăn cho bảo quản. Đây là một tồn tại cần được quan tâm khắc phục.
Các dữ liệu về lịch mẫu giống, về tả đánh giá các đặc điểm nông sinh học đã đang
được tư liệu hóa. sở dữ liệu về nguồn gen rau bản địa đã được thiết lập và tuân theo chế chia
sẻ thông tin quốc gia. Những thông tin bản về nguồn gen rau đang lưu giữ thể tìm thấy trên
Website của Trung tâm TNTV http://www.pgrvietnam.org.vn. [6]
Khai thác sử dụng nguồn gen rau bản địa
Tại Trung tâm Tài nguyên thực vật, An Khánh, Hoài Đức, Nội, các mẫu giống rau truyền
thống, địa phương thông tin liên quan luôn sẵn có để phục vụ miễn phí cho các mục đích nghiên
cứu khoa học học tập. Tổ chức/ nhân nhu cầu thể đến trực tiếp hoặc gửi yêu cầu bằng
thư điện tử. Hàng năm khoảng gần 300 mẫu giống rau được cấp phát cho các mục đích sử dụng
khác nhau như giới thiệu trực tiếp cho sản xuất các nguồn gen rau địa phương tiềm năng tính
thích ứng rộng tại vùng trồng phù hợp; cung cấp cho các đơn vị nghiên cứu chuyên ngành trong
nước để thiết lập tập đoàn công tác, tạo vật liệu cho chọn tạo giống; vật liệu cho nghiên cứu công
nghệ sinh học, làm đề tài luận văn, luận án...
Giai đoạn 2005-2010, một số giống rau truyền thống từ Ngân hàng gen đã được đánh giá,
bình tuyển giới thiệu lại cho vùng sản xuất nguyên sản như bí đá Trái dài Nghệ An, xanh Chữ
Thập Bình Định, mướp đắng Xanh, a trời Hòa Bình, cải mào Hoài Đức, cải nương Hòa Bình
Lạng Sơn, khoai lang ăn ngọn KLR1, KLR3, KLR5. Nhiều giống rau truyền thống của đồng
bằng Sông Hồng như tím Mê Linh, ớt chỉ thiên Quỳnh Phụ, bầu sao Gia Lâm, mướp hương Ứng
Hòa, xanh Sặt, đỏ Hoa Lư, đậu ve Hải Phòng, cải mào Vĩnh Tường, dưa chuột Phú
Thịnh, cải cúc Gia Lâm, cải bẹ Đông Dư, cải củ Thái Bình; rau của miền núi phía bắc như cải mèo,
dưa chuột Sa Pa, cải ngồng, cải xanh lùn… rau của miền Đông Nam Bộ như mướp bản địa, bầu
hồ khổ qua bản địa đã được Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam phục tráng phát triển
tại các vùng nguyên sản như các loại rau đặc sản [8][10].
3.3. Những thách thức trong bảo tồn rau bản địa
Một trong những trở ngại lớn nhất đối với bảo tồn rau bản địa chưa kiểm kê, phân loại thực
vật đánh giá hết được tài nguyên rau bản địa họ hàng hoang dại quan hệ gần gũi với y
trồng tại các vùng sinh thái địa lý của đất nước để định hướng đúng cho bảo tồn chuyển vị hay bảo
tồn nguyên vị.
Tại vùng sâu, vùng xa, nhiều nguồn gen rau truyền thống, các loài rau rừng, rau hoang dại, bán
hoang dại giá trị làm rau dinh dưỡng, rau làm thuốc chưa được điều tra và thu thập. Tri thức bản
địa cũng chưa được nghiên cứu hệ thống hóa đầy đủ. như vậy trước bối cảnh xẩy ra nhiều
thời tiết cực đoan như hiện nay, nguy xói mòn thể mất đi vĩnh viễn nhiều nguồn gen rau
bản địa hoang dại tri thức bản địa liên quan chưa được nghiên cứu đưa vào danh mục bảo tồn
chắc chắn xẩy ra.