NGUYỄN QUỐC ĐẠT Khả năng tăng trọng và cho thịt của bò Laisind ...
1
KHẢ NĂNG TĂNG TRỌNG CHO THỊT CỦA LAI SIND, BRAHMAN
DROUGHTMASTER NUÔI VỖ BÉO TẠI TP. HỒ CHÍ MINH
Nguyễn Quốc Đạt1*- Nguyễn Thanh Bình1 và Đinh Văn Tuyền2
1Trung tâm nghiên cứu và chuyển giao TBKT chăn nuôi - Q.Gò vấp - Tp. Hồ Chí Minh
2Viện Chăn nuôi - Thụy Phượng - Từ Liêm - Hà Nội
*Tác giả liên hệ: Nguyễn Quốc Đạt 1Trung tâm nghiên cứu và chuyển giao TBKT chăn nuôi
Nguyễn Văn Nghi - Q.Gò vấp - Tp. Hồ Chí Minh
Tel: (08) 38 895.804/ 0913.704 095; Fax: (08) 38.958.864; E mail: ttnc2000@hcm.vnn.vn
ABSTRACT
Performance of pure Brahman, Droughtmaster and Lasind crossbred calves (Red Sindhy x Yellow)
under feedlot condition at Ho Chi Minh
A 90 days length experiment was conducted to investigate feedlot performance of 15 male calves of Brahman,
Drought Master and LaiSind breeds (5 calves each). The calves were 18-21 months old and 293-341 kg live
weight at the comencemence of the experiment. Results show that Drought Master calves had the highest ADG
of 1.55 kg/day and the Lasind calves the lowest (0.95 kg/day). However, ADG and feed conversion rate (FCR)
measured every two weeks show that compensatory growth was occurred with ADG decreased (from 1,4-
2,0kg/d for the first records to 0,7-1,1 kg/d for the last measurements) and FCR subsequently increased (from
4,6-5,7 to 7,5-8,6 kg DM/kg LW) as the feedlot progressed. Slaughter parameters indicated that Drought Master
calves had a significantly higher carcass and lean meat percentages (58,1 and 45,5% respectively) as compared
with those of Brahman (54,8 and 42,3%) and LaiSind calves (53,2 and 40,4%). Calculation of economical
efficiency suggested that the present feedlot program could be profitable for Brahman and Drought Master calves
but a shorter feeding period should be applied to Laisind cattle. It could be therefore concluded that Drought
Master calves had the highest feedlot performance among the three breeds and that Lasind calves should not be
put into feedlot longer than 60 days for profitability.
Key words: feedlot, male calves, liveweight gain, feed conversion rate,carcass
ĐẶT VẤN ĐỀ
Cùng với tăng trưởng về mặt kinh tế, mức sống người dân nước ta ngày càng cao, nhu cầu về
thịt nói chung thịt i riêng ngày càng tăng mạnh. Người tiêu dùng hiện nay còn quan
tâm tới chất lượng thịt.Bình quân thịt bò/người/năm của nước ta 1,9 kg (năm 2006), tỷ lệ
thịt bò/tổng lượng thịt hơi tiêu thụ là 5,19% (tương đương 0,85 kg thịt xẻ/người/năm), thế giới
9 kg/người/năm.Các nước phát triển tỷ lệ thịt chiếm 25 30% tổng lượng thịt tiêu thụ
bình quân đâu người. vậy, nâng cao năng suất chất lượng thịt, việc làm cần thiết
nhằm đáp ứng nhu cầu của xã hội.
Công tác lai tạo giống thịt để nâng cao khả năng sản xuất hịt chất lượng thịt thích nghi
với điều kiện nhiệt đới đã được tiến hành nước ta. Từ những năm 1960, chúng ta đã có
chương trình cải tiến để nâng cao năng suất của đàn địa phương bằng các giống Zebu
như: Red Sindi, Sahiwal Brahman. Những năm 1970, ngoài các giống thịt nhiệt đới thì
một số giống thịt ôn đới như: Limousine, Hereford, Simmental, Santa Gertrudis đã
được đưa vào nghiên cứu các công thức lai để ng cao khả năng sản xuất chất lượng
thịt.Năm 2006 đàn nước ta 6,51 triệu con, tốc độ ng đàn 17%. Đàn thịt chủ yếu
giống địa phương; bò lai Zê bu, Red Sindhy, Shahiwal, Brahman, DraughtMaster thuần
chỉ chiếm 32% tổng đàn (Cục Chăn nuôi, 2007Cho đến nay tỷ lệ đàn lai chỉ chiếm
khoảng 32% tổng đàn bò.Chúng ta cũng đã nhập nhân thuần một số giống thịt như:
ViÖn Ch¨n nu«i - T¹p chÝ Khoa häc C«ng nghÖ Ch¨n nu«i -Sè 15-Th¸ng 12-2008
2
Brahman, Droughtmaster.Trong chăn nuôi bò thịt ngoài công tác giống, chăm sóc nuôi dưỡng,
vỗ béo một khâu quan trọng để tăng năng suất chất lượng thịt. Với mục đích đánh giá
khả năng ng trọng cho thịt khi vỗ béo của đàn thuần Brahman Droughtmaster nuôi
tại TP.Hồ Chí Minh, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài này.
VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Địa điểm thời gian
Địa điểm thực hiện: Đội 8 Công ty TNHH một thành viên Bò sữa TP.Hồ Chí Minh - An
Phú, huyện Củ Chi, TP.Hồ Chí Minh.
Thời gian thực hiện: Từ tháng 03/2008 đến tháng 06/2008
Nội dung nghiên cứu
Đánh giá khả năng tăng trọng cho thịt khi vỗ béo của đàn Lai Sind, Brahman
DroughtMaster thuần sinh ra tại TP. Hồ Chí Minh.
bộ đánh giá hiệu quả kinh tế khi vỗ béo thịt bằng nguồn thức ăn sẵn có tại địa phương.
Phương pháp nghiên cứu
Gia súc thí nghiệm
15 đực thuộc 03 giống: Lai Sind, Brahman thuần DroughtMaster thế hệ 1 sinh ra tại
Công ty TNHH một thành viên sữa TP. Hồ Chí Minh, mỗi giống 05 con ở độ tuổi 18 21
tháng.
Gia súc thí nghiệm trạng thái sinh lý, sinh trưởng, phát triển nh thường có khối lượng
cùng nhóm giống chênh lệch không quá 30 kg. Khối lượng bò khác nhau giữa các nhóm
giống lúc bắt đầu thí nghiệm không ảnh hưởng đến kết quả nghiên cứu.
Thức ăn khẩu phần
Bảng 1: Thành phần hóa học các loại thức ăn sử dụng trong thí nghiệm (%VCK)
Loại
DM
Pr-thô
Mỡ
Xơ thô
NDF
ADF
Khoáng
NLTĐ
Cỏ voi 50 ngày
16,20
9,80
1,14
31,55
69,14
43,76
7,31
344
TĂ thừa
18,91
9,45
-
29,38
-
-
8,19
-
Hạt bông
92,48
22,14
18,72
22,17
48,92
32,85
4,06
2.375
Khô dầu bông
91,87
25,25
9,04
24,63
45,63
31,62
4,69
2.363
Sắn khô
87,77
3,16
0,46
2,36
4,12
2,38
1,41
2.586
Rỉ mật
85,13
12,43
2,12
-
-
-
8,79
2.363
Cám Vina
90,79
13,13
6,14
8,88
26,40
12,97
11,35
2.500
Thí nghiệm sử dụng một khẩu phần chung cho cả ba nhóm bò. Khẩu phần được xây dựng từ
các nguồn nguyên liệu sẵn có ở địa phương, protein thô 14% năng lượng trao đổi ≥ 2.500
Kcal/kg VCK (tiêu chuẩn NRC 2002), tỷ lệ tinh/TĂ thô xanh tính theo VCK 70/30. Năng
lượng được ước tính từ thành phần hóa học trong cuốn “Thành phần hóa học giá trị dinh
dưỡng thức ăn gia súc, gia cầm Việt Nam” do Viện Chăn nuôi xuất bản năm 2001.
Khẩu phần ăn được trộn theo dạng thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh (TMR - Totally Mixed
Ration). Gia súc thí nghiệm được cho ăn 2 lần/ngày: 08 giờ sáng 03 gi chiều. Thức ăn
thừa được cân riêng cho từng thể vào 14 giờ và 07 giờ sáng ngày hôm sau.
NGUYỄN QUỐC ĐẠT Khả năng tăng trọng và cho thịt của bò Laisind ...
3
Bảng 2: Tỷ lệ các thành phần nguyên liệu trong khẩu phần thí nghiệm (dạng tươi)
Thành phấn (%)
58,11
5,42
12,74
21,15
0,47
0,45
1,66
15,01
2.546
Các nguyên liệu thức ăn được chuẩn bị đủ cho cả đợt t nghiệm để đảm bảo tính ổn định về
chất lượng của thức ăn. Cỏ xanh cung cấp hàng ngày,căt ngắn 3 5 cm để trộn hoàn chỉnh.
Chúng được gửi phân tích tại Phòng Phân tích Thức ăn Gia c Sản phẩm Chăn nuôi, Viện
Chăn nuôi với các chỉ tiêu: Chất khô, protein thô, mỡ thô, thô, NDF, ADF khoáng tổng
số. Xác định lượng chất khô ăn vào của bò thí nghiệm.
Thiết kế thí nghiệm
Bảng 3: Sơ đồ bố trí thí nghiệm
Chỉ tiêu
Laisind
Brahman thuần
DraughtMaster thuần
Số lượng bò (con)
05
05
05
Tuổi chọn TN (tháng)
19-21
18-20
20-21
Thời gian nuôi chuẩn
bị (ngày
14
14
14
Thời gian nuôi thí
nghiệm (ngày)
84
84
84
Phương thức nuôi
dưỡng
Cá thể, TMR cho
ăn tự do
Cá thể, TMR cho
ăn tự do
Cá thể, TMR cho ăn tự
do
Thí nghiệm thiết kế theo dạng ngẫu nhiên (CRD Completely Randomized Design) một yếu
tố, gồm 03 lô, mỗi 05 con /mỗi nhóm giống bò. thí nghiệm nuôi nhốt thểtheo “Bảng
phân phối ngẫu nhiên” (Trịnh Công Thành, 2001), cho ăn tự do (lượng cho ăn ngày hôm sau
bằng 110% lượng thức ăn ăn được ngày hôm trước). Nước uống sạch, mát tại ng uống.
được tẩy giun sán trước khi tiến hành thí nghiệm/
Thời gian nuôi chuẩn bị thí nghiệm, tăng dần thức ăn tinh trong khẩu phần ăn cho từ 30%
lên 65-70% (tính theo VCK) trong 14 ngày (mỗi 2 ngày tăng 5%). Giảm tỷ lệ thức ăn thô
xanh trong khẩu phần từ 70% xuống còn 30-35% .
Chỉ tiêu theo dõi
Lượng thức ăn thu nhận (kg/con/ngày): Cân lượng thức ăn cho ăn thức ăn thừa hàng ngày
của từng thể riêng biệt.
Chất khô ăn vào = (Thức ăn cho ăn x %chất khô) – (Thức ăn thừa x %chất khô).
Tăng trọng thể thí nghiệm xác định bằng cân điện tử mỗi tuần 01 lần vào 7 giờ sáng
trước khi cho. Lúc bắt đầu, kết thúc thí nghiệm bò được cân 3 ngày liên tiếp để xác định khối
lượng trung bình.
ViÖn Ch¨n nu«i - T¹p chÝ Khoa häc C«ng nghÖ Ch¨n nu«i -Sè 15-Th¸ng 12-2008
4
Chất khô thu nhận: kg chất khô/con/ngày, % chất khô ăn vào theo khối lượng cơ thể.
Hiệu quả sử dụng thức ăn: Tiêu tốn thức ăn (kg VCK)/kg tăng trọng
Đàn vỗ béo 15 con được khảo sát thịt sau khi đã nhịn đói 24 giờ, đánh giá khả năng cho
thịt Tại TP.HCM, thịt tinh được phân thành 3 loại:Loại 1: Thịt của 2 đùi sau, thăn lưng
thăn chuột.Loại 2: Thịt của hai đùi trước, thịt cổ thịt vùng ngực.Loại 3 phần còn lại,
bao gồm thịt phần bụng, hai bên sườn một số phần lọc ra từ thịt loại 1 và loại 2.
Khối lượng thịt xẻ: khối lượng thân thịt (cả hai bên trái phải) sau khi bỏ đầu (cắt tại
xương át lát), bỏ da, bỏ nội tạng (cơ quan tiêu hóa, quan sinh dục, tim, phổi, thận), cắt 4
chân (tại khuỷu). Khối lượng mỡ: Lượng m bao ngoài phần thịt, mỡ trong phần bụng
ngực (không tính mỡ dưới da đã lột).
Đánh giá chất lượng thịt sau vỗ béo trên các chỉ tiêu: Chất khô, hàm lượng protein thô, mỡ,
khoáng tổng số, độ dai của thịt sau giết mổ 12 giờ, 24 giờ, 48 giờ 192 giờ. bộ đánh giá
hiệu quả kinh tế khi vỗ béo bò thịt bằng nguồn thức ăn sẵn có tại địa phương. Hiệu quả kinh tế
được tính toán dựa trên sự chênh lệch đầu về con giống, thức ăn, thuốc thú y, khấu hao
chuồng trại, điện nước, nhân công ..., so với giá trị thu được từ chênh lệch về ng trọng của
khi kết thúc thí nghiệm. Giá các loại nguyên liệu thức ăn giá thịt hơi được tính tại
thời điểm tháng 07/2008. Tại các mổ gia súc TP.HCM Bình Dương, giá được thanh
toán dựa trên số lượng thịt tinh (thịt tuột) nhân với 78.000 đ. Chi phí thức ăn cho bò nuôi thịt
vỗ o tại Công ty TNHH một thành viên sữa TP.HCM chiếm 87% giá thành sản xuất
thịt bò.
Xử lý số liệu
Số liệu được xử lý theo chương trình ANOVA, so sánh các giá trị bằng trắc nghiệm 2 phần
mềm SAS (version 8.0). Sự khác biệt ý nghĩa thống kê theo hàng ngang được biểu thị qua các
tự: a, b, c, d.
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
Khả năng tăng trọng và tiêu tốn thức ăn
Bảng 4: Khối lượng cơ thể bò thí nghiệm (X ± SE)
Chỉ tiêu
Laisind
Brahman
DraughtMaster
GĐ nuôi chuẩn bị + Tuổi (tháng)
Khối lượng (kg)
20,67 ± 0,52
285,40 ± 7,92
18,86 ± 0,73
283,20 ± 4,89
21,66 ± 0,26
318,70 ± 3,66
Bắt đầu thí nghiệm + Tuổi (tháng)
Khối lượng (kg)
21,13 ± 0,52
299,80 ± 8,58
19,33 ± 0,73
293,00 ± 6,50
22,13 ± 0,26
341,60 ± 4,52
Kết thúc thí nghiệm + Tuổi (tháng)
Khối lượng (kg)
23,93 ± 0,52
379,80±11,51
22,13 ± 0,73
392,40±9,95
24,93 ± 0,26
472,00±7,09
Tăng trọng GĐ nuôi chuẩn bị (kg)
Cả GĐ (14 ngày)Tăng trọng ngày
14,40 ± 1,44
1,023 ± 0,103
9,80 ± 2,15
0,700 ± 0,154
22,90 ± 2,24
1,636 ± 0,159
Tăng trọng GĐ nuôi thí nghiệm (kg)
Cả GĐ (84 ngày)Tăng trọng ngày
80,00 ± 4,69
0,952a±0,056
99,40 ± 4,54
1,183b ±0,054
130,40 ± 5,54
1,552c ± 0,066
Các giá trị trung bình trong cùng một hàng có chữ cái khác nhau thì khác nhau với P<0,05.
Khối lượng cơ thể, tăng trọng ngày và tiêu tốn thức ăn của bò trong giai đoạn nuôi chuẩn bị và
thí nghiệm được trình bày trong Bảng 4 và 5.
NGUYỄN QUỐC ĐẠT Khả năng tăng trọng và cho thịt của bò Laisind ...
5
Bảng 4 cho thấy tăng trọng của cả 3 đều rất cao, kể ctrong giai đoạn nuôi chuẩn bị và
thí nghiệm, mặc dù khối lượng bò bắt đầu đưa vào thí nghiệm là rất cao so với các thí nghiệm
vỗ béo trước đây (≈300 kg/con). Cao nhất bò DraughtMaster, đạt 1,552, thấp nhất
Laisind đạt 0,952, trung bình Brahman 1,183 kg/con/ngày. Sự khác biệt về tăng trọng
ngày giữa các lô rõ rệt với mức ý nghĩa P<0,05.
Kết quả này cao n nhiều so với các nghiên cứu trước đây trên lai Zebu lai chuyên
dụng thịt (Lê Viết Ly cs, 1996, Văn Nội cs, 1999, Vũ Chí Cương cs, 2003, Đinh
Văn Cải và cs, 2006). Có thể do sự khác biệt về chất lượng con giống, mức độ ổn định của
nguồn nguyên liệu thức ăn sử dung trong thí nghiệm. Kết quả này tương đương với thí
nghiệm tiến hành tại An Nhơn (Bình Định, 2006) trên Brahman trắng Cu Ba (1,258
kg/con/ngày), bò Laisind và Brahman Australia do Đinh Văn Tuyền và cs, tiến hành tại Tuyên
Quang năm 2007 (0,97 kg cho bò Laisind 1,42 kg/con/ngày cho Brahman thuần. Tuy
nhiên, thấp hơn so với kết quả của Mc Crab G.J.và cs, (2000) trên Brahman thuần tại
Australia (1,9 kg/con/ngày), do thí nghiệm có sử dụng hooc môn sinh trưởng.
Bảng 5: Tăng trọng (kg/ngày) và tiêu tốn thức ăn (TTTA – kg VCK)/kg P↑ (Mean ± SE)
Laisind
Brahman
DraughtMaster
Chỉ tiêu
Theo dõi
P↑
TTTA
P↑
TTTA
P↑
TTTA
1-14 ngày
1,457±0,11
5,67±0,48
1,729±0,08
4,58±0,23
2,014±0,14
4,61±0,30
15-28
1,071±0,11
7,75±0,49
1,457±0,18
6,01±0,66
1,786±0,15
5,67±0,52
29-42
1,071±0,06
7,76±0,56
1,357±0,11
6,55±0,78
1,586±0,07
6,15±0,23
43-56
0,771±0,05
8,35±0,57
0,929±0,05
6,92±0,48
1,486±0,08
6,49±0,40
57-70
0,629±0,05
9,5±2,16
0,829±0,13
7,32±2,34
1,343±0,23
7,26±0,92
71-84
0,714±0,12
8,60±2,58
0,807±0,11
7,50±1,53
1,100±0,11
7,83±0,83
Cả kỳ
0,952±0,06
8.73a±0,86
1,185±0,08
6,90b ±0,68
1,552±0,08
6,29c±0,38
Các giá trị trung bình trong cùng một hàng có chữ cái khác nhau thì khác nhau với P<0,05.
cả 3 thí nghiệm, tăng trọng của bò đều có xu hướng giảm dần, và ngược lại, chi phí thức
ăn cho 1kg tăng trọng tăng dần theo thời gian vỗ béo. Sự khác biệt về chi phí thức ăn cho 1 kg
tăng trọng giữa các rệt với mức ý nghĩa P< 0,05. Thấp nhất DraughtMaster 6,29
kg, cao nhất lai Sind là 8,73 kg, trung bình Brahman 6,90 kg VCK. Kết quả này
phù hợp với quy luật sinh học, tiêu chuẩn ăn của ARC (1984), NRC (2002) khuyến cáo (7,1
10,42 kg) các kết quả nghiên cứu trước đây (Phạm Kim Cương & CS, 2001, 6,3 7,9 kg,
Vũ Chí Cương & CS, 2001, 6,2 – 15,9 kg).
Bảng 6: Lượng TĂ ăn vào, dư thừa (kg/con/ngày) và hiệu quả sử dụng thức ăn (Mean ± SE)
Chỉ tiêu
Lai Sind
Brahman
DraughtMaster
*n
5 con, 84 ngày
5 con, 84 ngày
5 con, 84 ngày
Chất khô ăn vào
8,31a± 0,17
8,18a± 0,15
9,76b± 0,17
Chất khô dư thừa
1,185 ± 0,033
1,169± 0,031
1,209 ± 0,033
Chất khô ăn vào/100 kg P
2,597a± 0,019
2,598a± 0,018
2,629a± 0,020
Protein thô ăn (kg/con/ngày)
1,153a± 0,026
1,132a± 0,023
1,366b± 0,028
*Chất lượng khẩu phần
NLTĐ (Kcal/kg VCK)
Protein thô (g/kg VCK)
2.604±3,849
138,2±0,70
2.603± 3,814
137,9± 0,70
2.617± 3,882
139,3± 0,70
Các giá trị trung bình trong cùng một hàng có chữ cái khác nhau thì khác nhau với P<0,05.