Bể tự hoại cải tiến: Giải pháp xử lý nước thải phân tán
đầy hứa hẹn
Một trong những vấn đề môi trường mà Việt Nam đang phải đối mặt là sự ô
nhim nguồn nước mặt do hầu hết ớc thải chưa được xử lý tốt, đặc biệt tại
các khu n cư đô thị và ng thôn. Chmột phần nước thải từ các khu vệ
sinh được xử bộ bằng bể tự hoại, còn lại được thải trực tiếp vào h
thống cống chung, kênh mương, ao hồ tnhiên. Việc xây dựng các hệ thống
xlý nước thải tập trung mới chỉ được bắt đầu một cách chậm chạp ởc đô
th lớn, chủ yếu do điều kiện tài chính hn hẹp. Do đó, ít nhất trong 20-30
năm tới, xử nước thải sinh hoạt pn tán quy hộ gia đình và cm
dân sgiữ vai trò quyết định trong bảo vệ môi trường đô thị, ven đô và
nông thôn.
Trong khuôn khDán tăng cường năng lực cho CEETIA, do Chính phủ
Thụy Stài trợ, DESA đã được triển khai với mục tiêu cung cấp c kiến
thức khoa học vcác hthống xnước thải phân n, trong đó, tập trung
vào xây dng các giải pháp ng nghệ xử nước thải sinh hoạt phợp,
thay thế bể tự hoại truyền thống một công nghệ phổ biến ở Việt Nam. Các
nghiên cứu được thực hiện công phu hơn 5 năm trong phòng tnghim,
trước khi gần 20 hệ thống xử nước thải sinh hoạt cho hgia đình hoặc
cụm dân cư được DESA thiết kế, lắp đặt, quan trắc và đánh giá. DESA cũng
quan m đến các khía cạnh về quản nước thải pn n. Một snghiên
cứu đã đang được thực hiện, với sự hợp tác của c đối tác trong nước và
quốc tế, xác định tiềm ng và hn chế của các mô hình qun nước thải
theo khía cnh thể chế, tổ chức, i chính, tăng cường ng lực giáo dục
truyền thông.
B t hoại cải tiến với vách nn mỏng (baffled septic tank – BAST)
Bthoại truyền thống là một ng nghệ xử sơ bộ nước thải sinh hoạt
phbiến nhất Việt Nam hiện nay cũng như nhiều ớc khác. Với bể tự
hoại truyền thống, hai qtrình chyếu (lắng và phân hukkcặn lắng)
chcho phép đạt hiệu suất xtối đa theo cặn lửng là 50% và theo chất
hữu cơ COD là 30%. Trên thực tế, rất nhiều bể tự hoại truyền thống cho hiệu
suất xử lý thấp n nhiều, do được thiết kế, xây dựng và quản lý không đúng
quy cách. Nm nghiên cu đã tìm cách cải tiến các bể tự hoại truyền thống
bằng việc thay đi cấu tạo bể, thêm vào các vách ngăn mỏng hướng dòng
chảy thẳng đng trong bể.
hình xnước thải trong phòng thí nghim đã được xây dựng gồm 2
hình: hình A: 6 cột nhựa, phỏng các ngăn dòng chảy hướng
lên của bể tự hoại cải tiến; hình B: 2 cột nhựa, mô phỏng 2 ct lắng của
btự hoại truyền thống. Các cột nhựa chiều cao 1,5 m, đường kính 20
cm. Nước thải được bơm liên tục vào các hình. Lượng khí sinh học tạo
thành được đo bằng các bộ đo khí tđộng hiện số lắp vào hình. Các
vách ngăn mỏng trong A bảo đảm sự tiếp xúc trực tiếp ca dòng nước thải
hướng lên lớp bùn đáy bể nơi chứa quần thể c vi khuẩn kkhí, cho
phép nâng cao hiu suất xử lý.
Trong giai đoạn thực nghiệm từ 11.2004 đến 5.2005, thời gian lưu nước
(HRT) được thay đổi trong khoảng 12 đến 72 giờ, số vách ngăn mỏng từ 2
đến 6 ngăn. Nước thi toilet từ khu ging đường Trường Đi học Xây dựng
là nguồn nước được sử dụng trong nghiên cứu, với hàm lượng COD được
khống chế ~ 500 mg/l, SS nằm trong khoảng 151-618 mg/l. Kết quả cho
thấy:
Hiệu suất xử
Đối với bể BAST, hiệu suất xử trung bình theo CODts, CODlọc SS đạt
được kn định, tương ứng là 58-76%, 47-61% 61-78%, tuthuộc vào
HRT và sngăn của bể. Bể tự hoại truyền thống B làm việc trong điều kiện
tối ưu có hiệu suất xử CODt, CODl và SS thấp n nhiều, giá trtương
ứng là 48-65%, 33-54% và 44-69%.
nh hưởng của HRT
Với HRT = 12-48 giờ, hiệu suất xử theo CODts, CODlọc, SS phụ thuộc
rất nhiều vào HRT. Hiệu suất xử ng khi HRT ng. Khi ng HRT lên
trên 48 gi thì hiệu suất xử theo c CODts, CODlọc hay SS đều ng
không đáng kể. Vic tăng HRT cũng làm quá trình xlý ổn định n, với độ
lệch chuẩn của các giá trhiệu suất xử theo CODts, CODlọc hay SS đều
gim.
Các kết quả cho thấy HRT = 48 giờ là tối ưu nhất đối vi bể BAST. Giá tr
này cũng phù hợp với thông số thiết kế bể tự hoại truyền thống đang được áp
dụng trên toàn thế giới và sliệu cũng cho thấy bể tự hoại cải tiến vách
ngăn mỏng có hiệu suất xử cao hơn bể tự hoại truyền thống cùng dung
ch.
Vai trò của số ngăn trong bể BAST
Biểu đồ hình 3 cho thy khi ng số ngăn trong bể BAST hơn 4 ngăn, với
cùng thời gian lưu nước 48 giờ, hiệu suất x cũng ng kng đáng kể.
Nếu cân nhắc đến cả khía cnh kinh tế và vn hành, bảo dưỡng thì 24 ngăn
là số ngăn được đề xuất lựa chọn cho thiết kế bể BAST.
B t hoại cải tiến vách ngăn mỏng và ngăn lọc kỵ khí (BASTAF) Để
nghiên cứu nâng cao hiệu quả xử lý của bể BAST, nhóm nghiên cu đã tm
một ngăn lọc kkhí vào vtrí ngăn cuối cùng. Kết quả nghiên cứu cho thấy
ngăn lọc với vật liệu là than x hay các quả cầu chế tạo t nhựa i chế
VABCO (kết quả một công trình nghiên cứu khác của PGS Nguyễn Vit
Anh các đng nghiệp) cho phép nâng cao hiệu suất xử của bể trung
bình ~ 10% theo COD SS. Ngăn lọc kỵ khí còn đóng vai trò quan trng
trong việc tránh rửa trôi các chất rắn ra khỏi bể.
Bể tự hoại cải tiến BAST và BASTAF
Kết quả nghiên cu ngoài hin trường
Nhóm nghiên cu đã lắp đặt nhiều bể BAST và BASTAF thnghiệm (pilot)
ngoài hiện trường. Hình 5 cho thy kết quả xử COD SS của bể
BASTAF P-01, lắp đặt tại một hộ gia đình 5 người ở quận Hai Bà Trưng,
Nội. Trong khoảng thời gian nghiên cu từ 2.2003 đến 11.2005, mặc dù
nước thải ttừ toilet nng độ đậm đặc dao đ ng (COD 1.500 4.800
mg/l), nhưng hiệu quả xử lý các chất hữu cơ và chất rắn lửng rất cao và n
định đã đư ợc ghi nhận: 77% (45,9 95,8%) đối với COD và 86,2%
(69,197,3%) đối với SS.
Tm 2002 đến nay, 20 bể BAST BASTAF đã được thiết kế, xây dựng
tại c khu vực nội thành ven đô Nội, Hà Tây, Bắc Ninh, trong đó 14
bể đã đưa vào sử dụng. Các bể này được xây dựng với kích thước khác nhau,
tuthuộc đối tượng sử dụng: Tbể xử nước đen cho các hộ gia đình đơn
lẻ, đến bể xử c thải sinh hoạt cho khu nhà chung cao tầng, trường
học, cụm n cư (một ngõ m), làng ngh nấu rượu, chế biến nông sản, hải
sản… Các kết quả quan trắc thu được từ các bể BAST và BASTAF th
nghim khác nhau, xử nước thải làng nghnấu rượu, chế biến nông sản
thực phẩm, hay xử nước thải hộ gia đình đều cho thấy, đây là ng ngh
rất hiệu quả để xử nước thải, cho phép đạt hiu suất xử theo COD, SS
và các chtiêu khác cao, vi chất lượng đầu ra n định, mặc dù sdao động
của u lượng và nồng độ chất bẩn của các loại nước thải là rất lớn. Bể
BAST (bao gm mt ngăn lắng hai ngăn dòng chy hướng lên) được
đề xuất áp dụng cho các hộ gia đình nước thải sau xử xả ra cống thoát
nước công cộng; bể BASTAF với ngăn lọc kỵ khí cuối bể nên được áp
dụng trong trường hợp nước thải sau xử thi ra môi trường. Ngăn lọc còn
cho phép ch cn lắng, tránh tắc trong c công trình xnước thải pn
tán tiếp theo như các bãi lọc ngầm, bể lọc cát…