
TRƯỜNG CAO ĐẲNG CƠ ĐIỆN HÀ NỘI
KHOA CÔNG NGHỆ THỰC PHẨM NÔNG NGHIỆP
ĐỀ CƯƠNG BÀI GIẢNG
MÔN HỌC KỸ THUẬT XỬ LÝ MÔI TRƯỜNG
NĂM 2025
( Lưu hành nội bộ )

2
CHƯƠNG 1: PHÂN LOẠI CÁC LOẠI Ô NHIỄM
I. Mục tiêu
Sau khi học xong bài này học viên có khả năng :
- Biết được các khái niệm cơ bản về sinh thái học và môi trường; tầm
quan trọng của môi trường đối với con người
- Hiểu được các khái niệm ô nhiễm môi trường
- Phân biệt được các loại ô nhiễm môi trường
II. Nội dung
1. Ô nhiễm không khí
Một số khái niệm
1.1. ĐỊNH NGHĨA SINH THÁI MÔI TRƯỜNG
“Sinh thái môi trường học” nằm trong lĩnh vực khoa học môi trường
(Environmental science), nghiên cứu về các mối quan hệ tương tác không chỉ
giữa các cá thể sinh vật với nhau mà còn giữa tập thể, giữa cộng đồng với các
điều kiện môi trường tự nhiên bao quanh nó. Tùy thuộc vào từng thời khắc, từng
nơi và từng đối tượng mà sự tương tác của mỗi cá thể có sự thay đổi và được
biểu hiện thông qua hai chỉ tiêu để đánh giá: tính trội và tính đồng đều của quần
thể sinh vật trong một hệ sinh thái môi trường.
1.2. LƯỢC SỬ VỀ SINH THÁI MÔI TRƯỜNG HỌC
Khái niệm sơ lược về sinh thái được nhà khoa học Hy Lạp Phrastus đề cập
vào thế kỷ 3 trước công nguyên Phrastus là người quan tâm nhiều đến mối quan
hệ giữa vật chất sống và không sống. Tuy nhiên, thuật ngữ “sinh thái học” chỉ
thật sự ra đời vào năm 1869 do nhà sinh vật học người Đức ErnstHaeckel đưa
ra. Haeckel là người đầu tiên đặt nền móng cho môn khoa học sinh thái về mối
tương quan giữa động vật (như những thành phần môi trường hữu sinh) với các
điều kiện và thành phần môi trường vô sinh.
Vào những năm giữa thế kỉ 19, nhóm các nhà khoa học của Châu Âu và
châu Mỹ đã tiến hành nghiên cứu về thực vật ở cấp độ quần xã; sự sắp xếp, cấu
trúc và sự phân bố các quần xã thực vật cũng đã được đặt ra trong các nghiên
cứu. Ngoài ra, nhóm các nhà khoa học người Mỹ cũng đã nghiên cứu về sự phát
triển của các quần xã thực vật và đưa ra quan điểm về các mối tương quan hữu
cơ giữa quần xã động vật và thực vật… Đó là bước khởi đầu của quá trình
nghiên cứu về sinh thái học. Ngày nay, sinh thái học không chỉ tồn tại trong sinh
học mà nó còn là khoa học của nhiều lĩnh vực như nông nghiệp, lâm nghiệp, y
học, xã hội học và thậm chí ngay cả kinh tế học và du lịch.

3
Năm 1971 cuốn sách “Cơ sở sinh thái học” (Fundamentals of ecology)
của giáo sư Eugene P. Odum, thuộc Đại học Georgy – Mỹ ra đời là một sự kiện
quan trọng trong nghiên cứu về sinh thái học. Tác giả đã phát triển lí thuyết về
sinh thái học ở mức cao hơn và cũng trong thập niên 70 của thế kỷ này, khi
ngành môi trường học đã xác định được chỗ đứng chính thức thì sinh thái học
môi trường mới được định hình và phát triển.
Ngày nay con người đã nhận thức được rằng không chỉ môi trường tự
nhiên của động, thực vật mà còn của cả con người đã và đang bị suy thoái và
hủy hoại một cách trầm trọng mà chính con người là thủ phạm gây ra các tổn
thất đó. Sinh thái môi trường ngoài nhiệm vụ của sinh thái môi trường học cổ
điển còn tập trung vào việc nghiên cứu các mối quan hệ giữa con người với tự
nhiên và môi trường sống thông qua các hoạt động công - nông nghiệp, khai
thác tài nguyên… Như vậy, sinh thái môi trường phải là gạch nối giữa sinh thái
học cổ điển và môi trường học.
1.2.1 Tiền đề của việc hình thành những phân môn của sinh thái môi trường
Nhận định “Khi cấu trúc trở nên phức tạp thì chức năng tổ hợp liền được
bổ sung những tính trạng mới” của Feiblemen (1954) là một trong những tiền đề
lí thuyết cho việc hình thành những phân môn của sinh thái học.
1.2.2 Các phân môn của sinh thái môi trường
- Căn cứ vào mức độ tổ chức của hệ thống sống có:
Sinh thái môi trường học cá thể;
Sinh thái môi trường học quần thể;
Sinh thái môi trường học quần xã;
Hệ sinh thái môi trường;
Sinh quyển học.
- Căn cứ vào mục đích nghiên cứu có:
Sinh thái môi trường cơ bản: Nghiên cứu các khía cạnh của sinh thái
môi trường và đưa ra các lí thuyết về môi trường học.
Sinh thái môi trường ứng dụng: Ứng dụng các kiến thức lí thuyết vào
thực tế để quản lí và cải tạo môi trường.
- Căn cứ vào tính chất của môi trường:
Sinh thái môi trường đất,
Sinh thái môi trường nước,
Sinh thái môi trường không khí.
- Căn cứ vào tính chất của môi trường nhưng theo một hệ quy chiếu khác:

4
Sinh thái môi trường rừng,
Sinh thái môi trường biển,
Sinh thái môi trường sông,
Sinh thái môi trường ven biển,
Sinh thái môi trường nông thôn,
Sinh thái môi trường đô thị.
- Theo một hệ quy chiếu khác của tính chất môi trường:
Sinh thái môi trường tự nhiên,
Sinh thái môi trường nhân tạo.
Ngoài ra còn có rất nhiều căn cứ để phân định những loại hình sinh thái
môi trường khác nhau như tính chất của môi trường, từng loại môi trường, đơn
vị môi trường…
1.3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU MÔI TRƯỜNG SINH THÁI
1.3.1 Phương pháp luận
Nghiên cứu môi trường sinh thái là nghiên cứu sự tương tác giữa các
thành phần môi trường. Môi trường sinh thái được tạo thành bởi các thành phần
có liên quan chặt chẽ rất hữu cơ với nhau. Một thành phần của môi trường lại là
một môi trường hoàn chỉnh gọi là môi trường thành phần. Khi một môi trường
thành phần hoặc một mắt xích trong chuỗi thức ăn bị gây ảnh hưởng hoặc bị phá
vỡ sẽ kéo theo hoạt động giải phóng năng lượng bị phá vỡ và tiếp theo đó là hoạt
động của toàn bộ hệ sinh thái cũng bị phá vỡ
Hình 1: Trọng tâm của con người trong môi trường sinh thái

5
Các hoạt động trao đổi vật chất và năng lượng trong môi trường sinh thái
luôn ở trạng thái cân bằng “động”, trong đó các thành phần của môi trường có
mối quan hệ qua lại và ràng buộc lẫn nhau. Vì vậy, cần phải có một sự nghiên
cứu chi tiết về các mối tương quan lẫn nhau cùng với sự tương tác giữa các
thành phần và yếu tố môi trường.
Nghiên cứu môi trường sinh thái không được coi nhẹ thành phần nào
trong hệ sinh thái môi trường. Bởi vì hầu hết các chất ô nhiễm xuất hiện trong
môi trường thành phần này có thể lan truyền sang các môi trường thành phần
khác một cách dễ dàng.
Hình 2: Tương quan giữa các thành phần trong môi trường sinh thái
Nghiên cứu môi trường sinh thái cũng chính là tìm các yếu tố trội và chủ
đạo trong hệ tương tác môi trường. Xác định được tính đồng nhất và tính trội
mới xác định được chiều hướng phát triển của đối tượng cần nghiên cứu, thậm
chí cả hệ sinh thái môi trường.
Phương pháp nghiên cứu môi trường sinh thái là môn khoa học đa
chuyên ngành nhưng có giới hạn. Sinh thái môi trường là môn khoa học đa liên
ngành nhưng có giới hạn, không phải tất cả các ngành học đều có thể là môi
trường học mà chỉ giới hạn ở một số ngành liên quan; trong một hoàn cảnh nhất
định có thể lấy một ngành học nhất định làm nền tảng chủ đạo còn các ngành
khác phụ trợ.
2. Môi trường và sự phát triển bền vững
2.1. KHÁI NIỆM MÔI TRƯỜNG
Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo, có
quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống,
sản xuất, sự tồn tại và phát triển của con người và thiên nhiên. (Điều 1, Luật
BVMT Việt Nam, 1994)

