
1
TRƢỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG
KHOA KỸ THUẬT – CÔNG NGHỆ – MÔI TRƢỜNG
TÀI LIỆU GIẢNG DẠY
CÔNG NGHỆ SẠCH
Giảng viên biên soạn: ThS. HỒ LIÊN HUÊ
BỘ MÔN MÔI TRƯỜNG VÀ PTBV

2
CHƢƠNG 1
LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CỦA CHIẾN LƢỢC MÔI TRƢỜNG,
NHỮNG BƢỚC ĐI LỊCH SỬ TIẾN TỚI ÁP DỤNG
NGĂN NGỪA Ô NHIỄM, CÔNG NGHỆ SẠCH
- Tất cả các hoạt động của con người đều gây ra ảnh hưởng nhất định đối với môi trường.
- Dân số gia tăng, nhu cầu con người ngày càng cao, quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
càng ngày càng phát triển: ngày càng gây ra nhiều tác động đến môi trường, gây ảnh hưởng tiêu
cực đến các nguồn tài nguyên thiên nhiên và chất lượng môi trường sống của con người.
- Từ thời cổ đại, người ta cũng nhận thấy: vấn đề môi trường đã được đề cập nhiều lần, gây ra từ
các vụ cháy rừng và ô nhiễm kim loại nặng do khai thác mỏ…
Càng lúc càng nhận thấy rõ sự nóng hổi của vấn đề 2 mặt: mâu thuẫn giữa nền công nghiệp và
sinh thái, giữa nền văn minh nhân loại và thiên nhiên.
- Trước khi có cuộc cách mạng công nghiệp: các vấn đề môi trường chưa vượt quá phạm vi địa
phương và khu vực (cục bộ).
- Ngược lại, hiện nay thế kỷ của chúng ta được khắc họa bởi những xu hướng toàn cầu hóa các
vấn đề môi trường nóng bỏng: hiệu ứng nhà kính, sự nóng lên của trái đất, suy giảm tầng ozon,
mưa axit,….
Do đó hệ quả tất yếu là yêu cầu bức bách để giải quyết, xử lý, phục hồi và ngăn chặn
ONMT càng lúc càng gia tăng.
Sau đây là 3 thái độ ứng xử với môi trường tự nhiên theo thứ tự từ xưa đến nay:
A. Không quan tâm đến quản lý, xử lý chất thải
- Đó là triết lý về thế giới vô hạn, có khả năng hấp thụ, pha loãng chất thải siêu hạn, vô tận. Quan
niệm này tạo đòn bẩy cho nền công nghiệp phát triển vượt bậc chỉ trong thời gian ngắn.
- Lúc này, các vấn đề môi trường bị lảng tránh, không được quan tâm giải quyết (vì nghĩ rằng thế
giới có khả năng vô tận).
Ở thái độ này, có 2 xu hướng chủ yếu:
- Pha loãng thải bỏ
- Thải bỏ trực tiếp
Điều tất yếu xảy ra là sự ô nhiễm, mất cân bằng sinh thái.
- Trong thời gian dài, pha loãng (nước thải) và phân tán (khí thải) là một giải pháp cho vấn đề ô
nhiễm, giải quyết ô nhiễm,…..Người ta nghĩ rằng việc làm này sẽ làm biến mất chất thải (xem
trái đất như một thùng rác). Hay giải pháp xử lý ô nhiễm là: pha loãng hoặc phân tán.
- Đối với chất thải rắn độc hại: cô đặc tàng trữ, lưu trữ trong những hộp đặc biệt (hộp đen).
- Về lâu dài, 2 cách giải quyết trên đều thất bại vì:

3
+ Cô đặc và tàng trữ: lâu ngày thùng chứa sẽ xuống cấp, hư hại gây rò rĩ các chất ô nhiễm ra
môi trường ngoài (đất, nước, không khí,…)
+ Pha loãng/ phân tán: không hiệu quả trong trường hợp nguồn ô nhiễm là những nguồn ô
nhiễm nghiêm trọng, nặng, cục bộ.
B. Phản ứng thụ động trong quản lý chất thải (tiếp cận cuối đường ống)
- Nghiên cứu và hoàn thiện, lắp đặt các quy trình, công nghệ xử lý cuối đường ống: lắp đặt các hệ
thống xử lý, làm giảm nồng độ chất ô nhiễm từ nguồn thải, cống thải, ống khói của các nhà máy
sản xuất….
- Cho đến nay, quan điểm/ thái độ ngày càng được phát triển và hoàn thiện: nghiên cứu và áp
dụng những hệ thống xử lý hiện đại.
- Xét ở góc độ đối với quá trình sản xuất: thái độ/ giải pháp này không làm giảm lượng chất thải
(chỉ xử lý sau khi chất thải phát sinh ra).
Xét ở góc độ đối với môi trường xung quanh: vẫn có ý nghĩa tích cực, do làm giảm lượng chất
thải đưa ra môi trường ngoài, ngăn chặn sự hủy hoại môi trường.
- Từ 1960 đến nay, công nghệ xử lý cuối đường ống đã phát triển nhanh và rất hoàn thiện, chỉ
khác nhau giữa các quốc gia phát triển và đang phát triển (nước phát triển sử dụng công nghệ
hiện đại).
- Tuy nhiên, không phải xử lý cuối đường ống là đã chấm dứt.
VD: không phải xử lý nước thải đạt tiêu chuẩn môi trường là đã hoàn thành mà còn cần phải
quan tâm xử lý chất thải/ sản phẩm phụ sau quá trình xử lý nước thải (xử lý bùn sau quá trình
xử lý nước thải)
- Hơn nữa, xử lý cuối đường ống làm phát sinh chi phí xử lý, làm giảm hiệu quả kinh tế.
- Ngoài ra, các chất ô nhiễm nguy hại : rất khó hoặc không thể xử lý gây hại cho môi trường
xung quanh, các hệ sinh thái….
C. Quản lý chất thải theo hƣớng tích cực và chủ động (tiếp cận phòng ngừa ô nhiễm tại nguồn)
(Áp dụng công nghệ sạch: sản xuất sạch hơn SXSH, ngăn ngừa ô nhiễm NNON, ISO 14001,
LCA,…)
- Đây là thái độ/ quan điểm hoàn thiện, được thế giới ủng hộ triệt để.
- Từ khoảng 20 năm trở lại đây, xuất hiện nhiều ý tưởng, thuật ngữ: giảm phát thải, giảm thiểu
lượng chất thải, NNON, phòng ngừa ô nhiễm, SXSH, năng suất xanh…
Tất cả các ý tưởng này đều hướng về cùng mục tiêu là giảm lượng chất thải, ngăn ngừa ô nhiễm
ngay tại nguồn.
- Các ý tưởng trên ngày càng được khuyến khích do nó giúp giảm chi phí xử lý, giảm chi phí sản
xuất, tăng hiệu quả kinh doanh. Đặc biệt khi các luật lệ, qui định, nguyên tắc “Người gây ô
nhiễm phải trả”…ra đời thì các ý tưởng này càng được khuyến khích.
-

4
Ở quan điểm/ tiếp cận) mới này, bước đi đầu tiên là “Tuần hoàn chất thải”
- Xét theo quan điểm này, tuần hoàn chất thải vẫn chưa làm giảm lượng chất thải (vì nó được áp
dụng sau khi kết thúc quá trình sản xuất), vẫn duy trì lượng chất thải không đổi.
Tuy nhiên, tiến bộ, ý nghĩa của nó là: trong toàn bộ lượng chất thải phát sinh, có một phần được
tuần hoàn đưa trở lại quá trình sản xuất (tái sử dụng, tái chế) giúp giảm bớt một phần nguyên
liệu, năng lượng đầu vào (giảm chi phí sản xuất, giảm chi phí xử lý, tăng hiệu quả kinh tế…).
- Thực tế, hoạt động này vẫn chưa được thực hiện phổ biến rộng rãi vì ít có thị trường sử dụng
những sản phẩm được sản xuất từ nguyên liệu đã tái tuần hoàn. Hoặc đôi khi, quá trình tuần
hoàn lại quá tốn kém hơn cả thải bỏ.
Quan điểm hoàn thiện hơn: Hạn chế tối đa lượng chất thải phát sinh hay giảm
lượng chất thải từ quá trình sản xuất ở mức thấp nhất nếu có thể.
- Các hoạt động của quan điểm này là: các phương án, quy trình công nghệ tạo ít chất thải.
- Đây là phương án/giải pháp hoàn thiện, tốt nhất, tiến bộ nhất, đầy hứa hẹn vì nó giúp vừa giải
quyết các vấn đề môi trường, vừa tăng hiệu quả kinh tế.

5
CHƢƠNG 2
MỘT SỐ BIỆN PHÁP NGĂN NGỪA Ô NHIỄM
- Quá trình sản xuất luôn sinh ra chất thải rắn, lỏng, khí, thể hiện cho:
+ Sự mất đi của nguyên vật liệu, năng lượng từ quá trình sản xuất
+ Lượng chi phí đầu tư đáng kể vào xử lý ô nhiễm
Vấn đề xử lý ô nhiễm (quản lý cuối đường ống) luôn tốn nhiều năng lượng, vật liệu, lao động
tốn kém chi phí.
- Khi các luật lệ, qui định, lệ phí thải bỏ, lệ phí ô nhiễm… ra đời, đồng thời nhận thức cộng đồng
gia tăng thôi thúc các nhà lãnh đạo quốc gia, các ngành nghề ngày càng chú trọng, quan tâm
xem xét các phương án, khả năng giảm thiểu chất thải, NNON..
- Càng ngày, nguyên tắc Cắt giảm chất thải (GTCT/NNON) càng tỏ ra chiếm ưu thế, càng được
quan tâm khuyến khích vì lợi ích kinh tế và cải thiện chất lượng môi trường.
- Có rất nhiều phương pháp NNON đã được nghiên cứu và áp dụng.
Các biện pháp NNON:
- Có thể áp dụng cho hầu hết các ngành nghề công nghiệp, nông nghiệp….
- Được thực hiện chỉ bằng những kỹ thuật đơn giản ở “công nghệ thấp”, không quá phức tạp, chủ
yếu phân ra thành 2 nhóm: quản lý và kỹ thuật.
QUẢN LÝ:
Tăng cường quản lý, giám sát, quan trắc, kiểm soát…
Cải tiến công tác giám sát, kiểm soát nội bộ..
Gia tăng đào tạo, tập huấn, nâng cao nhận thức…
Các biện pháp thuộc nhóm quản lý thường là đơn giản, không khó, đặc biệt là ít tốn kém chi
phí; tuy nhiên để đạt được hiệu quả, mục tiêu thì điều quan trọng cần có là sự quyết tâm, ý chí,
kiên trì,..
Nội dung chính của đào tạo, tập huấn, nâng cao nhận thức công nhân là:
Cho thấy lợi ích của chương trình NNON, SXSH…về kinh tế, về môi trường; lợi ích kinh tế
mang lại không chỉ cho ban giám đốc, bộ phận quản lý mà cho toàn công ty, cho tất cả công
nhân.
Nâng cao ý thức trách nhiệm, xem những công việc NNON là việc chung, của toàn công ty,
không phải của riêng ai; công ty được lợi thì bản thân từng cá nhân công nhân cũng được
lợi.
Các phương pháp, kỹ thuật cụ thể được thực hiện như thế nào? (hướng dẫn thực hiện).
Các thiết bị, kỹ thuật hỗ trợ cho công tác quản lý như: lắp đặt đồng hồ điện, nước ở từng khu
vực; lắp đặt các thiết bị tự động hóa, các thiết bị cảm ứng từ xa (sensor)…
Để công tác quản lý đạt hiệu quả, công ty cần khuyến khích, đặt ra các chế độ, chính sách
thưởng phạt (duy trì).

