LONG B
Đại Cương
Long Bế là loại bệnh bài tiết tiểu tiện khó khăn, thậm chí bế tắc không tng, gọi
tắt là 'Long’. Một số nhà nghiên cu cho rằng tiểu tiện không lợi, tiểu nhỏ giọt và
lượng ít, bệnh tiến triển từ tgọi là 'Long’.
Trường hợp tiểu tiện kng thông, mun bài tiết mà không bài tiết được; bệnh có
tính cấp gọi là "Bế'. Trên lâm sàng đa số gọi chung là Long bế.
Thiên ‘Tuyên Minh Ngũ Khí’ (Tố Vấn 23) viết: “Bàng quang bất lợi là Long,
không chế ước là són đái – di niệu”.
Thiên ‘Kỳ Bệnh Lun’ (T Vn 47) viết: Có loại bệnh Long, ngày đi tiểu vài mươi
ln, đó là bệnh bất túc”.
Thiên ‘Bản Du’ (Linh Khu 2) viết: “Thực thì Bế Long, hư thì di niệu. D niệu cần
phải Bổ, bế long cần phải Tả”.
Long Bế với chứng lâm, đều là loại bệnh tiểu khó; nhưng riêng trường hợp tiểu
tin khó khăn kng thông. Còn chng Lâm thì bài tiết tiếu tiện nhỏ giọt, rít và
đau.
Sách ‘Trương Thị Y Thông’ nhận định: “ Long và Bế nói chung chỉ là một bệnh,
mà nói riêng thì có bệnh mới mắc, bệnh mắc đã lâu khác nhau. Bi vì Bế là bnh
mắc đột ngột, một giọt nước tiểu cũng không bài tiết được, tục gọi tiểu tiện không
thông. Còn Long là bệnh mắc đã u, tiểu tiện nhỏ giọt từng tý một, mỗi ngày đi tới
vài mươi lần”.
Trong y học hiện đại, Long bế thuộc loại ứ đọng nước tiểu có nhiều nguyên nhân
và bnh vô niệu.
Nguyên nhân
Vùng bnh Long bế thuộc Bàng quang, Bàng quang là chỗ chứa đọng nước tiểu, là
phủ quản lý sự vào ra của nước tiểu. Thiên ‘Linh Lan Bí Điển Luận’ (Tố Vn 8)
viết: "Bàng quang là chc quan châu đô, nơi chứa Tân dịch, có khí hóa thì có th
bài tiết".
Chứng Bế thường do khóa ở Bàng Quang không lợi làm cho không bài tiết được
nước tiểu, vnguyên nhân, có năm loại sau đây:
1) Thấp nhiệt ứ tích - ng quang thấp nhiệt nghẽn trệ hoặc Thận nhiệt chuyển
xuống Bàng quang gây nên; Loi thấp và nhiệt phối hợp với nhau đều có ảnh
hưởng làm cho khí hóa của Bàng quang bị trở ngại, gây nên Long bế.
2) Phế nhiệt ủng thịnh - Phế là thượng nguồn của nước, nhiệt ủng tắc Thượng
tiêu, tân dịch không phân bố được, đến nỗi thủy đạo kng lợi - Lại do nhiệt từ
Thượng tiêu chuyển xuống Bàng quang, làm cho Thượng tiêu Hạ tiêu đều bị
nhiệt klàm ủng tắc gây nên Long bế.
3) Can uất khí trệ - Thất tình nội thương dẫn đến Can uất khí trệ, khí cơ không điều
hòa từ đó làm cho svận hành và khí hóa của Tam tiêu bị ảnh hưởng đến nỗi
nghẽn trở lưu thông thủy đạo, gây ra Long bế.
4) Niệu đạo nghẽn tắc - huyết ngưng tụ hoặc niệu đạo có sỏi, ứ đọng không ti
đi, nghẽn tắc niệu đạo và ng quang, cũng gây nên Long bế.
5) Thn khí không đầy đủ - Chyếu là Thn dương bất túc, Mệnh môn hỏa suy
đến nỗi Bàng quang khí hóa bất lợi mà tiểu tin kng bài tiết được. Trong đó bao
gm cả loại Thận dương suy hao do tuổi già và người Thận khí hư làm cho không
đẩy được nước tiểu ra.
Biện chứng
Trị liệu Long bế nên căn cvào nguyên tắc ‘Phủ lấy thông làm Bổ’, chú trọng ở sự
làm cho thông. Đời nhà Nguyên, trong sách ‘VSinh Bảo Giám’, La Thiên Ích đã
chế ra phép ki nước tiểu. Trương Cảnh Nhạc trong sách ‘Cảnh Nhạc Toàn
Thư’dùng lông ngỗng làm ống thông tiểu tiện ; Các thày thuốc đời sau đa số cho là
trong trường hợp tiểu tiện không thông, phương pháp uống thuốc bên trong cho kết
qủa chậm, không đáp ứng được tình trng cấp cứu, do đó họ vận dụng nhiều
phương pháp chữa ngoài như bắt mửa, thông tiểu tiện lúc cấp cứu, trước mắt là
chọn dùng phương pháp khai thông niệu đạo và tân châm, gin tiện dễ áp dụng mà
hiệu qủa cao. Điều chủ yếu là nguyên nhân gây nên bnh Long bế khác nhau, lâm
sàng cần xét nguyên nhân mà lun trị, không nên chỉ dùng một phép thông lợi bằng
các phương thuốc sắc cho tất cả mọi trường hợp.
+ Thấp Nhiệt Ủng Tích: Tiểu tiện kng lợi, nóng đỏ hoặc bị vít, bụng dưới
chướng đầy hoặc táo bón, chất lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng nhớt, mạch Tế Sác.
Biện chứng: Thấp nhiệt ủng tích ở Bàng quang làm cho khí hóa Bàng quang mất
điều hòa, tiểu tiện không lợi và nóng đỏ, thậm cvít tắc không thông. Thấp và
nhiệt phối hợp với nhau, khí trệ ở dưới cho nên bụng dưới chướng đầy. Chất lưỡi
đỏ là phần âm bị tổn thương; Rêu lưỡi vàng nhớt, mạch Tế Sác, đại tiện khó đi đều
do hạ tiêu tích nhiệt gây nên.
Điều trị:Thanh hóa thấp nhiệt. Dùng bài Thn Thông Quan Hoàn hợp với Bát
Chính Tán gia gim.
(Trong Thông Quan Hoàn có Tri mu, Hoàng bá thể thanh thấp nhiệt hạ tiêu,
Nhục quế giúp cho Bàng quang khí hóa, thích hợp loại thấp nhiệt ủng kết ở Bàng
quang dn đến tiểu tiện không thông, nhưng sợ rằng thuốc thanh hóa thấp nhiệt
không đmạnh cho nên dùng chung cvị Cù mạnh, Biển súc, Mộc thông, Xa tiền
tử, Sơn chi, Đại hoàng v.v...).
Vì Bàng quang tích nhiệt, một mặt do Thủy và nhiệt phối hợp với nhau, mặt khác
do tích nhiệt ở hạ tiêu, Thận âm tất bị tiêu hao. Gp trường hợp Thận âm bị tổn
thương, nhưng thanh nhiệt lợi thấp mà không tư âm, thì ngun gốc của tân dịch
không được khôi phục, dù đường nước thông lợi vẫn khó trôi chy, cho nên dù
dùng phương pháp thanh lợi thấp nhiệt, có thể thêm Sinh địa, Mạch đông để tư
dưỡng Thận âm, khiến thấp nhiệt có thể thanh mà Thn âm không tổn thương.
+ Phế nhiệt ủng thịnh: Tiểu tiện nhỏ giọt, không thông hoặc khó đi, họng khô,
phiền khát, thở gấp, rêu lưỡi vàng mỏng, mạch Sác.
Biện chứng: Phế nhiệt ủng trệ ở trên, khí nghịch kng giáng xuống, không thông
li đường nước chảy xuống Bàng quang cho nên tiểu tiện không thông. Họng k
khát nước, thở gấp, rêu lưỡi vàng, mạch Sác v.v... đều do nhiệt tà nung nu, Phế
khí nghn tắc y nên. Tiu tiện sở dĩ không thông nguồn gốc là Phế chứ không
thể chỉ chữa ở Bàng quang giải quyết được.
Điều trị: Thanh Phế nhiệt, lợi thủy đạo. Dùng bài ' Thanh Phế Ẩmgia giảm.
(Bài thuốc dùng Hoàng Cm, Tang bạch bì, Mạch đông vv... vừa thanh tiết Phế
nhiệt, vừa tư dưỡng nguồn sinh hóa. Li dùng Xa tiền tử, Mộc thông, Phục linh,
Chi tử là các vị thanh nhiệt, thông lợi, khiến cho lợi tiểu tiện).
Nếu Tâm hỏa vượng mà tâm phin, đầøu lưỡi đỏ, có thể thêm Hoàng liên, Trúc
diệp; i đỏ ít tân dịch, Phế âm bất túc tm Sa m và Mao căn.
+ K Cơ Uất Trệ: Tình cưu uất hoặc dễ kích động, hay tức giận, phiền muộn,
tiu tiện không thông, hoặc thông mà không dễ chịu, bụng sườn chướng đầy, rêu
lưỡi mỏng hoặc vàng mng, chất lưỡi đỏ, mạch Huyền.
Biện chứng: Thất tình ni thương, khí có uất trệ, phế khí mất sự túc giáng không
thể thông lợi thủy đạo đưa xuống Bàng quang cho nên tiểu tiện không thông hoặc
thông mà còn khó chịu. Bụng sườn chướng đau cũng là do Can khí hoành nghịch.
Mạch Huyền là dấu hiệu Can vượng. Rêu lưỡi vàng mỏng, chất lưỡi đỏ, là du hiệu
Can uất hóa hỏa.
Điều trị: Sơ lý khí cơ, thông lợi tiểu tiện. Dùng bài ' Trầm Hương Tán gia giảm.
(Trm hương, Quất bì có thể sơ thông Can khí, phối hợp với Đương qui, Vương
bất lưu hành có thể làm thông khí huyết ở hạ tiêu; Hoạt thạch, Đông quì tử, Thạch
vi thông được thủy đạo). Nhưng phương này xét về mặt lý khí thấy còn yếu, cho
nên có thể thêm Hương phụ, Uất kim, Ô dược v.v... Nếu khí uất hóa hỏa, thêm Đan
, Chi tử.
+ Nghẽn Tắc Niệu Đạo: Tiểu tiện nhỏ giọt khó chịu hoặc ra từng tia như sợi tơ
hoặc nghẽn tắc không thông, bụng dưới trướng đầy, đau âm ỉ, sắc lưỡi tía, mạch
Sắc hoặc Tế Sác.
Biện chứng: Đây là do huyết nghẽn tắc bên trong hoặc kết thành cục, hoặc niệu
đạo có sỏi làm nghn tắc Bàng quang vàniệu đạo, làm cho tiểu tiện nhỏ giọt không
dễ chịu hoặc nhỏ như sợi tơ, thậm chí tiểu tiện không tng, bụng dưới chướng đau
âm ỉ, Sắc lưỡi đỏ tía là du hiệu khí trệ, tắc nghẽn.
Điều trị: Hành ứ, tán kết, thanh lợi thủy đạo. Dùng bài ‘Đại Để Đương Hoàn.
(Bài này lấy Quy vĩ, Xuyên sơn giáp, Đào nhân, Đại hoàng, Mang tiêu để thông ứ,
hóa kết, nhưng kng nên uống lâu, nếu người bệnhm lâu ngày, huyết hư, sắc
mặt kém tươi, nên dùng phép dưỡng huyết, hành ứ).
Có thể trong bài thuốc trên lại thêm Đan sâm, Hoàng kỳ. Nếu tiểu tiện nhất thời
không thông, chướng tắc không chịu nổi, nên cho nuốt chút ít Xạ hương. Nếu niệu
đạo kết sỏi có thể gia Kim tiền thảo, Hải Kim sa, Đông qùy tử, Cù mạch, Biển súc.
+ Thận Khí Bất Túc: Tiểu tiện không thông hoặc giỏ giọt, không thành bãi, lực đẩy
gim, sắc mặt trắng nhợt, thần khí khiếp nhược, từ lưng trở xuống lạnh, đùi gối yếu
sức, chất lưỡi nhạt, mạch Trầm Tế.
Biện chứng Tiểu tiện không tng hoặc nhgiọt không thành bãi, sức bài tiết yếu
đó là Thận dương bất túc, khí hóa lực. Sắc mặt trắng nhạt, thần khí khiếp nhược
là triệu chứng nguyên khí suy sụp. Lưng trở xuống lạnh, đùi gối yếu sức, lưỡi nhạt,
mạch Trầm Tế đều là do Mệnh môn hỏa suy, khí hóa không đạt tới Bàng quang
gây nên.
Điều trị: ôn dương, ích khí, bổ Thận, thông khiếu. Dùng bài ' Tế Sinh Thận Khí
Hoàn gia vị. Bài này có tác dụng ôn bổ Thận dương, hóa khí, hành thủy, làm cho
thông lợi tiểu tiện. Nếu người cao tuổi nguyên khí cực hư, Thận khí không mạnh,
có thể thêm Hồng sâm, Lộc giác phiến, Tiên mao, Dâm dương hoắc v.v. ..
Muốn đi tiểu nhưng trướng nặng muốn bài tiết mà không bài tiết được; hoặc ra
lượng ít, khó kn, nặng trệ, sa trực tràng giống như mót đại tiện, mệt mỏi ngắn
hơi, thân thể nặng nề, chất lưỡi nhạt, mạch Hoãn Nhược v.v... đó là Tỳ khí
nhược không khả năng thăng đề gây nên.
Chứng này thường cùng xuất hiện với loại Thn dương bất túc. Điều trị nên thăng
thanh, giáng trọc kiêm ôn dưỡng Thận khí, cho uống Bổ Trung Ích Khí Thang
thêm Nhục quế, Thông thảo, mt vị thăng, một vị giáng, khí hóa sẽ u hành, tiểu
tin sẽ thông.
Ngoài các trường hợp điều trị bằng thuốc nói trên, cũng có thể áp dụng phép chữa
bên ngoài, ví dụ:
- Pơng pháp làm mửa hoặc hắt hơi. Động tác hắt hơi và nôn mửa có thể làm khơi
thông Phế khí, nâng trung khí, từ đó thông được khí ở hạ tu, đó là biện pháp tuy
đơn giản mà thông lợi tiểu tiện khá kết qủa. Dùng chút bông vô khuẩn ngoáy vào
lmũi cho hắt hơi, hoặc ngoáy vào họng cho nôn mửa, trên mở thì khiếu ở dưới
sẽ thông,
2- Pơng pháp đắp bên ngoài
a- Dùng một củ Tỏi to, 3 quả Chi tử, chút ít mui ăn, ba thứ giã nát, đắp lên rốn.
b- Dùng nửa cân muối ăn rang nóng chườm lên rốn.
Các phương pháp trên áp dụng các loại bí tiểu tiện rất tốt. Cũng có thể phối hợp
với Châm Cứu và biện pháp xoa bóp.
Bệnh Án Trị Tiểu