Ph¹m §øc Hoμi - CN 39 A

LuËn v¨n tèt nghiÖp

TRƯỜNG …………………. KHOA………………………. -----(cid:91)(cid:92)(cid:9)(cid:91)(cid:92)-----

Báo cáo tốt nghiệp

Đề tài:

Một số biện pháp cơ bản nhằm duy trì và mở rộng thị

trường tiêu thụ sản phẩm tại Xí nghiệp may đo

X19 thuộc Công ty 247 -Bộ quốc phòng.

§¹i häc Kinh tÕ quèc d©n

1

Ph¹m §øc Hoμi - CN 39 A

LuËn v¨n tèt nghiÖp

PHẦN I............................................................................................. 4 DUY TRÌ VÀ MỞ RỘNG THỊ TRƯỜNG TIÊU THỤ LÀ NHÂN TỐ CƠ BẢN TẠO ĐIỀU KIỆN CHO DOANH NGHIỆP TỒN TẠI VÀ PHÁT TRIỂN TRONG CƠ CHẾ THỊ TRƯỜNG .................... 4 I QUAN ĐIỂM CƠ BẢN VỀ THỊ TRƯỜNG............................... 5 1 Các khái niệm về thị trường ..................................................... 5 2 Vai trò và chức năng của thị trường ....................................... 5 3 Các cách phân loại thị trường................................................... 8 4 Các yếu tố hợp thành thị trường ............................................. 10 5 Các nhân tố ảnh hưởng tới thị trường..................................... 12

II MỐI QUAN HỆ GIỮA CÔNG TÁC TIÊU THỤ VÀ THỊ TRƯỜNG TIÊU THỤ ................................................................. 18 1 Quan điểm cơ bản về công tác tiêu thụ................................... 18 2. Mối quan hệ giữa công tác tiêu thụ và vấn đề duy trì và mở rộng thị trường........................................................................... 25 Lượng hàng hoá tiêu thụ của Doanh nghiệp ................................ 28 Thị phần của Doanh nghiệp =...................................................... 28 3. Nguyên tắc của việc mở rộng thị trường ............................... 28 PHẦN II ......................................................................................... 30 PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG VỀ THỊ TRƯỜNG TIÊU THỤ SẢN PHẨM Ở XÍ NGHIỆP MAY ĐO X19 THUỘC CÔNG TY 247- BỘ QUỐC PHÒNG.............................................................................. 30 I MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ KỸ THUẬT CHỦ YẾU CỦA XÍ NGHIỆP MAY ĐO X19 ẢNH HƯỞNG TỚI THỊ TRƯỜNG TIÊU THỤ ................................................................................... 30 1 Quá trình hình thành và phát triển của Xí nghiệp may đo X19- Công ty 247-Bộ quốc phòng...................................................... 30 Sơ đồ I.1: Tổ chức bộ máy quản lý của Xí nghiệp may đo X19 .... 32 2 Một số đặc điểm kinh tế kĩ thuật chủ yếu của Xí nghiệp ảnh hưởng đến thị trường tiêu thụ .................................................... 36 Biểu II.2: Số lượng vải tiêu thụ của Xí nghiệp may đo X19 .......... 40 Biểu II.3: Hiệu quả sử dụng vốn của Xí nghiệp ........................ 44

II PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG VỀ TÌNH HÌNH TIÊU THU SẢN PHẨM CỦA XÍ NGHIỆP................................................... 45 1 Tình hình thực hiện kế hoach sản suất ................................... 45

§¹i häc Kinh tÕ quèc d©n

2

Ph¹m §øc Hoμi - CN 39 A

LuËn v¨n tèt nghiÖp

2. Tình hình thực hiện kế hoạch tiêu thụ ................................... 48 3. Thị trường tiêu thụ sản phẩm của Xí nghiệp ......................... 53 Thị trường....................................................................................... 55 4. Các hình thức tiêu thụ của Xí nghiệp may X19..................... 60 5. Đánh giá chung về tình hình tiêu thụ sản phẩm của Xí nghiệp may X19 .................................................................................... 61 PHẦN III ........................................................................................ 66 Sản phẩm ................................................................................... 74 5.2. Xây dựng chính sách giá cả linh hoạt................................................................................................... 91

§¹i häc Kinh tÕ quèc d©n

3

Ph¹m §øc Hoμi - CN 39 A

LuËn v¨n tèt nghiÖp

PHẦN I

§¹i häc Kinh tÕ quèc d©n

DUY TRÌ VÀ MỞ RỘNG THỊ TRƯỜNG TIÊU THỤ LÀ NHÂN TỐ CƠ BẢN TẠO ĐIỀU KIỆN CHO DOANH NGHIỆP TỒN TẠI VÀ PHÁT TRIỂN TRONG CƠ CHẾ THỊ TRƯỜNG

4

Ph¹m §øc Hoμi - CN 39 A

LuËn v¨n tèt nghiÖp

I QUAN ĐIỂM CƠ BẢN VỀ THỊ TRƯỜNG

1 Các khái niệm về thị trường

Thị trường ra đời gắn liền với nền sản xuất hàng hoá, nó là môi trường để tiến hành các hoạt động giao dịch mang tính chất thương mại của mọi Doanh nghiệp công nghiệp. Trong một Xã hội phát triển, thị trường không nhất thiết chỉ là địa điểm cụ thể gặp gỡ trực tiếp giữa người mua và người bán mà Doanh nghiệp và khách hàng có thể chỉ dao dịch thoả thuận với nhau thông qua các phương tiện thông tin viễn thông hiện đại. Cùng với sự phát triển của sản xuất hàng hoá, khái niệm về thị trường ngày càng chở nên phong phú. Có một số khái niệm phổ biến về thị trường như sau:

- Theo Các Mác hễ ở đâu và khi nào có sự phân công lao động Xã hội và có sản xuất hàng hoá thì ở đó và khi ấy sẽ có thị trường. Thị trường chẳng qua là sự biểu hiện của phân công lao động Xã hội và do đó có thể phát triển vô cùng tận

- Theo David Beg thì thị trường là tập hợp các sự thoả mãn thông qua đó người bán và người mua tiếp xúc với nhau để chao đổi hàng hoá và dịch vụ

- Theo quan điểm của Marketing hiện đại: Thị trường bao gồm những khách hàng tiềm ẩn cùng có một nhu cầu hay mong muốn cụ thể; sẵn sàng có khả năng tham gia chao đổi để thoả mãn nhu cầu và mong muốn đó

- Theo quan điểm chung thì thị trường bao gồm toàn bộ các hoạt động chao đổi hàng hoá được diễn ra trong sự thống nhất hữu cơ với các mối quan hệ do chúng phát sinh và gắn liền với một không gian nhất định

2 Vai trò và chức năng của thị trường

2.1 Vai trò của thị trường

Thị trường có vai trò quan trọng đối với sản xuất hàng hoá, kinh doanh và quản lý kinh tế

§¹i häc Kinh tÕ quèc d©n

Bất kỳ quá trình sản xuất hàng hoá nào cũng đều qua khâu lưu thông và phải qua thị trường. Như vậy thị trường là khâu tất yếu của sản xuất hàng hoá. Thị trường chỉ mất khi sản xuất hàng hoá không còn. Như vậy, không thể coi phạm trù thị trường chỉ gắn với nền sản xuất tư bản chủ nghĩa. Thị trường là chiếc “cầu nối “ của sản xuất và tiêu dùng. Thị trường là mục tiêu của quá

5

Ph¹m §øc Hoμi - CN 39 A

LuËn v¨n tèt nghiÖp

trình sản xuất hàng hoá ( hiểu theo nghĩa rộng ). Thị trường là khâu quan trọng nhất của quá trình tái sản xuất hàng hoá. Để sản xuất hàng hoá, Xã hội phải chi phí sản xuất, chi phí lưu thông. Thị trường là nơi kiểm nghiệm các chi phí đó và thực hiện yêu cầu quy luật tiết kiệm lao động Xã hội

Thị trường không chỉ là nơi diễn ra các hoạt động mua bán nó còn thể hiện các quan hệ hàng hoá tiền tệ. Do đó thị trường được coi là môi trường của kinh doanh, kích thích mở rộng nhu cầu về hàng hoá và dịch vụ từ đó mở rộng sản xuất, thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Thị trường phá vỡ danh giới về sản xuất tự nhiên, tự cấp, tự túc, chuyển nền kinh tế này sang nền kinh tế thị trường

Thị trường hướng dẫn sản suất kinh doanh thông qua sự biểu hiện về cung cầu – giá cả trên thị trường. Các nhà sản xuất kinh doanh nghiên cứu những biểu hiện đó để xác định nhu cầu của khách hàng từ đó tìm cách giải quyết ba vấn đề kinh tế cơ bản của mình là: Sản xuất cái gì ? Cho ai ? Bằng cách nào ? Do vậy thị trường được coi là “ tấm gương” để các cơ sở sản xuất kinh doanh nhận biết được nhu cầu của Xã hội và để đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh của chính bản thân mình. Thị trường là thước đo khách quan của mọi cơ sở sản xuất kinh doanh

Trong quản lý kinh tế thị trường có vai trò vô cùng quan trọng. Thị trường là đối tượng, là căn cứ của kế hoạch hoá. Thị trường là công cụ bổ xung cho các công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế của nhà nước. Thị trường là môi trường kinh doanh, là nơi nhà nước tác động vào quá trình kinh doanh cơ sở

2.2 Chức năng của thị trường

Chức năng của thị trường là những tác động khách quan vốn có bắt

nguồn từ bản chất của thị trường tới quá trình sản suất và đời sống kinh tế Xã

hội. Thị trường có một số chức năng cơ bản sau

a Chức năng thừa nhận

Hàng hoá được sản xuất ra , người sản xuất phải bán nó. Việc bán hàng

§¹i häc Kinh tÕ quèc d©n

được thực hiện thông qua chức năng thừa nhận của thị trường. Thị trường

6

Ph¹m §øc Hoμi - CN 39 A

LuËn v¨n tèt nghiÖp

thừa nhận chính là người mua chấp nhận thì cũng có nghĩa là về cơ bản quá

trình tái sản xuất Xã hội sủa hàng hoá đã được hoàn thành. Bởi vì bản thân

việc tiêu dùng sản phẩm và các chi phí tiêu dùng cũng khẳng định trên thị

trường hàng hoá đã được bán

Thị trường thừa nhận tổng khối lượng hàng hoá đưa ra thị trường, cơ

cấu của cung cầu, quan hệ cung cầu đối với từng hàng hoá, thừa nhân giá trị

sử dụng và giá trị của hàng hoá, chuyển giá trị sử dụng và giá trị cá biệt thành

giá trị sử dụng và giá trị Xã hội, thừa nhận các giá trị mua và bán ...

Thị trường không phải chỉ thừa nhận thụ động các kết quả của quá

trình tái sản xuất, quá trình mua bán mà thông qua sự hoạt động của các quy

luật kinh tế trên thị trường và thị trường còn kiểm nghiệm quá trình tái sản

xuất, quá trình mua bán đó

b Chức năng thực hiện

Hoạt động mua bán là hoạt động lớn nhất, bao trùm cả thị trường. Thực

hiện hoạt động này là cơ sở quan trọng có tính chất quyết định đối với việc

thực hiện các quan hệ và hoạt động khác

Thị trường thực hiện bao gồm: Hành vi trao đổi hàng hoá, thực hiện

tổng số cung và tổng số cầu trên thị trường thực hiện cân bằng cung – cầu

từng thứ hàng hoá, thực hiện giá trị ( thông qua giá cả ) thực hiện trao đổi giá

trị. Thông qua chức năng thực hiện của thị trường, các hàng hoá hình thành

nên các giá trị chao đổi của mình. Giá trị trao đổi là cơ sở vô cùng quan trọng

để hình thành nên cơ cấu sản phẩm, các quan hệ tỷ lệ và kinh tế trên thị

trường

c Chức năng điều tiết, kích thích

Chức năng điều tiết và kích thích thể hiện ở chỗ: Thông qua nhu cầu của thị trường người sản xuất tự động di chuyển tư liệu sản xuất, vốn và lao động từ ngành này sang ngành khác, từ sản suất sản phẩm này sang sản xuất

§¹i häc Kinh tÕ quèc d©n

sản phẩm khác để thu lợi nhuận cao hơn

7

Ph¹m §øc Hoμi - CN 39 A

LuËn v¨n tèt nghiÖp

Thông qua các hoạt động của các quy luật kinh tế thị trường, người sản suất có lợi thế trong cạnh tranh sẽ tận dụng khả năng của mình để phát triển sản xuất

Thông qua sự hoạt động của các qui luật kinh tế trên thị trường người tiêu dùng buộc phải cân nhắc, tính toán giá thành tiêu dùng của mình. Do đó thị trường có vai trò to lớn đối với việc hướng dẫn người tiêu dùng

Trong quá trình tái sản suất, không phải người sản xuất tự thực hiện lưu thông, tự đặt ra mức chi phí thấp hơn hoặc bằng mức trung bình của Xã hội. Do đó thị trường có vai trò vô cùng quan trọng đối với kích thích tiết kiệm chi phí, tiết kiệm lao động

d Chức năng thông tin

Thông tin thị trường về tổng số cung và tổng số cầu, cơ cấu cung cầu, quan hệ cung cầu về từng loại hàng hoá, giá cả,thị trường, các yếu tố ảnh hưởng đến thị trường, đến mua và bán, các quan hệ về tỷ lệ đối với từng loại sản phẩm

Thông tin thị trường có vai trò vô cùng quan trọng đối với quản lý kinh tế. Trong quản lý kinh tế, một trong những nội dung quan trọng nhất là ra quyết định. Để có quyết định thì phải có thông tin. Các thông tin quan trọng nhất là các thông tin từ thị trường. Bởi vì các thông tin đó là khách quan, được Xã hội thừa nhận

3 Các cách phân loại thị trường

Một trong những điều kiện cơ bản để sản xuất kinh doanh có hiệu quả là Doanh nghiệp hiểu biết về thị trường và việc nghiên cứu phân loại thị trường là rất cần thiết. Có bốn cách phân loại thị trường như sau

3.1 Phân loại theo phạm vi lãnh thổ

-Thị trường địa phương: Bao gồm tập hợp khách hàng trong phạm vi địa

§¹i häc Kinh tÕ quèc d©n

phương nơi thuộc địa phận phân bố của Doanh nghiệp

8

Ph¹m §øc Hoμi - CN 39 A

LuËn v¨n tèt nghiÖp

-Thị trường vùng: Bao gồm tập hợp các khách hàng ở một vùng địa lý nhất định. Vùng này được hiểu như một khu vực địa lý rộng lớn có sự đồng nhất về kinh tế – Xã hội

-Thị trường toàn quốc: Hàng hoá và dịch vụ được lưu thông trên tất cả

các vùng, các địa phương của một nước

-Thị trường quốc tế: Là nơi diễn ra các giao dịch buôn bán hàng hoá và

dịch vụ giữa các chủ thể kinh tế thuộc các quốc gia khác nhau

3.2 Phân loại theo mối quan hệ giữa người mua và người bán

-Thị trường cạnh tranh hoàn hảo: Trên thị trường này có nhiều người

mua và người bán cùng một thứ hàng hoá và dịch vụ. Hàng hoá đó mang tính

đồng nhất và giá cả là do thị trường quyết định

-Thị trường cạnh tranh không hoàn hảo: Trên thị trường có nhiều người

mua và người bán cùng một loại hàng hoá, sản phẩm nhưng chúng không

đồng nhất. Điều này có nghĩa là loại hàng hoá sản phẩm đó có nhiều kiểu

dáng, mẫu mã, bao bì, nhãn mác, kích thước... khác nhau

Giá cả hàng hoá được ấn định một cách linh hoạt theo hình thức tiêu thụ

trên thị trường

-Thị trường độc quyền: Trên thị trường chỉ có một hoặc một nhóm người

liên kết với nhau cùng sản suất ra một loại hàng hoá. Họ có thể kiểm soát

hoàn toàn số lượng dự định bán ra thị trường cũng như giá cả của chúng

3.3 Phân loại theo mục đích sử dụng của hàng hoá

-Thị trường tư liệu sản suất: Đối tượng hàng hoá lưu thông trên thị

trường là các loại tư liệu sản xuất như nguyên vật liệu, năng lượng, động lực,

máy móc, thiết bị

-Thị trường tư liệu tiêu dùng: Đối tượng hàng hoá lưu thông trên thị trường là

các vật phẩm tiêu dùng phục vụ trực tiếp nhu cầu tiêu dùng của dân cư như:

§¹i häc Kinh tÕ quèc d©n

Quần áo, các loại thức ăn chế biến, đồ dùng dân dụng ...

9

Ph¹m §øc Hoμi - CN 39 A

LuËn v¨n tèt nghiÖp

3.4 Phân loại theo quá trình tái sản xuất của Doanh nghiệp

-Thị trường đầu vào: Là nơi Doanh nghiệp thực hiện các giao dịch

nhằm mua các yếu tố đầu vào cần thiết cho sản xuất. Có bao nhiêu yếu tố đầu

vào thì có bấy nhiêu thị trường đầu vào (Thị trường lao động, thị trường tài

chính chính- tiền tệ, thị trường khoa học- công nghệ, thị trường bất động

sản...)

-Thị trường đầu ra: Là nơi Doanh nghiệp tiến hành các giao dịch nhằm bán các sản phẩm đầu ra của mình. Tuỳ theo tính chất sử dụng sản phẩm hàng hoá của Doanh nghiệp mà thị trường đầu ra là thị trường tư liệu sản suất hay tư liệu tiêu dùng

4 Các yếu tố hợp thành thị trường

Thị trường ra đời và phát triển gắn liền với nền sản suất hàng hoá, sự

phân công lao động Xã hội và việc sử dụng đồng tiền làm đồng tiền làm thước

đo trong quá trình trao đổi hàng hoá và dịch vụ. Từ đó ta thấy thị trường

muốn tồn tại và phát triển phải có đủ các các điêù kiện sau;

- Phải có khách hàng tức là phải có người mua hàng hoá và dịch vụ

- Phải có người cung ứng tức người bán hàng hoá và dịch vụ

- Người bán hàng hoá và dịch vụ cho người mua phải được bồi hoàn (

được trả giá)

Như vậy bất kì thị trường nào cũng chứa đựng ba yếu tố là: cung- cầu-

giá cả hàng hoá và dịch vụ và ba yếu tố này có mối quan hệ chặt với nhau và

hợp thành thị trường

4.1 Yếu tố cung

Cung của một hàng hoá hoặc dịch vụ là khối lượng hàng hoá hoặc dịch

vụ mà người bán sẵn sàng bán ở mỗi mức giá nhất định với các điều kiện

khác không đổi

Trên thị trường chỉ có những lọai hàng hoá có nhu cầu mới được cung

§¹i häc Kinh tÕ quèc d©n

ứng và phải chú ý hàng hoá được cung ứng không phải bằng bất cứ giá nào

10

Ph¹m §øc Hoμi - CN 39 A

LuËn v¨n tèt nghiÖp

mà phải căn cứ vào khả năng sẵn sàng bán. Cần phải nhận thấy rằng điều mấu

chốt mà người tiêu dùng quan tâm khi mua một loại hàng hoá hay dịch vụ

chính là những lợi ích cho việc tiêu dùng hàng hoá hay dịch vụ đem lại. Như

vậy, những hàng hoá và dịch vụ nào người kinh doanh đem cung ứng chỉ là

những phương tiện chuyền tải những lợi ích mà người tiêu dùng chờ đợi. Do

vậy, nhiệm vụ đặt ra cho nhà kinh doanh là phải xác định được nhu cầu, lợi

ích của người tiêu dùng để từ đó sản suất và cung ứng những hàng hoá và

dịch vụ để có thể đảm bảo tốt nhất những lợi ích cho người tiêu dùng

4.2 Yếu tố cầu

Cầu về một loại hàng hoá, dịch vụ là khối lượng hàng hoá hoặc dịch vụ mà người mua sẵn sàng mua và có khã năng thanh toán ở mỗi mức giá nhất định với các điều kiện khác không thay đổi

Trong thực tế cuộc sống chúng ta hiểu rằng, nhiều người thích mua hàng hoá là do sự tác động của nhiều yếu tố, thể hiện chung qua mức độ hấp dẫn của hàng. Muốn tạo ra sự hấp dẫn hàng hoá của Doanh nghiệp mình so với hàng hoá của đối thủ cạnh tranh khác thì Doanh nghiệp cần tạo cho nó một khả năng thích ứng lớn hơn với nhu cầu. Vì vậy, nghiên cứu để nhận dạng và hiểu biết cặn kẽ nhu cầu của khách hàng trở thành vấn đề cốt lõi của Doanh nghiệp, trong đó phải đặc biệt chú ý đến nhu cầu có khả năng thanh toán. Doanh nghiệp có thể chế tạo nhiều loại hàng hoá với những đặc tính cực kì hoàn mĩ, rút cục họ cũng chẳng bán được bao nhiêu nếu không bám sát vào nhu cầu của thị trường. Hơn nữa, nếu chi phí suất của nó là quá lớn , giá quá cao thì người ta không thể mua được mặc dù người ta rất thích dùng nó. Do vậy mong muốn hay nhu cầu tiềm năng không thể biến thành nhu cầu thực, thành sức mua của hàng hoá

§¹i häc Kinh tÕ quèc d©n

Chừng nào nhà kinh doanh đoán biết được khách hàng cần những loại hàng hoá nào với những đặc điểm gì là đặc trưng quan trọng nhất? Để tạo ra nó người ta phải tốn chi phí bao nhiêu? Tương ứng với nó là mức giá nào?... thì khi đó họ mới thực sự mới nắm bắt được nhu cầu của khách hàng và mới hi vọng đem lại hiệu quả cao trong kinh doanh

11

Ph¹m §øc Hoμi - CN 39 A

LuËn v¨n tèt nghiÖp

4.3 Giá cả thị trường

Về mặt giá trị, giá cả là biểu hiện bằng tiền mà người mua phải trả cho người bán để có được giá trị sử dụng của của một loại hàng hoá hay dịch vụ nào đó. Giá cả trên thị trường thường được xác định bằng sự gặp gỡ giữa cung và cầu. Nó phản ánh việc đáp ứng nhu cầu của thị trường về hàng hoá và dịch vụ, luôn luôn gắn liền với việc sử dụng các nguồn lực có hạn của Xã hội và phải được trả giá

Đối với người tiêu dùng, giá cả hàng hoá luôn luôn được coi là yếu tố đầu tiên để họ đánh giá phần lợi thu được và chi phí phải bỏ ra để sở hữu và tiêu dùng hàng hoá đó. Vì vậy, những quyết định về giá luôn giữ vai trò quan trọng và phức tạp nhất mà Doanh nghiệp phải đối mặt. Thông thường thị trường xác định giá trần của hàng hoá, mặc dù vậy trong một thị trường Doanh nghiệp có thể thay đổi giá cả, khi đó Doanh nghiệp cần đặc biệt quan tâm đến mối quan hệ giữa giá cả và nhu cầu, tốc độ co dãn của cầu đối với giá

5 Các nhân tố ảnh hưởng tới thị trường

5.1 Nhân tố vĩ mô

• Nhân khẩu học

Nhân khẩu học nghiên cứu dân cư theo các quan điểm con người, qui mô và tốc độ tăng dân số, mật độ, sự di chuyển dân cư, trình độ học vấn... Thị trường vốn do con người hợp thành. Mục tiêu hoạt động sản suất kinh doanh cũng xuất phát từ nhu cầu của con người, nhằm phục vụ con người và hướng tới con người. Qui mô và tốc độ tăng dân số phản ánh trực tiếp quy mô nhu cầu khái quát trong hiện tại và trong tương lai. Do đó nó cũng thể hiện sự phát triển hay suy thoái của thị trường

Dân số tăng kéo theo nhu cầu của con người cũng tăng và thị trường cũng tăng với sức mua khá lớn, nhưng nếu sức mua giảm sút thì thị trường sẽ bị thụ hẹp

Sự gia tăng số người có học vấn làm sinh động thị trường hàng hoá chất

§¹i häc Kinh tÕ quèc d©n

lượng cao ( sách vở, báo chí, công nghệ và du lịch )

12

Ph¹m §øc Hoμi - CN 39 A

LuËn v¨n tèt nghiÖp

Sự thay đổi về cơ cấu tuổi tác trong dân cư sẽ dẫn tới tình trạng thay đổi cơ cấu khách hàng tiềm năng theo độ tuổi. Đến lượt nó, những thay đổi này sẽ tác động quan trọng đến cơ cấu tiêu dùng và nhu cầu về các loại hàng hoá

• Kinh tế

Môi trường kinh tế trước hết được phản ánh qua tình hình phát triển và

tốc độ tăng trưởng kinh tế chung và cơ cấu nghành kinh tế, cơ cấu vùng. Tình

hình đó có thể tạo nên tính hấp dẫn về thị trường và sức mua khác nhau đối

với các thị trường khác nhau. Bởi vì ngoài bản thân con người ra thì sức mua

của họ cũng rất quan trọng đối với các thị trường. Nói chung sức mua phụ

thuộc vào mức thu nhập hiện tại, giá cả hàng hoá, số tiền tiết kiệm, khả năng

vay nợ của khách hàng, tỷ lệ thất nghiệp, lãi suất vay tín dụng

Môi trường kinh tế ảnh hưởng đến cơ cấu chi tiêu của người tiêu dùng.

Những người thuộc tầng lờp thượng lưu thường là thị trường của các loại mặt

hàng xa xỉ và ngược lại tầng lớp hạ lưu trong Xã hội buộc phải ính toán từng

xu ngay cả khi mua những cái không thể đừng. Trong thời kì nền kinh tế tăng

trưởng thì cơ hội phát triển thị trường sẽ thuận lợi hơn rất nhiêù so với thời kỳ

nền kinh tế suy thoái

• Tự nhiên

Môi trường tự nhiên bao gồm hệ thống các yếu tố tự nhiên ( khí hậu,

đất đai, nguyên vật liệu, năng lượng dùng cho sản suất...) ảnh hưởng nhiều

mặt tới các nguồn lực đầu vào cần thiết cho các Doanh nghiệp và do vậy

chúng có thể gây biến động lớn trên thị trường

Sự thiếu hụt nguồn nguyên liệu thô, sự gia tăng chi phí năng lượng, sự

cạn kiệt của các nguyên liệu không phục hồi như dầu mỏ, than đá, các loại

khoáng sản khác ngày càng chở nên quan trọng. Xu thế chung đòi hỏi các

Doanh nghiệp phải tìm kiếm, nghiên cứu sử dụng các nguồn nguyên liệu khác

§¹i häc Kinh tÕ quèc d©n

để thay thế

13

Ph¹m §øc Hoμi - CN 39 A

LuËn v¨n tèt nghiÖp

Hoạt động công nghiệp hầu như bao giờ cũng gây tổn hại cho môi

trường. Các nhà chức trách đang lên tiếng kêu gọi mọi người cùng suy nghĩ

về cách loại trừ các chất thải độc hại phát sinh trong quá trình sản suất và

trong quá trình sử dụng sản phẩm. Ngày nay, ý thức bảo vệ môi trường của

người dân đang lên cao nên đòi hỏi các doanh nghiệp phải tạo ra những sản

phẩm có độ an toàn cao về sinh học và môi trường, mặc dù giá cả có thể tăng

thêm nhưng người tiêu dùng vẫn chấp nhận. Thị trường về các sản phẩm

mang nhiều chất độc hại tới môi trường qua đó bị thu hẹp và thị trường công

nghệ xử lý các chất thải được mở rộng hơn

• Công nghệ kĩ thuật

Khoa học kĩ thuật và khoa học ứng dụng là lực lượng mang đầy kịch tính nhất. Nó chứa đựng trong đó các bí quyết dẫn đến thành công cho các Doanh nghiệp. Hệ thống khoa học công nghệ đã sinh ra cả những điều kì diệu lẫn những nỗi khủng khiếp cho nhân loại. Môi trường công nghệ gây tác động mạnh tới sức sáng tạo sản phẩm và cơ hội tìm kiếm thị trường mới. Sự cạnh tranh về kĩ thuật công nghệ mới không chỉ cho phép các Doanh nghiệp giành được thắng lợi mà còn thay đổi bản chất của quá trình cạnh tranh, bởi vì chúng có ảnh hưởng đến chi phí sản xuất và năng xuất lao động. Mỗi khi trên thị trường xuất hiện một công nghệ mới sẽ làm mất đi vị trí vốn có của công nghệ cũ, máy photocopy đã gây thiệt hại cho nền sản xuất giấy than, còn vô tuyến truyền hình lại gây thiệt hại cho ngành chiếu phim

Ngày nay, khoa học kĩ thuật đang không ngừng phát triển và làm xuất hiện những khả năng vô tận thị trường năng lượng mặt trời, thị trường máy vi tính các loại, thị trường thuốc và dụng cụ y tế với tính năng thần kì chữa các loại bệnh hiểm nghèo như ung thư, gan, phổi, thay đổi gen ADN... Do vậy các Doanh nghiệp cần phải nắm bắt và hiểu rõ được bản chất của những thay đổi trong môi trường công nghệ kĩ thuật cùng nhiều phương thức khác nhau. Mặt khác phải cảnh giác và kịp thời phát hiện các khả năng xấu có thể xẩy ra gây thiệt hại tới người tiêu dùng

• Chính trị

§¹i häc Kinh tÕ quèc d©n

Môi trường chính trị bao gồm hệ thống luật pháp, các công cụ chính sách của nhà nước, cũng như các cơ chế điều hành của Chính phủ. Tất cả đều

14

Ph¹m §øc Hoμi - CN 39 A

LuËn v¨n tèt nghiÖp

tác động đến thị trường thông qua sự khuyến khích hay hạn chế các Doanh nghiệp tham gia thị trường

Luật pháp ra đời là để điều tiết hoạt động sản suất kinh doanh. Nó bảo vệ lợi ích cho Doanh nghiệp trước sự cạnh tranh không lành mạnh, bảo vệ lợi ích người tiêu dùng trước những việc làm gian giối như sản xuất hàng kém chất lượng, quảng cáo không đúng sự thật, đánh lừa khách hàng bằng thủ đoạn bao bì, nhãn gói và mức giá cả, bảo vệ lợi ích tối cao của Xã hội, chống lại sự lộng hành của các nhà sản suất

Môi trường chính trị ảnh hưởng rất lớn đến thị trường. Chẳng hạn như việc điều hành xuất nhập khẩu của Chính phủ, nếu giá cả, số lượng, thời điểm ... hàng nhập khẩu không được điều hành tốt đều có thể làm cho thị trường trong nước biến động

• Văn hoá Xã hội

Môi trường văn hoá bao gồm bao gồm các nhân tố đa dạng như: Phong tục, tập quán, các giá trị văn hoá truyền thống, thái độ, thị hiếu, thói quen, định hướng tiêu dùng... của mỗi dân tộc

Những giá trị văn hoá đôi khi sẽ chở thành “ hàng rào gai góc” đối với việc thâm nhập thị trường của Doanh nghiệp. Các giá trị văn hoá truyền thống khó thay đổi tác động mạnh mẽ tới thái độ hành vi và tiêu dùng hàng hoá của các cá nhân, nhóm người

Tuy nhiên, những giá trị văn hoá mang tính thứ phát thì dễ thay đổi hơn và sẽ tạo ra cơ hội thị trường hay khuynh hướng tiêu dùng mới. Do vậy các Doanh nghiệp cần phải chú ý thích đáng tới yếu tố văn hoá trước khi tiến hành tham nhập hay phát triển thị tường nào đó

Ngày nay, đặc trưng môi trường văn hoá ở Việt nam đang thay đổi theo xu hướng tôn trọng các giá trị truyền thống của dân tộc, đồng thời mong muốn thoả mãn nhu cầu một cách nhanh chóng và có định hướng chí tụê trong tiêu dùng

5.2 Nhân tố vi mô

§¹i häc Kinh tÕ quèc d©n

• Nhóm nhân tố thuộc về bản thân Doanh nghiệp

15

Ph¹m §øc Hoμi - CN 39 A

LuËn v¨n tèt nghiÖp

Nhiệm vụ cơ bản của Doanh nghiệp là thoả mãn tốt nhất nhu cầu về tiêu dùng hàng hoá của thị trường. Công việc này thành công hay không lại phụ thuộc vào nhiều nhân tố và lực lượng. Trước hết là các chính sách và định hướng phát triển do ban lãnh đạo Doanh nghiệp vạch ra. Tuỳ thuộc vào từng giai đoạn cụ thể, từng thực trạng kinh doanh của mỗi Doanh nghiệp mà họ có thể có những kế hoạch ngắn hạn, trung hạn và dài hạn phù hợp. Đối với một Doanh nghiệp muốn đứng vững trên thị trường thì bộ phận lãnh đạo phải đưa ra mục tiêu, chiến lược, phương châm và quyết định trên cơ sở lợi ích chung của tập thể và chúng phải chứa đựng trong đó thế mạnh tổng hợp của mọi bộ phận. Phòng tài chính quan tâm đến vấn đề về vốn và hiệu quả sử dụng vốn, phòng vật tư chú trọng giải quyết việc bảo đảm cung cấp đủ, đúng thành phẩm, bán thành phẩm cần thiết, phòng kế toán theo dõi chặt chẽ các khoản thu chi, phòng thiết kế kĩ thuật bảo đảm về chất lượng, độ an toàn, độ bền đẹp của sản phẩm. Tất cả phải được hợp tác chặt chẽ với phòng thị trường

• Các nhà cung cấp

Những người cung ứng là các tổ chức và các cá nhân đảm bảo cung cấp cho Doanh nghiệp và các đối thủ cạnh tranh những yếu tố cần thiết để sản suất ra hàng hoá, dịch vụ nhất định. Để sản suất vải lụa, họ phải mua sợi, bông,thuốc nhuộm và cả sức lao động, máy móc thiết bị, năng lượng và các vật tư cần thiết khác. Bất kì sự biến đổi nào từ phía những người cung ứng đều ảnh hưởng đến thị trường tiêu thụ sản phẩm của Doanh nghiệp. Người sản suất phải luôn theo dõi đầy đủ các thông tin có liên quan đến thực trạng số lượng, chất lượng, giá cả... hiện tại và tương lai của các yếu tố nguồn lực cho sản suất hàng hoá và dịch vụ. Nguồn lực khan hiếm, giá cả tăng trước hết có thể làm xấu đi cơ hội thị trường cho việc kinh doanh những hàng hoá và dịch vụ nhất định, thậm chi phải ngừng sản suất

• Khách hàng

§¹i häc Kinh tÕ quèc d©n

Khách hàng của Doanh nghiệp là đối tượng mà Doanh nghiệp phục vụ, là yếu tố quyết định đến sự thành bại của Doanh nghiệp, bởi vì khách hàng tạo nên thị trường, qui mô khách hàng tạo nên qui mô thị trường. Khách hàng có thể là người tiêu dùng, các tổ chức mua bán thương mại, nhà bán buôn, các

16

Ph¹m §øc Hoμi - CN 39 A

LuËn v¨n tèt nghiÖp

trung gian, các cơ quan nhà nước, các tổ chức quốc tế. Nhu cầu của họ luôn luôn biến đổi và do đó người bán cần nghiên cứu kĩ những biến động đó

• Các trung gian phân phối và tiêu thụ

Những người trung gian và các hãng phân phối chuyên nghiệp đóng vai trò rất quan trọng trong việc hỗ trợ cho các Doanh nghiệp đi lên, tiêu thụ và phổ biến hàng hoá đối với khách hàng. Họ có thể là những người môi giới thương mại, đại lý, người bán buôn, bán lẻ, tổ chức dịch vụ marketing, lưu thông hàng hoá, tổ chức tài chính tín dụng. Những tổ chức này có ảnh hưởng trực tiếp tới hình ảnh của Doanh nghiệp trên thị trường, ảnh hưởng tới chất lượng dịch vụ, tính sáng tạo và chi phí, vì vậy điều nên làm đối với các Doanh nghiệp là phải cân nhắc cẩn thận trước khi quýêt định công tác với một loại hình trung gian phân phối cụ thể nào. Cần phải tiến hành đánh giá hoạt động của họ để tránh bị ràng buộc, đồng thời thiết lập những mối quan hệ bền vững với những tổ chức có tính chất quyết định nhất đối với mình

• Các đối thủ cạnh tranh

§¹i häc Kinh tÕ quèc d©n

Cạnh tranh là quy luật của nền kinh tế thị trường. Mỗi quyết định của đối thủ cạh tranh đều ảnh hưởng tới thị trường nói chung và của Doanh nghiệp nói riêng. Nhiều Doanh nghiệp cứ lầm tưởng người tiêu dùng có nhu cầu về giá trị hàng hoá của mình nhưng về bản chất là họ cần giá trị sử dụng hàng hoá đó và trên thị trường có rất nhiều sản phẩm thay thế cho họ lựa chọn, đôi khi các nhu cầu này bị triệt tiêu nhau, tức sự thành công của doanh nghệp này lại chính là sự thất bại của Doanh nghiệp khác, sự phát triển thị trường của Doanh nghiệp này chính là sự thu hẹp thị trường của doanh nghiêp khác và ngược lại. Vì vậy, mọi Doanh nghiệp không thể bỏ qua yếu tố cạnh tranh

17

Ph¹m §øc Hoμi - CN 39 A

LuËn v¨n tèt nghiÖp

II MỐI QUAN HỆ GIỮA CÔNG TÁC TIÊU THỤ VÀ THỊ TRƯỜNG TIÊU THỤ

1 Quan điểm cơ bản về công tác tiêu thụ

1.1. Thực chất của công tác tiêu thụ

Tiêu thụ sản phẩm là giai đoạn tiến hành sản suất của bất kì nhà sản suất nào. Mà thực chất đó là quá trình thu hồi lại giá trị đã bỏ ra trong sản suất bằng cách bán các sản phẩm của mình

Như vậy xét về mặt nội dung của công tác tiêu thụ sản phẩm nó bao

gồm những vấn đề cơ bản sau

a Nghiên cứu thị trường, tổ chức thu thập thông tin về nhu cầu sản phẩm

Trong bất kì một Doanh nghiệp nào, muốn có một quyết định đúng đắn thì phải dựa trên những tông tin thu thập được. Đối với công tác tiêu thụ sản phẩm, để có được một chiến lược sản phẩm hợp lý, một mạng lưới phân phối tiêu thụ có hiệu quả nhất thì phải nghiên cứu nhu cầu thị trường. Việc nghiên cứu nhu cầu thị trường phải coi trọng là hoạt động có tính chất tiên đề của công tác kế hoạch hoá hoạt động sản suất Doanh nghiệp công nghiệp. Nó có tầm quan trọng trong việc xác định đúng đắn phương hướng sản xuất kinh doanh. Trong quá trình nghiên cứu thị trường Doanh nghiệp cần thu thập các thồng tin về thị trường như:

• Qui mô thị trường

Việc xác định qui mô thị trường rất có lợi cho Doanh nghiệp, đặc biệt khi Doanh nghiệp dự định tham gia vào một thị trường hoàn toàn mới. Khi xác định được qui mô thị trường thì Doanh nghiệp có thể biết được tiềm năng của thị trường đối với mình. Người ta có thể đánh giá qui mô thị trường bằng các tiêu thức khác nhau

-Số lượng người tiêu dùng

- Khối lượng hiện vật hàng hoá tiêu thụ

- Doanh số bán thực tế

§¹i häc Kinh tÕ quèc d©n

• Môi trường dân cư

18

Ph¹m §øc Hoμi - CN 39 A

LuËn v¨n tèt nghiÖp

Doanh nghiệp cần nắm được số dân, cơ cấu dân cư theo tuổi, theo nghề nghiệp, theo vùng để từ đó xác định được khối lượng sản phẩm thoả mãn những bộ phận cơ cấu dan cư ấy

• Môi trường kinh tế

Môi trường kinh tế ảnh hưởng đến quá trình sản xuất kinh doanh của Doanh nghiệp thông qua việc tác động đến các yếu tố đầu vào. Bên cạnh đó nó cũng ảnh hưởng đến khối lượng tiêu thụ của Doanh nghiệp do đó làm thay đổi thu nhập của người dân

• Môi trường văn hoá

Cần phải nắm được tỷ lệ dân cư theo trình độ văn hoá, tôn giáo, tín ngưỡng, phong tục tập quán của từng vùng, từng tầng lớp cũng như lối sống, nguyên tắc và các gía trị Xã hội

• Môi trường công nghệ

Doanh nghiệp phải biết trình độ phát triển kĩ thuật và công nghệ ở các

khu vực và các vùng và các khu vực đó

• Môi trường luật pháp

Doanh nghiệp phải nắm chắc các nguyên tắc chủ yếu có tác động đến

hoạt động của mình và phải tuân thủ các nguyên tắc đó

b Xây dựng và lựa chọn chiến lược sán phẩm và chiến lược thị trường

Ngày nay khoa học kĩ thuật đã chở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, do vậy nhiều hàng hoá đồng dạng xuất hiện ngày càng nhiều trên thị trường và do sự cạnh tranh ngày càng chở nên gay gắt và quyết liệt, nhân tố của sự cạnh tranh đó là sự chuỷên đổi từ giá cả sang chất lượng sản phẩm. Trước tình hình đó nhiều Doanh nghiệp đã tìm cách cải tiến, nâng cao chất lượng sản phẩm liên tục đưa ra thị trường những sản phẩm mới. Việc đưa ra những sản phẩm mới sẽ đem lại những lợi ích sau đây:

- Đối phó và giải quýêt kịp thời với hiện tượng trì trệ của sán xuất kinh

§¹i häc Kinh tÕ quèc d©n

doanh đảm bảo sự hoạt động liên tục của hoạt động sản suất kinh doanh

19

Ph¹m §øc Hoμi - CN 39 A

LuËn v¨n tèt nghiÖp

- Hiệu quả kinh tế cao do thu được lợi nhuận: Trong cơ chế thị trường hiện nay, do có sự cạnh tranh gay gắt giữa các Doanh nghiệp nên việc xác định chiến lược sản phẩm đúng lại càng có tầm quan trọng. Nội dung của chiến lược sản phẩm bao gồm những vấn đề

+ Xác định xem các loại sản phẩm mà Doanh nghiệp đã và đang sản xuất kinh doanh có còn được thị trường và giới tiêu thụ chấp nhận nữa hay không

+ Nếu như những sản phẩm đang sản xuất kinh doanh không được thị trường và giới tiêu thụ chấp nhận nữa thì phải tiến hành đa dạng hoá sản phẩm như thế nào cho có hiệu quả

+ Thời điểm thay đổi sản phẩm cũ được tién hành vào lúc nào là thích

hợp. Ngày nay, ngoài các sản phẩm chuỳên thống hoặc đã có một thời gian

sản suất nhất định, các Doanh nghiệp cần phải phát sinh sản phẩm mới. Sản

phẩm mới đối với các Doanh nghiệp có thể thuộc các dạng cải tiến, hoàn hiện,

mới hoàn toàn. Điều đặc biệt cần chú ý là dù thuộc dạng nào các sản phẩm

nào phải đảm bảo thoả mãn tốt hơn nhu cầu thị trường và người tiêu dùng thì

mới tiêu thụ nhanh tạo ra thị trường mới và đạt hiệu quả kinh tế cao

- Việc phát triển sản phẩm mới là nhu cầu có tính khách quan đối với

Doanh nghiệp vì

+ Mỗi loại sản phẩm đều có chu kì sống do đó việc tạo sản phẩm mới

để thay thế sản phẩm cũ là tất yếu

+ Việc phát triển sản phẩm mới là phù hợp với yêu cầu của cuộc cách

mạng khoa học kĩ thuật

+ Có phát triển sản phẩm mới, mới đảm bảo được yêu cầu phát triển và

mở rộng thị trường tiêu thụ, bảo đảm sản xuất kinh doanh liên tục với hiệu

quả kinh tế ngày càng cao

* Để phát triển sản phẩm mới có hiệu quả phải có những điều kiện cơ

bản sau:

§¹i häc Kinh tÕ quèc d©n

+ Tổ chức thu thập thông tin về sản phẩm mới

20

Ph¹m §øc Hoμi - CN 39 A

LuËn v¨n tèt nghiÖp

+ Phân tích và xử lý có hiệu quả các thông tin về sản phẩm mới

+ Tổ chức nghiên cứu chế thử sản phẩm mới và đưa vào sản xuất hàng loạt

+ Tổ chức chào hàng, quảng cáo và quyết định thời điểm đưa sản phẩm

mới ra thị trường

c Lựa chọn phương thức tiêu thụ sản phẩm

Trong công tác tiêu thụ sản phẩm, việc lựa chọn phương thức tiêu thụ sản phẩm được coi là vấn đề có tính chất quan trọng bởi vì đây là lúc chuyển giao việc sở hữu sản phẩm từ người sản suất sang người tiêu dùng. Đồng thời đây là giai đoạn thực hiện giá trị và giá trị sử dụng của sản phẩm

Về mặt lý luận cũng như thực tiễn cho thấy có nhiều phương thức, vấn đề đặt ra đối với các Doanh nghiệp là phải lựa chọn phương thức phân phối, tiêu thụ nào là hợp lý nhất và có hiệu quả nhất. Căn cứ vào quá trình vận động của hàng hoá từ sản suất đến người tiêu dùng ta có các phương thức phân phối tiêu thụ như sau

• Phương thức phân phối tiêu thụ trực tiếp

Theo phương thức này Doanh nghiệp sẽ bán hàng trực tiếp cho người tiêu dùng thông qua cửa hàng bán và tiêu thị sản phẩm do Doanh nghiệp lập ra

Ưu điểm của phương thức này là: Doanh nghiệp quan hệ trực tiếp với người tiêu dùng và thị trường điêù đó giúp Doanh nghiệp biết rõ về nhu cầu của thị trường, kiểm soát và thống kê được giá cả, có cơ hội để gây uy tín đối với người tiêu dùng, hiểu rõ được tình hình bán hàng do vậy có thể thay đổi kịp nhu cầu về sản phẩm

Nhược điểm: Chi phí cho công tác tiêu thụ khá lớn do phải thiết lập các cửa hàng, mà theo phương thức này thì khả năng phân phối của Doanh nghiệp không được rộng và không được nhiều

• Phương thức tiêu thụ gián tiếp

Phương thức này tiến hành thông qua các khâu trung gian như hệ thống

người bán buôn, người môi giới. Phương thức này được áp dụng đối với các

doanh ngiệp có qui mô sản suất lớn, lượng hàng hoá sản suất ra vượt nhu cầu

§¹i häc Kinh tÕ quèc d©n

tiêu dùng của một vùng, một địa phương...

21

Ph¹m §øc Hoμi - CN 39 A

LuËn v¨n tèt nghiÖp

Ưu điểm của phương thức này là Doanh nghiệp có thể tiêu thụ được

một lượng hàng hoá, dịch vụ lớn mà không phải mất nhiều chi phí vào việc

bán hàng do đó Doanh nghiệp có thể tập chung vốn sản suất, tạo điều kiện

cho Doanh nghiệp chuyên môn hoá sản xuất

Nhược điểm của phương thức này là Doanh nghiệp không thu được lợi

ích tối đa do phải bán buôn và trả tiền hoa hồng cho các đại lý. Mặt khác do

phải qua nhiều khâu trung gian nên Doanh nghiệp nhận thông tin phản hồi từ

khách hàng chậm do đó không kịp thời đưa ra những quyết định và có thể gây

khó khăn cho sản xuất kinh doanh của Doanh nghiệp

• Phương thức phân phối tiêu thụ hỗn hợp

Phương thức này là sự vận dụng cả hai phương thức tiêu thụ trực tiếp

và gián tiếp. Việc sử dụng hai phương thức tiêu thụ này sẽ tận dụng được

những ưu điểm và khắc phục được những nhược điểm của hai phương thức

trên. Nhờ phương thức này mà quá trình phân phối tiêu thụ diễn ra linh hoạt

và đem lại hiệu quả cao. Một điều cần chú ý là giá cả trong phương thức phân

phối hỗn hợp này phải được qui định cho phù hợp. Doanh nghiệp bán lẻ tại

các cơ sở thì không nên bán giá quá rẻ vì nó ảnh hưởng đến lợi ích của các đại

d Công tác hỗ trợ tiêu thụ

Nhằm đẩy nhanh tốc độ tiêu thụ sản phẩm thì Doanh nghiệp cần phải

có những biện pháp hỗ trợ, kích thích tiêu thụ, những biện pháp đó là:

• Quảng cáo

§¹i häc Kinh tÕ quèc d©n

Là nghệ thuật sử dụng các phương tiện thông tin đại chúng nhằm tuyên chuyền cho các phần tử trung gian và cho người tiêu dùng cuối cùng nhận biết về sản phẩm của Doanh nghiệp trong một khoảng thời gian và không gian nhất định. Quảng cáo làm cho hàng hoá bán được nhiều hơn, nhanh hơn, làm cho nhu cầu được gợi mở và được biểu hiện nhanh hơn. Quảng cáo là phương tiện hỗ trợ đắc lực cho cạnh tranh, quảng cáo phải bảo đảm tính trung thực

22

Ph¹m §øc Hoμi - CN 39 A

LuËn v¨n tèt nghiÖp

Chức năng của quảng cáo là gây sự chú ý- diễn biến tâm lý đầu tiên. Để

tạo ra sự chú ý thì quảng cáo phải đảm bảo

- Với lượng thời gian đưa tin ngắn nhất nhưng lại chuyền tải được một lượng thông tin nhiều nhất. Lượng thông tin càng cao thì sự chú ý của người nhận tin càng cao

- Số lần lặp lại vừa phải, không gây nhàm chán cho người xem

• Chào hàng

Là một phương pháp chiêu thị qua các nhân viên của Doanh nghiệp đi

tìm kiếm khách hàng để bán hàng

• Hội nghị khách hàng

Trong hội nghị phải đảm bảo có mặt các khách hàng lớn, các mặt hàng quan trọng. Hội nghị phải có các nội dung gợi ý để khách hàng nói về ưu nhược điểm của sản phẩm, những vướng mắc trong mua bán, trong thanh toán, yêu cầu của khách hàng về sản phẩm và nhu cầu trong thời gian tới. Đồng thời trong hội nghị. Doanh nghiệp sẽ công bố các dự án,các chính sách

của mình trong thời gian tới mà có liên quan đến vấn đề tiêu thụ sản phẩm

Ngoài các hình thức trên, tuỳ theo điều kiện cụ thể Doanh nghiệp có thể

linh hoạt áp dụng các hình thức sau:

- Giá theo tỉ lệ khối lượng: Để khuyến khích khách hàng mua nhiều

sản phẩm, Doanh nghiệp sẽ có mức giá thấp dần theo mức tăng khối lượng

sản phẩm tiêu thụ được

- Thanh toán: Doanh nghiệp có thể cho các khách hàng trả chậm

trong một khoảng thời gian nhất định. Nếu khách hàng trả ngay có thể cho

khách hàng hưởng một tỷ lệ hoa hồng nào đó

- Phiếu có thưởng: Khi bán hàng thì Doanh nghiệp phát cho người

tiêu dùng phiếu dự thưởng và tổ chức quay sổ số và phát phần thưởng cho

§¹i häc Kinh tÕ quèc d©n

người trúng thưởng

23

Ph¹m §øc Hoμi - CN 39 A

LuËn v¨n tèt nghiÖp

Tuỳ theo từng Doanh nghiệp và tuỳ theo từng loại sản phẩm mà doanh

ngiệp có thể lựa chọn một hay các hình thức trên để hỗ trợ cho công tác tiêu

thụ của mình

1.2.Vai trò của công tác tiêu thụ

Trong cơ chế thị trường hiện nay, việc tiêu thụ sản phẩm luôn là vấn đề

quan tâm của các Doanh nghiệp công nghiệp. Có tiêu thụ được sản phẩm làm

ra thì Doanh nghiệp mới thu hồi được vốn bỏ ra, mới có thể thông qua đó để

thu được lợi nhuận từ đó mới có tích luỹ để tiến hành tái sản suất mở rộng.

Khi nền kinh tế hàng hoá càng phát triển, cơ chế thị trường được hình thành

và hoàn thiện thì vấn đề tiêu thụ đối với mỗi Doanh nghiệp lại càng khó khăn

và phức tạp. Nó là một chỉ tiêu tổng hợp nhất, thông qua đó mới đánh được

cả một quá trình sản xuất kinh doanh của Doanh nghiệp. Phân tích quá trình

tiêu thụ sản phẩm ta thấy có những vai trò sau:

-Tiêu thụ sản phẩm là khâu quan trọng của quá trình tái sản suất trong

các Doanh nghiệp công nghiệp. Việc tiêu thụ sản phẩm nhanh gọn trên thị

trường sẽ giúp cho các Doanh nghiệp thu hồi được vốn nhanh, từ đó mới có

cơ hội để đầu tư cho quá trình sản suất tiếp theo có hiệu quả. Trong cơ chế thị

trường hiện nay, tiêu thụ sản phẩm với hiệu quả cao là mục tiêu vươn tới của

mọi Doanh nghiệp

-Kết quả đạt được ở khâu tiêu thụ phản ánh kết quả cuối cùng của hoạt

động sản xuất kinh doanh trong các Doanh nghiệp công nghiệp. Sản phẩm

công nghiệp bao gồm cả hai mặt chủ yếu là giá trị và chất lượng. Gía trị là cơ

sở để hình thành giá cả của hàng hoá còn chất lượng sản phẩm là chỉ tiêu

phản ánh tổng hợp của toàn bộ quá trình hoạt động sản suất kinh doanh của

Doanh nghiệp. Khi sản phẩm đưa ra thị trường và được thị trường chấp nhận

tức là thị trường cũng đã chấp nhận gía cả và chất lượng của sản phẩm, điêù

đó làm cho sản phẩm tiêu thụ được nhiêù hơn, lợi nhuận thu được lớn hơn và

§¹i häc Kinh tÕ quèc d©n

tất nhiên hiệu quả kinh doanh thu được sẽ cao hơn

24

Ph¹m §øc Hoμi - CN 39 A

LuËn v¨n tèt nghiÖp

-Tiêu thụ sản phẩm góp phần quan trọng trong việc duy trì phát triển và

mở rộng thị trường tiêu thụ. Rõ ràng khi hoạt động tốt công tác tiêu thụ sẽ làm

cho mối quan hệ giữa Doanh nghiệp với khách hàng khách hàng truyền thống

ngày càng củng cố, mật thiết hơn. Mặt khác uy tín về sản phẩm của Doanh

nghiệp càng được tăng lên, những khách hàng mới và những người tiêu dùng

mới sẽ tìm đến Doanh nghiệp và tiêu dùng sản phẩm của Doanh nghiệp. Đây

chính là cơ sở để Doanh nghiệp mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm của

mình. Doanh nghiệp sẽ nắm bắt được nhu cầu mới cần phải được thoả mãn

của thị trường. Từ đó có kế hoạch sản suất phù hợp, có chính sách tối ưu và

đề ra chiến lược kinh doanh tiếp theo có hiệu quả

-Quá trình hoạt động tích cực ở khâu tiêu thụ góp phần quan trọng

trong việc nâng cao hiệu qủa sản suất kinh doanh được xét trên hai góc độ

khác nhau: Đối với Doanh nghiệp công nghiệp thì mang lại lợi nhuận cao, mở

rộng sản suất, nâng cao đời sống cho cán bộ công nhân viên. Đối với nghành

công nghiệp nói riêng và trong nền kinh tế quốc dân nói chung thì góp phần

tạo ra nhiều của cải vật chất cho Xã hội, làm cho cung cầu hàng hoá được ổn

định, đặc biệt góp phần quan trọng tạo ra nhiều công ăn việc làm cho người

lao động

2. Mối quan hệ giữa công tác tiêu thụ và vấn đề duy trì và mở rộng thị

trường

2.1 Thực chất của vấn đề duy trì và mở rộng thị trường

Duy trì và mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm là việc duy trì và mở

rộng nơi chao đổi, mua bán hàng hoá và dịch vụ. Thực chất của nó là giữ

vững và tăng thêm khách hàng của Doanh nghiệp

Có hai hình thức mở rộng thị trường là

§¹i häc Kinh tÕ quèc d©n

Mở rộng theo chiều rộng: Là việc Doanh nghiệp thực hiện xâm nhập vào thị trường mới, thị trường của đối thủ cạnh tranh và thị trường của những người không tiêu dùng tương đối

25

Ph¹m §øc Hoμi - CN 39 A

LuËn v¨n tèt nghiÖp

Mở rộng thị trường theo chiều sâu là việc Doanh nghiệp khai thác một cách tốt hơn trên thị trường hiện có của Doanh nghiệp bằng cách phân đoạn, cắt lớp thị trường, tìm ra những nhu cầu mới và đáp ứng ngày càng đa dạng và cao hơn về nhu cầu của từng đoạn và từng lớp thị trường đó

Tóm lại việc mở rộng thị trường theo chiều rộng hay chiều sâu cuối cùng phải dẫn đến tăng tổng doanh số bán hàng, tiến tới công suất thiết kế và xa hơn nữa là vượt công suất thiết kế. Để từ đó Doanh nghiệp đầu tư phát triển qui mô lớn hơn

2.2 Mối quan hệ giữa công tác tiêu thụ và vấn đề duy trì và mở rộng thị

trường

Thị trường là nơi gặp gỡ giữa người mua và người bán về sản phẩm hay

dịch vụ. Như vậy thị trường chính là nơi xẩy ra quả trình tiêu thụ, thông qua

thị trường thì sản phẩm hàng hoá mới được chuyển từ người bán sang người

mua. Quá trình tiêu thụ mới được thực hiện tốt thì còn tuỳ thuộc vào đặc điểm

của thị trường

Việc phân khúc và lựa chọn khúc thị trường có khả năng nhất đối với

Doanh nghiệp thì sẽ đẩy nhanh được tốc độ tiêu thụ

Tiêu thụ là quá trình chuyển giao sản phẩm hàng hoá từ người bán

sang người mua trên thị trường. Nếu quá trình tiêu thụ không xẩy ra thì thị

trường chẳng qua chỉ là thị trường giả tạo. Nếu người sản suất tổ chức tốt quá

trình tiêu thụ như sử dụng các hình thức phân phối , các chính sách hỗ trợ tiêu

thụ thì thị trường sẽ được mở rộng

Để thực hiện tốt quá trình tiêu thụ Doanh nghiệp phải tiến hành lập kế

hoạch tiêu thụ là những thông tin thị trường. Doanh nghiệp phải tiến hành

nghiên cứu thu thập thông tin từ thị trường từ đó mới phân tích xem nên đưa

ra thị trường đó loại sản phẩm gì với phương thức tiêu thụ nào

Như vây, giữa thị trường và tiêu thụ không thể tách rời mà nó có tác

§¹i häc Kinh tÕ quèc d©n

động qua lại lẫn nhau, sản phẩm của Doanh nghiệp muốn tiêu thụ được thì

26

Ph¹m §øc Hoμi - CN 39 A

LuËn v¨n tèt nghiÖp

phải có mặt trên thị trường. Doanh nghiệp không thể coi nhẹ vấn đề thị trường

nếu như muốn phát triển hoạt động sản suất kinh doanh của mình

2.3 Sự cần thiết phải duy trì và mở rộng thị trường

Hoạt động sản xuất của Doanh nghiệp chịu nhiều yếu tố tác động từ thị

trường mối quan hệ này được thể hiện thông qua sơ đồ sau

Thị trường lao động

Thị trường nguyên vật liệu

Thị trường trang thiết bị

Doanh nghiệp công nghiệp

Thị trường h(cid:31)ng hoá v(cid:31) dịch vụ

Thị trường công nghệ

Thị trường vốn

( Thị trường đầu vào ) ( Sản xuất ) ( Thị trường đầu ra )

§¹i häc Kinh tÕ quèc d©n

Doanh nghiệp là người mua các yếu tố đầu vào và bán các sản phẩm mình làm ra đều được thực hiện thông qua thị trường. Quy mô của việc mua vào và bán ra này sẽ quyết định quy mô của sản suất. Nếu coi các Doanh nghiệp như các cơ thể sống thì thị trường là nơi đảm bảo các yếu tố cho các sự sống đó và cũng là nơi thực hiện việc chao đổi chất để sự sống đó tồn tại và phát triển. Trên ý nghĩa đó thị trường chính là điều kiện và là môi trường cho các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghệp

27

Ph¹m §øc Hoμi - CN 39 A

LuËn v¨n tèt nghiÖp

Mặt khác, thị trường là tồn tại khách quan, từng Doanh nghiệp chỉ có thể hoạt động thích ứng với thị trường. Mỗi Doanh nghiệp phải nhận biết nhu cầu của thị trường và Xã hội cũng như thế mạnh của mình trong sản xuất. Để có chiến lược, kế hoạch và phương án kinh doanh phù hợp với những đòi hỏi của thi trường và Xã hội

Trong cơ chế thị trường các Doanh nghiệp phải tự hạch toán kinh doanh với phương châm là phải bám vào thị trường để tồn tại và phá triển. Phải nghiên cứu thị trường đầu ra, xác định được dung lượng toàn bộ thị trường và dự báo về khả năng thị phần của mình nhờ lợi thế tương đối

Khi nghiên cứu về sản phẩm của mình thì trước hết phải xác định dung lượng toàn bộ thị trường về loại hàng hoá của mình thông qua các số liệu thống kê và dự báo đồng thời xem xét khả năng của mình có thể sản xuất được bao nhiêu nó sẽ cho biết thị phần của Doanh nghiệp trên thị trường

Lượng hàng hoá tiêu thụ của Doanh nghiệp Thị phần của Doanh nghiệp = Tổng lượng hàng hoá tiêu thụ của thị trường

Mong muốn của mỗi Doanh nghiệp là làm sao để thị phần của mình chiếm một tỉ lệ ngày càng cao hay là tăng dược số lượng hàng bán, tăng doanh thu và tăng lợi nhuận. Khi đó Doanh nghiệp có điều kiện mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh của mình, mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm cho Doanh nghiệp

Nói tóm lại, thị trường của Doanh nghiệp gắn liền với các vấn đề doanh thu, lợi nhuận,uy tín khả năng phát triển của Doanh nghiệp. Mọi yếu trên thị trường của Doanh nghiệp cần được xem xét cả trong hiện tại và trong tương lai. Quá trình duy trì và phát triển thị trường là quá trình đảm bảo cho các yếu tố trên đây luôn được ổn định và phát triển

3. Nguyên tắc của việc mở rộng thị trường

3.1.Mở rộng thị trường trên cơ sở đã đảm bảo vững chắc thị phần hiện có

§¹i häc Kinh tÕ quèc d©n

Đối với Doanh nghiệp, thị trường tiêu thụ ổn định là cơ sở cho hoạt động kinh doanh.Để tạo nên một thị trường tiêu thụ ổn định Doanh nghiệp phải xây dựng và thực hiện các biện pháp khai thác và mở rộng thị trường

28

Ph¹m §øc Hoμi - CN 39 A

LuËn v¨n tèt nghiÖp

hiện có cả về chiều rộng lẫn chiều sâu. Thông qua hoạt động này sẽ nâng cao uy tín sản phẩm của Doanh nghiệp trên thị trường

Mặt khác giữ vững thị trường hiện có là biểu hiện sự ổn định trong sản xuất kinh doanh của Doanh nghiệp. Sự ổn định này lại là tiền đề cho hoạt động tìm kiếm thị trường mới hay mở rộng thị trường. Do đó muốn mở rộng thị trường doanh ngiệp phải đảm bảo vững chắc phần thị trường hiện có và khai thác tối đa tiềm năng của thị trường. Đó là cơ sở để mở rộng thị trường và tạo nên thị trường kinh doanh ổn định

3.2.Mở rộng thị trường phải dựa trên cơ sở huy động tối đa các nguồn lực trong Doanh nghiệp

Mỗi sản phẩm bán ra trên thị trường đều phải thoả mãn các yêu cầu về số lượng, chất lượng và giá cả. Những yêu cầu tuỳ thuộc vào quy mô của thị trường mà sản phẩm cần phải đáp ứng

Trong Doanh nghiệp các nguồn lực như lao động, tài chính, vật tư, thiết bị ... sẽ có ảnh hưởng trực tiếp tới số lượng, chất lượng, giá cả sản phẩm. Mọi kế hoạch sản suất đều dựa trên cơ sở cân đối giữa yêu cầu của thị trường và các khả năng về các nguồn lực trong Doanh nghiệp

Khi Doanh nghiệp mở rộng thị trường , nhu cầu tất yếu sẽ được tăng lên mà các nguồn lực là không đổi dẫn đến sự chênh lệch giữa nhu cầu của thị trường và khả năng của Doanh nghiệp. Do đó muốn mở rộng thị trường Doanh nghiệp cần tìm mọi biện pháp tăng tính hiệu quả và huy động tối đa các nguồn lực để đảm bảo thoả mãn nhu cầu thị trường

3.3.Mở rộng thị trường phải dựa trên cơ sở phân tích đầy đủ các loại nhu cầu và khả năng thanh toán của của người tiêu dùng

§¹i häc Kinh tÕ quèc d©n

Trên thị trường luôn tồn tại mối quan hệ cung cầu của tất cả các loại hàng hoá và dịch vụ. Cơ sở để tạo nên mối quan hệ cung-cầu của một mặt hàng chính là nhu cầu của người tiêu dùng về hàng hoá và dịch vụ đó. Muốn sản xuất đáp ứng được nhu cầu thị trường các Doanh nghiệp phải thường xuyên dựa trên kết quả phân tích các thông tin trong đó phải đặc biệt chú ý đến các thông tin về các nhu cầu có khả năng thanh toán. Trên cơ sở các thông tin thu thập được, Doanh nghiệp chia thành nhóm người tiêu dùng với đầy đủ các đặc điểm của nhóm đó. Những hoạt động trên có ý nghĩa đặc biệt

29

Ph¹m §øc Hoμi - CN 39 A

LuËn v¨n tèt nghiÖp

quan trọng với thị trường mới vì thông qua thu thập, xử lý và rút ra qui mô nhu cầu có khả năng thanh toán, Doanh nghiệp sẽ xây dựng chính sách thâm nhập và chiếm lĩnh thị trường mới. Phân tích đầy đủ nhu cầu sẽ giúp cho Doanh nghiệp tạo được chỗ đứng vững chắc trên thị trường

3.4. Mở rộng thị trường phải phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế Xã hội của Đảng và Nhà nước trong từng thời kì

Mục tiêu phát triển kinh tế Xã hội của Đảng và nhà nước có ảnh hưởng trực tiếp tới những biến động và sự ổn định của thị trừơng. Trong kinh doanh, mọi hoạt động phải tuân thủ pháp luật cả Nhà nưỡc, hướng hoạt động của Doanh nghiệp đi theo các mục tiêu kinh tế- Xã hội đã đặt ra. Mở rộng thị trường của Doanh nghiệp cũng trong khuôn khổ tuân theo qui định cảu pháp luật vì mọi hoạt động vi phạm chính sách sẽ ảnh hưởng xấu tới hoạt kinh doanh của Doanh nghiệp tạo ra sự bất ổn trên thị trường

Do đó mở rộng thị trường tiêu thụ phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế- Xã hội trong từng thời kì, hoạt động có tính nguyên tắc, đảm bảo cho Doanh nghiệp tồn tại và phát triển.

PHẦN II

PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG VỀ THỊ TRƯỜNG TIÊU THỤ SẢN

PHẨM Ở XÍ NGHIỆP MAY ĐO X19 THUỘC CÔNG TY 247- BỘ

QUỐC PHÒNG

I MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ KỸ THUẬT CHỦ YẾU CỦA XÍ NGHIỆP

MAY ĐO X19 ẢNH HƯỞNG TỚI THỊ TRƯỜNG TIÊU THỤ

1 Quá trình hình thành và phát triển của Xí nghiệp may đo X19-Công ty

247-Bộ quốc phòng

Xí nghiệp được thành lập ngày 1/4/1983 theo quyết định của Quân

chủng không quân, lúc đầu chỉ là một phân xưởng may đo phục vụ cho nội bộ

Quân chủng với con số ít ỏi khoảng 30 người, máy móc lạc hậu, kỹ thuật thô

§¹i häc Kinh tÕ quèc d©n

sơ, sản phẩm chỉ là những bộ quân phục được may theo mẫu qui định của

30

Ph¹m §øc Hoμi - CN 39 A

LuËn v¨n tèt nghiÖp

quân chủng. Với sự nỗ lực của công nhân viên, xưởng may đo luôn hoàn

thành tốt nhiệm vụ mà quân chủng giao phó. Thực hiện tốt những chỉ thị của

Đảng và Nhà nước về tăng cường hoạt động kinh tế trong các đơn vị Quân đội

và quán triệt tinh thần bộ đội làm kinh tế. Quân chủng không quân trên cơ sở

đánh giá tốt những kết quả đạt được của xưởng may đo nên đã đề nghị Bộ

quốc phòng cho thành lập Xí nghiệp may X19 phát triển của xưởng may cũ.

Ngày 21/5/1991, Xí nghiệp may X19 chính thức được bộ quốc phòng cho

phép thành lập với nhiệm chủ yếu là:

May đo các loại quân phục cho quân chủng không quân và các đơn vị

Quân đội khác thuộc phía Bắc. Tuy nhiên, cho đến nay theo quyết định số

1820/QD_UB ngày 16/9/1995 của Quân chủng không quân, Xí nghiệp được

quyền mở rộng sản xuất kinh doanh. Đây là một quyết định vô cùng đúng

đắn, sáng suốt của Bộ quốc phòng, tạo điều kiện cho Xí nghiệp mở rộng thị

trường tiêu thụ, có khả năng phục vụ các nhu cầu về quần áo may sẵn cho các

cá nhân, các đơn vị Quân đội hay đơn vị hành chính nhà nứơc.

Sau khi có nghị định 388-NĐ về thành lập lại các Doanh nghiệp nhà

nước, Xí nghiệp may X19 đựơc thành lập lại là một Doanh nghiệp hạch toán

kinh doanh độc lập để phù hợp với sự phát triển của thị trường. Đến tháng

10/1996, thực hiện nghị quyết của Đảng uỷ quân sự Trung ương, Xí nghiệp đã

được xác lập với 3 Xí nghiệp khác thành Công ty 247: Xí nghiệp may X19,

chi nhánh phía Nam chuyên may hàng xuất khẩu, X92 và X93 trực thuộc Bộ

quốc phòng. Năm 1996, Công ty 247 có số vốn sản xuất kinh doanh là khoảng

30 tỷ đồng, mặc dù có doanh thu từ các hoạt động sản xuất kinh doanh là rất

lớn 60 tỷ đồng nhưng tổng lợi nhuận thu được lại không đáng kể chỉ khoảng

350 triệu đồng lại là của riêng X19 còn các thành viên khác đều làm ăn thua

lỗ, thậm chí X92 và chi nhánh phía Nam còn bị thâm hụt vào vốn sản suất

kinh doanh.

Xuất phát từ thực tế này, tháng 12/1997 được sự đồng ý của tư lệnh

§¹i häc Kinh tÕ quèc d©n

quân chủng, với nguyên tắc: Tinh, gọn, hiệu quả trong xây dựng mô hình

31

Ph¹m §øc Hoμi - CN 39 A

LuËn v¨n tèt nghiÖp

trong cơ chế quản lý và điều hành, Công ty 247 đã tách các Xí nghiệp làm ăn

thua lỗ ra chở thành một Công ty 247 với hai thành viên là Xí nghiệp may

X19 và chi nhánh hàng may xuất khẩu ở phía Nam.

Từ ngày được thành lập lại cho tới nay, với nỗ lực cố gắng của ban quản

lý và của toàn thể công nhân viên, Xí nghiệp may X19 đã từng bước đi vào

hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả hơn, giải quyết tốt phần nợ tồn

đọng của Xí nghiệp thành viên cũ, mở rộng sản xuất kinh doanh có lãi và từng

bước đứng vững trên thị trường. Xí nghiệp đã phát huy được hiệu quả sản

xuất kinh doanh của thời kì trước và không ngừng vươn lên và phát triển,

hoàn thiện công tác quản lý và công tác sản xuất tiêu thụ.

Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, Xí nghiệp đã duy trì

một cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý được thể hiện thông qua sơ đồ như sau:

Sơ đồ I.1: Tổ chức bộ máy quản lý của Xí nghiệp may đo X19

GIÁM ĐỐC CÔNG TY

PGĐ KINH DOANH PGĐ KỸ THUẬT

Phòng t(cid:31)i vụ Phòng kinh doanh Phòng h(cid:31)nh chính Phòng chính trị Phòng kế koạch Phòng kỹ thuật Phòng thiết kế

§¹i häc Kinh tÕ quèc d©n

XÍ NGHIỆP MAY X19

32

Ph¹m §øc Hoμi - CN 39 A

LuËn v¨n tèt nghiÖp

Theo sơ đồ trên ta thấy bộ máy quản lý của Xí nghiệp được tổ chức theo

cơ cấu trực tuyến

• Giám đốc là người chỉ huy cao nhất và điều hành mọi hoạt động của

công ty

• Phó giám đốc, các Phòng ban, chức năng là người giúp việc cho giám

đốc

- Phòng kinh doanh: Tổ chức tốt công tác tiêu thụ như phụ trách công tác marketing, quảng cáo, công tác xuất nhập khẩu , ký kết các đơn hàng

Nhiệm vụ của các phòng ban

- Phòng kế hoạch-vật tư: Đảm bảo các yêu cầu về nguyên vật liệu, phụ tùng thay thế, lập và theo dõi tình hình thực hiện kế hoạch. Một chức năng khác là phụ trách tuyển dụng, xa thải lao động và các vấn đề liên quan đến lao động khác

- Phòng chính trị: Có nhiệm vụ chăm lo xây dựng công tác Đảng, công

tác chính trị cho toàn thể công nhân viên trong Xí nghiệp

- Phòng hành chính: Giúp giám đốc quản lý công tác hành chính văn thư, quản lý các phương tiện phục vụ sinh hoạt, tổ chức phục vụ đời sống, chăm lo đời sống tinh thần, sức khoẻ cho cán bộ công nhân viên. Chịu trách nhiệm tiếp khách và phục vụ các hội nghị trong xí nghiệp

§¹i häc Kinh tÕ quèc d©n

- Phòng tài vụ: Trực tiếp làm công tác hạch toán kế toán theo đúng chế độ ban hành, làm nhiệm vụ tham mưu cho giám đốc về toàn bộ hạt đông tài

33

Ph¹m §øc Hoμi - CN 39 A

LuËn v¨n tèt nghiÖp

chính của xí nghiệp, theo dõi hạch toán quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành, xác định kết quả sản xuất kinh doanh của công ty hàng tháng, hàng quí, hàng năm một cách kịp tkời và chính xác. Tham gia phân tích hoạt động kinh tế của công ty giúp giám đốc trong việc ra quyết định điều hành sản xuất, cân đối và xử lý về tài chính, cũng như chính sách tiêu thụ sản phẩm thích hợp, góp phần tạo ra hiệu quả cao trong công ty

- Phòng kỹ thuật: Quản lí công tác kỹ thuật và chất lượng sản phẩm trong công ty. Cụ thể xây dựng qui trình công nghệ, quy phạm ký thuật trong các công đoạn sản xuất, lập kế hoạch trung tu, tiểu tu máy móc thiết bị và sửa chữa bổ xung đầu tư mới thiết bị phụ tùng. Giúp giám đốc theo dõi, xem xét các đề tài cải tiến kĩ thuật, xây dựng kế hoạch tiến độ kỹ thuật. Ngoài ra phòng còn thường xuyên kiểm tra chất lượng sản phẩm góp phần tiết kiệm nguyên vật liệu và bảo đảm chất lượng sản phẩm

- Phòng thiết kế: Nghiên cứu thiết kế sản phẩm mới, đa dạng hoá mẫu

mã phù hợp với nhu cầu người tiêu dùng

Nhìn chung, cơ cấu quản lý của Xí nghiệp đã hình thành các phòng ban chức năng cụ thể. Nhưng các chức năng còn chồng chéo như chưa có phòng tổ chức lao động riêng mà chức năng của phòng lại nằm trong phòng kế hoạch-vật tư. Do vậy gây khó khăn cho sản xuất kinh doanh nói chung và cho công tác quản lý lao động nói riêng. Vì vậy Xí nghiệp cần phải hoàn thiện hơn nữa bộ máy quản lý của mình.

Qua một số quá trình hoàn thiện, đổi mới, cho tới nay Xí nghiệp may X19 đã lựa chọn cơ cấu sản xuất phù hợp với địa hình Doanh nghiệp, đặc điểm sản xuất, đặc điểm sản phẩm như sau:

Sơ đồ I.2: Cơ cấu tổ chức sản xuất của Xí nghiệp may X19

Xí nghiệp X19

§¹i häc Kinh tÕ quèc d©n

Phân xưởng phù ợ r Phân xưởng hục vụ p t Phân xưởng sản xuất chính

34

Phân xưởn cắt g Phân xưởn g Phân xưởn g

Ph¹m §øc Hoμi - CN 39 A

LuËn v¨n tèt nghiÖp

Cơ cấu sản xuất của Xí nghiệp bao gồm các bộ phận sau:

Bộ phận sản xuất chính bao gồm phân xưởng cắt, phân xưởng may cao

cấp và phân xưởng hoàn tất. Bộ phận này chiếm khoảng 80% tài sản của Xí

nghiệp và chiếm 93% tổng số lao động

Bộ phận sản xuất phù trợ bao gồm: Tổ cơ điện bao gồm 6 công nhân với

tay nghề bậc thợ trung bình là 4. Tổ này có nhiệm vụ sửa chữa bảo hành các

thiết bị may, ở Xí nghiệp công tác bảo hành được tiến hành 6 tháng một lần,

các hỏng hóc nhỏ đều được các nhân viên khắc phục ngay. Nhìn chung bộ

phận này đã hoàn thành được nhiệm vụ, máy móc luôn hoạt động tốt, hệ số

hoạt động đều cao. Tuy nhiên bộ phận này phải đảm nhận một công việc khá

lớn, thường xuyên kiểm tra bảo hành cho 400 máy công nghiệp và nhiều thiết

bị chuyên dùng khác do đó nên cần phải bổ xung cho bộ phận này

Bộ phận phục vụ sản xuất gồm: Tổ bảo vệ, tổ y tế, hệ thống kho tàng

phương tiện vận tải và công trình phúc lợi công cộng khác. Bộ phận này gồm

cả hệ thống kho tàng được bố trí một cách hợp lý tạo điều kiện thuận lợi cho

việc di chuyển thành phẩm, bán thành phẩm và nguyên vật liệu. Các kho tàng

mới được tu sửa khang trang, hiện đại, với các kệ, tủ để sắp xếp hàng hoá rất

thuận lợi ngăn nắp, đảm bảo tốt cho công tác dự trữ, lưu kho thành phẩm hay

nguyên vật liệu, tránh mối mọt ẩm ướt ... Hệ thống phòng trống cháy, chống

ẩm được bảo đảm ở khắp mọi nơi, riêng hệ thống chống cháy mới được sửa

sang nâng cấp hiện đại đảm bảo nhanh chóng kịp thời dập tắt lửa khi có hoả

§¹i häc Kinh tÕ quèc d©n

hoạn xảy ra

35

Ph¹m §øc Hoμi - CN 39 A

LuËn v¨n tèt nghiÖp

2 Một số đặc điểm kinh tế kĩ thuật chủ yếu của Xí nghiệp ảnh hưởng đến

thị trường tiêu thụ

2.1 Tính chất và nhiệm vụ sản suất

Xí nghiệp có nhiệm vụ là chuyên may quân phục đông, hè cho cán bộ

chiến sĩ thuộc quân chủng phòng không, không quân và các sản phẩm của các

ngành khác như: ngành Công an, ngành Quản lý thị trường, Kiểm lâm, Hải

quan, Viện kiểm sát, Điện lực,... Bên cạnh đó Xí nghiệp còn sản xuất các sản

phẩm khác như: comple, veston, áo sơ mi, áo jacket, quần âu để phục vụ cho

thị trường trong nước và cho xuất khẩu. Đây là những sản phẩm may cao cấp

và phục vụ cho các thị trường đặc biệt cho nên tính phức tạp trong mỗi sản

phẩm là tương đối cao do đó đòi hỏi trình độ chuyên môn hoá trong Xí nghiệp

phải tương xứng. Xuất phát từ những đặc điểm này mà sản phẩm làm ra của

Xí nghiệp rất phong phú và đa dạng có thể đáp ứng cho nhiều loại khách hàng

khác nhau, tạo điều kiện cho Xí nghiệp duy trì và mở rộng thị trường tiêu thụ

sản phẩm của mình

Hiện nay sản phẩm của Xí nghiệp được thực hiện theo hai giai đoạn

công nghệ là cắt-may và hoàn thiện sản phẩm

Khi vải được xuất kho xuống phân xưởng cắt theo phiếu xuất kho ( ghi

vào cuối ngày trên phòng kế hoạch-vật tư ) Phân xưởng cắt thực hiện công

nghệ cắt- đóng gói đơn chiếc bán thành phẩm, đánh số thứ tự theo từng đơn

hàng. Sau đó bán thành phẩm được chuyển đến hai phân xưởng: Phân xưởng

may chính và phân xưởng may cao cấp. Tại hai phân xưởng này, mỗi một

công nhân phải hoàn thiện sản phẩm hoàn chỉnh. Cũng tại mỗi phân xưởng đó

đều có nhân viên KCS kiểm tra chất lượng sản phẩm cho nên sản phẩm cuả

Xí nghiệp luôn có chất lượng cao tạo uy tín cho Xí nghiệp đối với khách hàng

trong và ngoài nước. Đây là một trong những nhân tố quan trọng giúp cho Xí

nghiệp củng cố và mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm.

Giai đoạn cuối cùng là sản phẩm được chuyển nhập kho thành phẩm và

§¹i häc Kinh tÕ quèc d©n

xuất trả cho khách hàng

36

Ph¹m §øc Hoμi - CN 39 A

LuËn v¨n tèt nghiÖp

2.2 Cơ sở vật chất kỹ thuật

a Kho tàng nhà xưởng

- Diện tích của toàn Xí nghiệp là : 9282 m2

- Diện tích sử dụng: 6280 m2

- Diện tích nhà kho: 500 m2

-Nơi đặt phân xưởng sản xuất: 311-Trường Trinh-Đống Đa-Hà Nội

Đặc điểm chính của kiến trúc nhà xưởng là nhà xây 3 tầng có cầu thang

đi lại thuận tiện cho việc vận chuyển nguyên vật liệu cho các phân xưởng.

Xung quanh phân xưởng được lắp kính tạo ra một không gian rộng rãi thoải

mái cho công nhân. Các phân xưởng đều có hệ thống điều hoà không khí.

đường xá trong Xí nghiệp đều được đổ bê tông

• Nhận xét

Xí nghiệp may đo X19 đã tạo điều kiện làm việc tốt cho công nhân vào

việc đầu tư nhà xưởng, nâng cấp chất lượng môi trường làm việc. Điều đó đã

tạo ra sự an toàn trong sản xuất, vệ sinh cho các sản phẩm làm ra. Chính điều

kiện sản xuất cũng ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm. Do đó để khách hàng

trong và ngoài nước chấp nhận sản phẩm thì tất yếu Xí nghiệp ngày càng phải

hoàn thiện điều kiện làm việc trong nhà xưởng. Điều kiện làm việc tốt cũng

góp phần nâng cao năng xuất lao động của công nhân.

Nhà kho của Xí nghiệp được đặt ở tầng 1 tạo điều kiện dễ dàng cho

việc vận chuyển nguyên vật liệu lên tầng và chuyển thành phẩm từ tầng

xuống. Điều kiện bảo quản nhà kho rất tốt giúp cho sản phẩm không bị hỏng

do bị ẩm hay mất vệ sinh. Với hệ thống nhà kho rộng 500m2 sẽ tạo điều kiện

cho Xí nghiệp dự trữ các khối lượng lớn để cung cấp kịp thời cho các thị

§¹i häc Kinh tÕ quèc d©n

trường khi có nhu cầu tạo điều kiện mở rộng thị trường cho Xí nghiệp

37

Ph¹m §øc Hoμi - CN 39 A

LuËn v¨n tèt nghiÖp

Tuy nhiên do Xí nghiệp nằm trong nội thành nên diện tích mặt bằng

hạn hẹp, Xí nghiệp không thể mở rộng sản xuất, xây dựng thêm kho tàng nhà

xưởng

b Máy móc thiết bị

Do đặc điểm nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của Xí nghiệp là may hàng

phục vụ cho các ngành Quân đội, Công an, Kiểm lâm, Hải quan, Quản lý thị

trường... và cho xuất khẩu do đó Xí nghiệp phải đảm bảo chất lượng sản

phẩm làm ra. Chính vì vậy mà Xí nghiệp đã không ngừng đổi mới máy móc

trang thiết bị, công nghệ. Phần lớn máy móc thiết bị của Xí nghiệp là do Nhật

và Đức chế tạo và có năm sản xuất từ năm 1994 đến năm 1999. Như vậy máy

móc thiết bị và công nghệ của Xí nghiệp thuộc vào loại mới, tiên tiến và hiện

đại đảm bảo cho chất lượng sản phẩm làm ra. Xí nghiệp có 25 loại máy

chuyên dùng khác nhau ( Số liệu cụ thể ở biểu số 1 ). Chính điều này sẽ tạo

cho Xí nghiệp điều kiện làm việc hoàn thiện các công đoạn của quá trình sản

suất sản phẩm, làm cho sản phẩm hoàn thiện hơn, chất lượng tốt hơn, đáp ứng

được yêu cầu khắt khe của khách hàng trong và ngoài nước từ đó tạo lòng tin

đối với khách hàng nâng cao chữ “tín” cho Xí nghiệp góp phần vào việc mở

rộng thị trường.

Biểu II.1: Các loại máy móc thiết bị của Xí nghiệp may X19

stt

Tên thiết bị

ĐVT

Số

Nguyên

Giá trị

Năm sử dụng

§¹i häc Kinh tÕ quèc d©n

38

Ph¹m §øc Hoμi - CN 39 A

LuËn v¨n tèt nghiÖp

lượng

giá

còn lại

1 Máy may một kim bằng brother

1994 Cái

528000000 174240000

80

2 Máy may một kim bằng brother

1995 Cái

132960000

53184000

20

3 Máy may một kim bằng brother

1995 Cái

126181150

81090575

25

4 Máy may một kim bằng juki

1996 Cái

135766400

70598528

20

5 Máy may một kim bằng juki

1996 Cái

95036480

58147725

14

6 Máy may một kim bằng juki

1996 Cái

71825000

44531500

10

7 Máy may một kim bằng juki

1997 Cái

175580064 1229060448

24

8 Máy may một kim bằng juki

1998 Cái

93275710

78351596

11

9 Máy may một kim bằng juki

1999 Cái

167268010 153886570

20

10 Máy may một kim bằng juki

1999 Cái

115946432 111308566

14

11 Máy may một kim bằng juki5

1998 Cái

8475950

7289317

1

12 Máy may 5một kim bằng juki3

1996 Cái

42500000

5

13 Máy may 1một kim bằng juki2

1998 Cái

15

117761700

91854126

14 Máy vắt sổ 2 kim 5 chỉ brother1

1995 Cái

41260992

15541644

3

15 Máy vắt sổ 2 kim 5 chỉ juki1

1997 Cái

27756528

27965527

1

16 Máy vắt sổ 2 kim 3 chỉ juki

1998 Cái

30350000

26708000

2

17 Máy vắt sổ 1 kim 3 chỉ juki

1998 Cái

14825965

12750330

1

18 Phương tiện vận tải xe jeep

1994 Cái

45296000

22648000

1

19 Phương tiện vận tải xe kpa

1994 Cái

30000000

24000000

1

20 Trạm điện, thiết bị điện

1998 Cái

270264600 2096955105

1

21 Máy vắt sổ singer

1996 Cái

18000000

10080000

2

22 Máy vắt gấu

1996 Cái

14300000

8294000

1

23 Máy vắt gấu jukj

1999 Cái

38586415

35499502

1

24 Máy thùa juki

1995 Cái

38292368

19146185

1

25 Máy thùa đầu tròn singer

1996 Cái

150646000

85868220

1

§¹i häc Kinh tÕ quèc d©n

39

Ph¹m §øc Hoμi - CN 39 A

LuËn v¨n tèt nghiÖp

2.3 Nguyên vật liệu

Nguyên vật liệu là yếu tố đầu vào quan trọng của mọi Doanh nghiệp đảm bảo cho quá trình sản xuất diễn ra một cách đều đặn, liên tục. Đặc biệt đối với ngành may mặc, nguyên vật liệu càng chở nên đặc biệt quan trọng vì nó chiếm khoảng 70-> 80% giá trị của giá thành sản phẩm.

Tổng số nguyên vật liệu được sử dụng cho sản suất của Xí nghiệp bao

gồm 17 danh mục sau đây

Biểu II.2: Số lượng vải tiêu thụ của Xí nghiệp may đo X19

Đơn vị tính: Mét

Số lượng stt Chủng loại Năm 1998 Năm 1999 Năm 2000

Ksơmia 1 2328 2425 2500

Royl 2 2793 2910 3000

Accuna 3 3293 3395 3500

Sline 4 3724 3380 4000

Topline 5 2141 2208 2300

Típ si bogo 6 6798 7901 7300

Típ si boy 7 5028 5238 5400

Len tím than 8 132800 242500 250007

9 Típ si tím than VT 5289 5510 5842

10 Típ si tím than BT 79152 82550 875620

11 Len Liên xô 55872 57600 60714

12 Bay zin cỏ úa 176889 182360 188000

13 Vải peco 238378 245760 256120

14 Kaky trắng 34640 36084 37210

15 Lót lụa Nam Định 791520 824500 850106

§¹i häc Kinh tÕ quèc d©n

16 MEX vải 3259 3395 3500

40

Ph¹m §øc Hoμi - CN 39 A

LuËn v¨n tèt nghiÖp

17 MEX giấy 6025 6035 6520

Nguyên vật chính của Xí nghiệp là lót lụa Nam định, vải peco, bayzin cỏ úa và len tím than. Đặc biệt là lót lụa Nam định, nó chiếm tỷ trọng cao nhất trong giá thành sản phẩm. Năm 1998 chiếm 51,06%, năm 1999 chiếm 48,11%, năm 2000 chiếm 49,27% ( Tăng 1,16% so với năm 1999 ). Có thể nói chất lượng lót lụa cũng chính là chất lượng sản phẩm và nó luôn luôn chiếm được cảm tình của khách hàng trên thị trường

• Các nguồn cung ứng nguyên vật liệu

Nguồn cung ứng trong nước: Nguồn cung ứng trong nước của Xí nghiệp hiện nay là các Công ty dệt như: Dệt Nam định, dệt 8/3, dệt 10/10, dệt Phước long... Đây là những Công ty có uy tín trên thị trường nhờ chất lượng vải tốt và giá cả phải chăng. Điều đó tạo điều kiện cho Xí nghiệp luôn luôn chủ động trong việc tìm nguồn cung ứng. Tuy nhiên nó cũng có nhược điểm là nếu không xác định nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng thì chất lượng sẽ không cao và không đòng đều. Từ đó dẫn đến các thông số kĩ thuật không đạt yêu cầu như độ ẩm, độ dầu vượt quá cho phép, độ bền

Nguồn cung ứng nước ngoài: Hiện nay sản phẩm xuất khẩu của Xí nghiệp chủ yếu diễn ra dưới hình thức gia công cho các đối tác nước ngoài như các hãng Habitex- Bỉ, Sr Fashion Partner- Đức, Litva, Nhật bản, Hàn quốc,... Xí nghiệp nhập nguyên vật liệu của các khách hàng này theo hình thức mua nguyên vật liệu bán thành phẩm. Do đó mà chất lượng nguyên vật liệu luôn đảm bảo tạo điều cho Xí nghiệp nâng cao chất lượng sản phẩm và mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm của mình.

2.4 Lao động

Lao động là yếu tố không thể thiếu được trong hoạt động sản xuất kinh doanh bởi vì con người là chủ thể của quá trình sản xuất. Cho dù được trang bị máy móc hiện đại, công nghệ sản xuất tiên tiến nhưng thiếu lao động có trình độ , tổ chức thì cũng không thể sản xuất được

Tính đến hết ngày 31/12/2000 thì số lượng và chất lượng lao động của

Xí nghiệp như sau:

* Số lượng lao động:

§¹i häc Kinh tÕ quèc d©n

Tổng số lao động của toàn Xí nghiệp là: 845 người

41

Ph¹m §øc Hoμi - CN 39 A

LuËn v¨n tèt nghiÖp

+ Công nhân trực tiếp sản suất là: 770 người

+ Lao động gián tiếp: 75 người

+ Lao động thuộc biên chế nhà nước: 107 người

+ Lao động làm hợp đồng dài hạn: 456 người

+ Lao động làm hợp đòng ngắn hạn: 282 người

*Chất lượng lao động

+ Trình độ đại học: 38 người

+ Thợ bậc cao: 102 người

+ Bậc thợ bình quân: 2,6/6

Thu nhập bình quân của người lao động năm 1998 là 610.000 đồng, năm

1999 là 670.000 đồng và năm 2000 là 730.000 đồng. Nhìn chung mức thu

nhập bình quân trên đầu người của Xí nghiệp là tương đối cao so với các

Doanh nghiệp khác trong cùng ngành may mặc. Điều đó cho thấy hoạt động

sản xuất kinh doanh của Xí nghiệp là có hiệu quả.

Công tác đào tạo, bồi dưỡng con người luôn được Xí nghiệp quan tâm.

Với nhận thức nguồn lao động là yếu tố quýêt định thúc đẩy sự phát triển

trong cả một thời gian dài từ năm 1994 đến nay. Xí nghiệp luôn tạo điều kiện

cho việc học tập, nâng cao trình độ nghiệp vụ và tay nghề cho người lao động

và thu hút lực lượng lao động giỏi từ bên ngoài vào. Có chế độ ưu đãi với

người giỏi tay nghề. Hàng năm thông qua các hội trợ triển lãm, Xí nghiệp đã

tổ chức cho cán bộ quản lý đi thăm quan khảo sát các thị trường nước ngoài

nhằm nắm bắt được các công nghệ mới và xu hướng phát triển của thị trường

Nhận xét:

-Đội ngũ lao động gián tiếp của Xí nghiệp chiếm tỷ lệ nhỏ ( 8,87% )

nhưng lại giữ một vai trò hết sức quan trọng. Họ có trình độ chuyên môn về

các lĩnh vực tài chính, thương mại, xuất nhập khẩu, kĩ thuật công nghệ... Do

đó họ sẽ giữ vai trò quan trọng trong việc quản lý sản xuất, thực hiện việc

§¹i häc Kinh tÕ quèc d©n

mua nguyên vật liệu và tiêu thụ hàng hoá giúp cho quá trình sản xuất được

42

Ph¹m §øc Hoμi - CN 39 A

LuËn v¨n tèt nghiÖp

nhịp nhàng và liên tục. Chính vì vậy để phát triển thị trường đòi hỏi lực lượng

này không ngừng tìm tòi thị trường, sử dụng các biện pháp marketing tìm

kiếm và kí kết các hợp đồng kinh tế với khách hàng

-Đội ngũ lao động trực tiếp quyết định tới số lượng và chất lượng sản phẩm làm ra. Để mở rộng được thị trường của mình thì Xí nghiệp cần phải nâng cao uy tín thông qua chất lượng sản phẩm và thời hạn giao hàng. Chính vì vậy mà Xí nghiệp cần phải đào tạo nâng cao tay nghề công nhân nhằm giảm đến tối đa sản phẩm hỏng và đảm bảo năng xuất được ổn định và nâng cao

2.5 Tài chính

Bất một Doanh nghiệp nào muốn hoạt động sản xuất kinh doanh thì yếu tố không thể thiếu được là vấn đề về tài chính của Doanh nghiệp. Khả năng tài chính mạnh hay yếu phản ánh tình hình sản xuất kinh doanh của Doanh nghiệp. Có vốn Doanh nghiệp mới đảm bảo các yếu tố đầu vào ( Mua nguyên vật liệu, máy móc thiết bị,thuế đất xây dựng, thuê công nhân... ). Doanh nghiệp muốn đổi mới nâng cao chất lượng sản phẩm, đa dạng hoá sản phẩm, mở rộng qui mô sản xuất, nâng cao sức cạnh tranh của Doanh nghiệp cũng cần phải có vốn đầu tư. Một khi Doanh nghiệp có khả năng về tài chính sẽ tạo niềm tin cho các đối tác, cho các nhà đầu tư, cho khách hàng. Qua đó Doanh nghiệp có những cơ hội làm ăn mới ( Thu hút các nhà đầu tư, kí kết các hợp đồng đấu thầu, có các lô hàng lớn của khách hàng ... ) thực hiện mục tiêu duy trì và mở rộng thị trường

Tổng vốn sản xuất kinh doanh của Xí nghiệp tính đến hết ngày 31/12/2000 là 21.202.692.900 đồng trong đó vốn ngân sách nhà nước cấp là 9.323.000.000 đồng, vốn tự có 6.344.839.900 đồng và vốn khác là 5.534.853.000 đồng. Để thấy được tình hình sử dụng vốn của Xí nghiệp ta hãy theo dõi bảng số liệu trang sau:

§¹i häc Kinh tÕ quèc d©n

Qua bảng phân tích cho thấy các hệ số phân tích hiệu quả sử vốn kinh doanh của Xí nghiệp trong 3 năm đều tăng. Trong đó mức tăng bình quân của doanh thu là 10,45%/năm, mức tăng của lợi nhuận là 12,22%/năm và vốn chủ

43

Ph¹m §øc Hoμi - CN 39 A

LuËn v¨n tèt nghiÖp

sở hữu tăng 3,704%/năm. Qua đó nó phản ánh qui mô sản xuất của Xí nghiệp ngày càng tăng.

Năm 2000 cứ 100 đồng vốn chủ sở hữu tạo ra 15,5 đồng lợi nhuận mức tăng bình quân là 8,4%/năm và 100 đồng doanh thu tạo ra được 4,4 đồng lợi nhuận mức tăng bình quân là 2,35%/năm điều đó phản ánh tình hình sử dụng vốn kinh doanh của Xí nghiệp qua các năm đều tăng. Nhưng xét đến các chỉ tiêu hiệu quả sử dụng vốn thì chỉ đạt ở mức độ trung bình nguyên nhân chính là do trong các năm qua Xí nghiệp đã đẩy mạnh việc đầu tư trang thiết bị, cơ sở vật chất kỹ thuật để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh

Dự trữ cuối kì qua các năm đều giảm nên tốc độ luân chuyển vốn nhanh

nhờ việc Xí nghiệp đã quan tâm đến công tác tiêu thụ như: Mở thêm một

phòng kinh doanh, xây dựng cửa hàng giới thiệu sản phẩm, sử dụng các hình

thức khuyến mại như giảm giá, hạ giá bán sản phẩm, bố trí sản xuất hợp lý...

Biểu II.3: Hiệu quả sử dụng vốn của Xí nghiệp

Chỉ tiêu Đvt Năm 1998 Năm 1999 Năm 2000

Doanh thu đồng 18381214933 19888474577 22414431815

Chi phí đồng 18094468003 19635890967 22024420725

Lợi nhuận đồng 781127139 858727125 983325603

Tài sản cố định đồng 9188960900 8602387000 10459490200

Vốn chủ sở hữu đồng 5900123400 6175653400 6344839900

Hiệu quả sử dụng TSCĐ 2,0 2,312 2,142

-DT/TSCĐ % 8,5 9,98 9,4

-LN/TSCĐ

Hiệu suất sử dụng VSH

§¹i häc Kinh tÕ quèc d©n

-DT/VCSH 2,56 3,22 3,53

44

Ph¹m §øc Hoμi - CN 39 A

LuËn v¨n tèt nghiÖp

- LN/VCSH 13,2 13,9 15,5 %

Tỷ xuất lợi nhuận

4,2 4,3 4,4 LN/DT %

Vòng quay của vốn

(Doanh thu/ Dự trữ BQ) Vòng 3,48 3,55 4,08

II PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG VỀ TÌNH HÌNH TIÊU THU SẢN PHẨM CỦA XÍ NGHIỆP

1 Tình hình thực hiện kế hoach sản suất

Để xây dựng được kế họach sản xuất thực hiện trong từng năm Xí

nghiệp thường dựa vào những căn cứ sau:

- Chỉ tiêu kế hoạch của cấp trên giao ( Bộ quốc phòng )

- Tình hình thực hiện kế hoạch của năm trước

- Khả năng huy động của năng lực, thiết bị, lao động

- Tình hình khách hàng, khả năng kí kết các hợp đồng kinh tế của Xí

nghiệp với các khách hàng

- Nguồn vật tư, nguyên vật liệu vủa Xí nghiệp có khả năng khai thác

Sau đây chúng ta xem xét tình hình thực hiện kế hoạch mặt hàng của Xí

nghiệp từ năm 1998 đến năm 2000 (thông qua biểu số liệu trang sau )

1.1. Đối với sản phẩm sản xuất theo bộ

- Năm 1998 các sản phẩm sản xuất theo bộ của Xí nghiệp đều hoàn thành

vượt mức kế hoạch. Năm 1998 kế hoạch của Xí nghiệp là 76364 bộ quần áo,

thực hiện được 84846 bộ vượt 11,1% kế hoạch. Trong đó đồng phục đông

vượt 15% kế hoạch, đồng phục hè vượt 9,7% kế hoạch, comple vượt 7,33%

kế hoạch và đờ mi vượt 5,7% so với kế hoạch

- Năm 1999 ngoài mặt hàng comple không hoàn thành kế hoạch còn các

§¹i häc Kinh tÕ quèc d©n

mặt hàng khác đều hoàn thành vượt mức kế hoạch trong đó phải kể đến đồng

45

Ph¹m §øc Hoμi - CN 39 A

LuËn v¨n tèt nghiÖp

phục hè vượt 7,5% kế hoạch làm cho cả năm Xí nghiệp hoàn thành vượt

6,43% so với kế hoạch ( tương đương với 8029 bộ quần áo )

- Năm 2000 kế hoạch là 59340 bộ quần áo nhưng chỉ thực hiện được

55808 bộ không hoàn thành 5,96% so với kế hoạch. Nguyên nhân chủ yếu là

do mặt hàng comple, đờ mi, đồng phục hè không hoàn thành kế hoạch

1.2. Đối với sản phẩm đơn chiếc

- Năm 1998 kế hoạch là 165492 sản phẩm nhưng chỉ thực hiện được

154834 sản phẩm không hoàn thành 96,44% so với kế hoạch. Tuy nhiên áo

§¹i häc Kinh tÕ quèc d©n

măng tô vẫn vượt 8,5%, áo jacket vượt 12% so với kế hoạch

46

Ph¹m §øc Hoμi - CN 39 A

LuËn v¨n tèt nghiÖp

- Năm 1999 kế hoạch là 191293 sản phẩm thực hiện được 196715 sản phẩm vượt 2,83% so với kế hoạch trong đó phải kể đến áo măng tô vượt

16,32% so với kế hoạch và áo jacket vượt 7,2% so với kế hoạch

- Năm 2000 kế hoạch là 221749 sản phẩm thực hiện được 229743 sản phẩm vượt 3,6% so với kế hoạch tăng hơn so với năm 1999 là 0,77%. Trong

đó chủ yếu là do áo jacket, áo sơ mi và quần âu vượt mức kế hoạch

Qua phân tích tình hình thực hiện kế hoạch sản suất của Xí nghiệp chúng ta thấy trong các năm Xí nghiệp đều không hoàn thành kế hoạch về mặt hàng sản xuất. Có những mặt hàng thì Xí nghiệp hoàn thành vượt mức, có những mặt hàng thì Xí nghiệp không hoàn thành kế hoạch. Qua đó chúng ta thấy có sự biến động trong sản xuất của Xí nghiệp. Sự biến động này do ảnh hưởng của nhiều nhân tố trong đó chủ yếu là do ảnh hưởng của việc Xí nghiệp có kí được hợp đồng với khách hàng hay không hoặc các đối tác nước ngoài có đặt gia công với Xí nghiệp hay không? Nếu có nhiều hợp đồng gia công thì thì sản xuất nhiều và ngược lại thì sản xuất ít. Để thấy rõ được sự biến động này chúng ta hãy so sánh số lượng sản phẩm của các năm thông

qua biểu số liệu sau:

Biểu số II. 5: Số lượng từng loại sản phẩm sản xuất từ năm 1998 đến

năm 2000

Tỷ lệ so sánh ( % )

Các chỉ tiêu ĐVT 99/98 2000/99 Thực hiện Năm 1999 Năm 2000 Năm 1998

84846 132802 55808 156,52 42,02 Bộ

3426 983 25739 54698 3500 1119 38455 89728 3595 950 17942 33321 102,16 113,83 149,4 164,04 102,71 84,89 46,65 37,13

Chiếc 154834 196715 229743 127,05 116,78

§¹i häc Kinh tÕ quèc d©n

Chiếc 2613 Chiếc 21952 Chiếc 59309 3181 24293 66947 3091 28328 83822 121,73 110,66 112,87 97,17 116,6 125,2 A Sản phẩm sản xuất theo bộ Bộ 1 Comple Bộ 2 Đờ mi 3 Đồng phục đông Bộ 4 Đồng phục hè Bộ B Sản phẩm đơn chiếc 1 áo măng tô 2 áo jacket 3 áo sơ mi

47

Ph¹m §øc Hoμi - CN 39 A

LuËn v¨n tèt nghiÖp

4 quần âu Chiếc 70960 102294 114502 144,16 11,93

Qua so sánh số lượng sản phẩm của từng mặt hàng theo từng năm chúng ta thấy việc sản xuất từng mặt hàng không ổn định có năm tăng hơn so với năm trước và có năm lại giảm hơn so với năm trước. Chẳng hạn các mặt hàng áo đờ mi, đồng phục đông, đồng phục hè năm 1999 tăng hơn so với năm 1998 nhưng đến năm 2000 lại giảm mạnh. Nguyên nhân chủ yếu là do số lượng quần áo được cấp phát của các ngành Kiểm lâm, Hải quan , Điện lực, Viện kiểm sát...qua các năm là không đồng đều nhau. Nó phụ thuộc vào chỉ tiêu pháp lệnh của cấp trên giao cho

Đối với các mặt hàng sản xuất đơn chiếc như : áo jacket, áo sơ mi, quần âu thì mức độ biến động là tương đối ổn định chỉ trừ có áo măng tô có xu hướng giảm trong năm 2000 so với năm 1999

Qua những số liệu trên chúng ta thấy được tình hình sản xuất các sản phẩm và thực hiện kế hoạch sản xuất của Xí nghiệp may X19. Sau đây chúng ta hãy xem xét tình hình tiêu thụ sản phẩm của Xí nghiệp

2. Tình hình thực hiện kế hoạch tiêu thụ

2.1.Tình hình thực hiện kế hoạch tiêu thụ chung:

Để nắm được một cách khái quát tình hình tiêu thụ chung của Xí

nghiệp (ta theo dõi bảng số liệu trang sau)

- Năm 1998, Xí nghiệp dự định sẽ tiêu thụ 90% kế hoạch sản xuất nhưng thực tế doanh thu đã không thực hiện được như con số mong muốn giảm 3,5% hay số tuyệt đối là 666.676.189 đồng. Các chỉ số khác như sản lượng, giá trị sản xuất công nghiệp đều tăng và các khoản nộp ngân sách giảm được 12,68%

- Năm 1999, Xí nghiệp có kế hoạch công tác tiêu thụ đạt 91,5% so với kế hoạch và đã hoàn thành một cách xuất sắc. Sản lượng sản xuất theo bộ tăng 6,7%, sản lượng sản phẩm đơn chiếc tăng 11,3%, doanh thu tăng 12%và các khoản nộp ngân sách giảm 10,6%

§¹i häc Kinh tÕ quèc d©n

- Năm 2000, Xí nghiệp dự kiến tiêu thụ 92% sản phẩm sản xuất, nhưng nói chung đã không hoàn thành kế hoạch. Chỉ riêng chỉ tiêu sản phẩm đơn chiếc là vượt mức kế hoạch 13,2% còn các chỉ tiêu khác đều giảm. Sản lượng

48

Ph¹m §øc Hoμi - CN 39 A

LuËn v¨n tèt nghiÖp

sản phẩm đồng bộ giảm 5,5% doanh thu giảm 3,7% giá trị sản xuất công nghiêp giảm 70.000.000 đồng

2.2. Phân tích tình hình tiêu thụ từng mặt hàng:

*Đặc điểm sản phẩm hàng hoá của Xí nghiệp

- Sản phẩm chính của Xí nghiệp là các loại đồng phục đông, đồng phục hè, áo comple, áo jacket, áo sơ mi, quần âu... Nhìn chung chất lượng sản phẩm tốt nhưng giá khá cao, hình thức mẫu mã đẹp nhưng chưa phong phú

- Thông thường sản phẩm của Xí nghiệp phục vụ cho các khách hàng là các cơ quan nhà nước như: Quân đội, Kiểm lâm, Quản lý thị trường, Công an, Hải quan... cho nên khối lượng tiêu thụ hàng năm tương đối lớn và kiểu dáng mẫu mã luôn phải thay đổi cho từng ngành nói trên

- Càng ngày chất lượng, kiểu dáng sản phẩm của Xí nghiệp ngày càng sang trọng và đẹp hơn hẳn so với các đối thủ cạnh tranh, hơn nữa sản phẩm của Xí nghiệp luôn luôn được hoàn thiện nhờ có sự quan tâm thích đáng tới công tác kĩ thuật và thiết kế mẫu. Các cuộc thí nghiệm và kiểm định chất lượng thường xuyên được tổ chức nhằm tiếp tục hoàn thiện tính năng của sản phẩm. Sau đây chúng ta sẽ đi nghiên cứu tình hình tiêu thụ một số mặt hàng chủ yếu của Xí nghiệp như sau

a Đối với mặt hàng đồng phục

Để nắm được tình hình tiêu thụ mặt hàng đồng phục ta hãy xem xét số

liệu sau đây:

Biểu II.7: Tìmh hình tiêu thụ mặt hàng đồng phục

Đvt: Bộ

Năm 1999

Thị trường

Năm 1998 Số lượng Tỷ trọng % Số lượng Tỷ trọng % Năm 2000 Tỷ Số trọng % lượng

Công an 64938 80,73 110135 85,92 11119 21,69

Kiểm lâm 5298 6,58 3349 2,61 21270 41,49

§¹i häc Kinh tÕ quèc d©n

Thu hành án 625 0,77 614 0,48 164 0,32

49

Ph¹m §øc Hoμi - CN 39 A

LuËn v¨n tèt nghiÖp

Viện kiểm sát 4720 5,86 3325 2,59 1266 2,47

Quản lý thị trường 2913 3,62 4800 3,74 7743 15,1

Điện lực 1943 2,44 2775 2,16 5285 10,31

Kiểm lâm - - 3185 2,50 4419 8,62

Tổng cộng 80437 100 128183 100 51263 100

Qua bảng số liệu trên ta có thể thấy rằng tình hình tiêu thụ mặt hàng

đồng phục của Xí nghiệp là không đồng đều trên các thị trường. Thị trường

tiêu thụ nhiều đồng phục nhất là ngành Công an. Năm 98 chiếm 80,73% năm

99 tăng lên 85,92% và năm 2000 là 21,69% trong tổng số lượng đồng phục

được tiêu thụ qua các năm. Từ đó làm cho doanh thu của thị trường Công an

năm 98 là 3.695.188.000 đồng tăng lên 5.074.708.000 đồng trong năm 99 và

đến năm 2000 con số này giảm xuống chỉ còn 742.155.000 đồng. Nguyên

nhân chủ yếu của sự biến đổi này được xuất phát từ hai lý do sau:

- Trong 2 năm 1998 và năm 1999 ngành Công an đồng loạt thay đổi

đồng phục và đến năm 2000 chỉ may bổ xung

- Do Công ty may 19/5 thuộc bộ Công an không may kịp cho nên họ ký

hợp đồng với Xí nghiệp trong việc may đồng phục cho nghành Công an để

đảm bảo đúng tiến độ mà bộ Công an giao cho

Ngoài thị trường ngành Công an chúng ta phải kể đến thị trường ngành

Kiểm lâm. So với năm 98 thì năm 99 số lượng áo đồng phục có giảm nhưng

đến năm 2000 thì sản lượng này tăng lên một cách đột biến cụ thể tăng từ

2,61% năm 99 lên 41,49% trong năm 2000. Nguyên nhân chủ yếu là do trong

năm vừa qua Xí nghiệp đã kí được hợp đồng may đo cho ngành Kiểm lâm.

Bên cạnh thị trường có mức tiêu dùng ngày càng tăng như: Kiểm lâm,

Điện lực, Quản lý thị trường thì thị trường Viện kiểm sát,và thị trường Thi

hành án có mức tiêu dùng thấp và có xu hướng giảm. Cụ thể đối với thị

trường Viện kiểm sát trung bình hàng năm giảm 36,13%/năm và thị trường

Thi hành án giảm 37,52%/năm. Tuy nhiên Xí nghiệp không nên bỏ qua các

thị trường này bởi vì đây là những thị trường chuyền thống của Xí nghiệp

§¹i häc Kinh tÕ quèc d©n

b Đối với mặt hàng áo sơ mi

50

Ph¹m §øc Hoμi - CN 39 A

LuËn v¨n tèt nghiÖp

Mặt hàng áo sơ mi của Xí nghiệp chiếm một tỷ trọng khá lớn trong tổng

doanh thu của Xí nghiệp. Cụ thể tỷ trọng của chúng trong năm 1998 là

17,74%, năm 1999 là 18,51% và trong năm 2000 là 20,56%. Đây là sản phẩm

có chất lượng cao,mẫu mã đẹp đã được khách hàng trong và ngoài nước đánh

giá cao. Sản phẩm áo sơ mi của Xí nghiệp có mặt trên tất cả các thị trường

trong và ngoài nước. Điều đó được phản ánh thông qua bảng số liệu sau:

Biểu số II.8: Tình hình tiêu thụ áo sơ mi của Xí nghiệp

Đvt: Sản phẩm

Thị trường Năm 1998 Năm 1999 Năm 2000 Tỷ lệ so sánh (%)

99/98 2000/99

Miền bắc 30493 32582 42621 106,85 130,81

Miền trung 5802 5546 3820 95,58 68,87

Miền nam 4940 5764 5207 116,68 90,33

Xuất khẩu 16615 20008 28452 120,42 142,20

Tổng cộng 57850 63900 80100 110,45 125,35

Như vậy thông qua bảng số liệu trên thì thị trường áo sơ mi của Xí

nghiệp bao gồm thị trường Miền bắc, thị trường Miền trung, thị trường Miền

nam và thị trường dành cho Xuất khẩu. Số lượng áo sơ mi trên thị trường

Miền bắc và thị trường dành cho Xuất khẩu có xu hướng tiêu dùng tăng rõ rệt.

Số lượng áo sơ mi được tiêu thụ trên thị trường miền Bắc năm 99 bằng

106,85% so với năm 98 và đến năm 2000 con số này là 142,20%. Có được kết

quả này là do Xí nghiệp đã thiết lập được hệ thống cửa hàng giới thiệu sản

phẩm trên địa bàn thành phố Hà nội và kí kết một số hợp đồng đối với nước

ngoaì như: Nhật bản, Hàn quốc, Đức, Bỉ, Lít va...

Khác với hai thị trường Miền Bắc và thị trường dành cho Xuất khẩu thì

hai thị trường miền Trung và thị trường miền Nam có xu hướng giảm đặc biệt

§¹i häc Kinh tÕ quèc d©n

là thị trường Miền Trung. Cụ thể đối với thị trường này số lượng áo sơ mi

51

Ph¹m §øc Hoμi - CN 39 A

LuËn v¨n tèt nghiÖp

trong năm 99 chỉ bằng 95,58% so với năm 98 và đến năm 2000 con số này chỉ

bằng 68,87% so với năm 99. Nguyên nhân chủ yếu là do Xí nghiệp chưa có

mạng lưới tiêu thụ cũng như các chính sách marketing thích hợp cho các thị

trường này. Nguyên nhân tiếp theo, đó là Xí nghiệp thường may đo theo các

hợp đồng đã định sẵn chứ không may hàng loạt để bán. Điêù đó cũng là một

trong những nhân tố ảnh hưởng đến việc tiêu thụ sản phẩm áo sơ mi trên hai

thị trường này

c Đối với mặt hàng áo comple

Sản phẩm áo comple là một trong những mặt hàng cao cấp của Xí nghiệp. Đơn giá của nó giao động trong khoảng từ 750.000 đến 1.000.000 đồng/bộ

Do đó mà nó đòi hỏi chất lượng và mẫu mã phải phong phú và đa dạng. Đối tượng phục vụ của mặt hàng này tương tự như mặt hàng đồng phục đó là các ngành Công an, Kiểm lâm, Hải quan... Để nắm được tình hình tiêu thụ mặt hàng này ta hãy xem xét bảng số liệu sau

Biểu số II. 9: Tình hình tiêu thụ áo comple

ĐVT: Bộ

Thị trường Năm 1998 Năm 1999 Năm 2000

Số lượng Tỷ trong % Số lượng Tỷ trọng % Số lượng Tỷ trọng %

Quản lý thị trường 137 4,21 140 3,92 179 5,27

Công an 1468 45,17 1691 47,38 1265 37,2

Thi hành án 407 12,52 388 10,86 393 11,56

Viện kiểm sát 710 21,86 651 18,24 684 20,12

Kiểm lâm 341 10,48 398 11,15 440 12,96

Các cơ quan khác 187 5,76 302 8,45 439 12,89

§¹i häc Kinh tÕ quèc d©n

Tổng cộng 3250 100 3670 100 3400 100

52

Ph¹m §øc Hoμi - CN 39 A

LuËn v¨n tèt nghiÖp

Như vậy thông qua bảng số liệu trên ta có thể thấy rằng. Khác với mặt

hàng đồng phục, mặt hàng comple có mức tiêu dùng tương đối ổn định qua

các năm. Riêng chỉ có thị trường ngành Công an mức độ tiêu dùng có xu

hướng giảm từ 47,38% năm 99 xuống còn 37,2% trong năm 2000. Nguyên

nhân là do trong năm 2000 số lượng comple của nhành Công an là may bổ

sung cho năm 1999

Qua phân tích tình hình tiêu thụ của 3 mặt hàng chính của Xí nghiệp

chúng ta thấy sản phẩm chiếm tỷ trọng cao nhất là đồng phục các loại có xu

hướng giảm do qui mô biên chế bị thu hẹp còn đối với các sản phẩm khác như

áo comple và áo sơ mi có xu hướng tiêu dùng ngày càng tăng. Đây là một

trong những dấu hiệu tốt cho hai sản phẩm này

Ngoài 3 loại sản phẩm trên Xí nghiệp còn sản xuất các sản phẩm khác

như: áo jacket, quần âu, đờ mi... để phục vụ cho yêu cầu của khách hàng.

Điều đó cho thấy Xí nghiệp đang từng bước chủ động đa dạng hoá nhằm nâng

cao uy tín và mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm của Xí nghiệp mình, từng

bước khẳng định vị thế của mình trên thương trường kinh doanh. Để nghiên

cứu kĩ hơn về thị trường tiêu thụ sản phẩm của Xí nghiệp chúng ta sẽ nghiên

cứu kĩ hơn phần tiếp theo

3. Thị trường tiêu thụ sản phẩm của Xí nghiệp

Thị trường tiêu thụ sản phẩm của Xí nghiệp là yếu tố quyết định đến sự

tồn tại và phát triển của Xí nghiệp, ý thức được vấn đề này Xí nghiệp đã quyết

định thành lập riêng một phòng kinh doanh từ năm 1999. Toàn bộ thị trường

của Xí nghiệp được phân chia thành những phần như sau;

Thị trường hiện tại của Xí nghiệp

Phần thị trường không tiêu dùng tương đối Phần thị trường không tiêu dùng tuyệt đối

Thị trường hiện tại của đối thủ cạnh tranh

§¹i häc Kinh tÕ quèc d©n

Thị trường mục tiêu

53

Ph¹m §øc Hoμi - CN 39 A

LuËn v¨n tèt nghiÖp

Thị trường tiềm năng

Thị trường lý thuyết

Tổng các đối tượng hiện có

Thị trường hiện có cũng như thị trường truyền thống của Xí nghiệp ở

trong nước bao gồm thị trường ngành Công an, Quân đội, Kiểm lâm, Hải quan... và một số thị trường nước ngoài bao gồm thị trường Đức, Bỉ, Litva, Nhật bản, Hongkong, Hàn quốc, Đài loan... như vậy để hiểu rõ hơn về hai loại thị trường này chúng ta sẽ phân tích một cách cụ thể như sau:

3.1 Thị trường trong nước

Thị trường trong nước của Xí nghiệp bao gồm 18 loại thị trường được

thể hiện thông qua bảng doanh thu trên từng thị trường ở trang sau:

Như vậy thông qua bảng số liệu trên ta có thể thấy rằng doanh thu tiêu

thụ trong nước của Xí nghiệp qua các năm đều tăng, mức tăng trung bình

hàng năm là14,52%. Điều đó cho thấy sự nỗ lực của Xí nghiệp trong việc mở

rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm của mình. Mặc dù trong năm 1999 Xí

nghiệp bị mất hai khách hàng là Bộ tư lệnh cảnh vệ và Công ty thương mại

dịch vụ thanh niên nhưng Xí nghiệp lại tìm thêm được 3 khách hàng mới là

Trung tâm di động khu vực I , Cục đăng kiểm Việt nam và ngành Hàng không

do đó làm cho doanh thu của Xí nghiệp tăng lên từ 10.526.614.000 đồng

trong năm 98 lên 12.518.335.000 trong năm 99. Khác với 2 năm 98 và năm

99 trong năm 2000 số lượng khách hàng của Xí nghiệp bị giảm xuống nhưng

doanh thu vẫn tăng. Nguyên nhân chủ yếu là do giá trị của mỗi hợp đồng trên

các thị trường trong năm 2000 lớn hơn so với các năm trước. Ví dụ như thị

trường ngành Kiểm lâm tăng từ 9,47% trong năm 1999 lên 41,89% trong năm

2000, thị trường thanh tra xây dựng tăng từ 0,19% năm 1998 lên 7,05% trong

năm 2000, ngành quản lý thị trường tăng từ 11% trong năm 99 lên 15,35%

§¹i häc Kinh tÕ quèc d©n

trong năm 2000... Điều đó cho thấy Xí nghiệp đang chuyển dần từ hình thức

54

Ph¹m §øc Hoμi - CN 39 A

LuËn v¨n tèt nghiÖp

mở rộng thị trường theo chiều rộng sang chính thức mở rộng thị trường theo

chiều sâu:

Biểu số II. 10: Doanh thu tiêu thụ trong nước của Xí nghiệp may X19

Đvt: 1000 đồng

Năm 1998 Năm 1999 Năm 2000

Thị trường

Doanh thu Doanh thu Doanh thu Tỷ trọng % Tỷ trọng % Tỷ trọng %

Công an 3695188 35,1 5074708 40,53 742166 5,38

Viện kiếm sát 1736353 16,5 869451 6,94 1000713 7,26

226600 2,15 578732 4,62 245529 1,78 Phòng không- không quân

0 0 84400 0,67 928547 6,73 Kiểm lâm

845750 8,03 1377138 11 2116572 15,35 Quản lý thị trường

Kiểm lâm 1606794 15,26 1186155 9,47 5775166 41,89

19900 0,19 15960 0,13 972590 7,05 Thanh tra xây dựng

Điện lực 495690 4,7 735440 5,87 1189613 8,63

81900 0,77 71731 0,57 123990 0,89 Đường bộ

§¹i häc Kinh tÕ quèc d©n

40660 0,32 Trung tâm di động KVI

55

Ph¹m §øc Hoμi - CN 39 A

LuËn v¨n tèt nghiÖp

567380 4,53 Cục đăng kiểm Việt nam

Hàng không 548227 4,37

Thi hành án 464774 4,41 453748 3,62 538607 3,9

Y tế 40350 0,38 260751 2,08

Xăng dầu 92200 0,87 111994 0,89

100000 0,95

856746 8,13 Bộ tư lệnh cảnh vệ Công ty thương mại DVTN

Đơn vị lẻ 463369 4,4 541860 4,32 151207 1,09

Tổng cộng 10526614 100 12518335 100 13784688 100

Như vậy để thấy rõ được mức độ biến động doanh thu của Xí nghiệp

qua các năm ta hãy theo dõi sơ đồ sau:

Sơ đồ II.3 : Tốc độ tăng doanh thu của Xí nghiệp X19

14000000

12000000

10000000

8000000

6000000

4000000

2000000

0

1998

1999

2000

(đơn vị: 1000 đồng)

Doanh thu

§¹i häc Kinh tÕ quèc d©n

Như vậy doanh thu tiêu thụ sản phẩm của Xí nghiệp qua các năm đều tăng. Nguyên nhân chính của sự tăng lên này là do doanh thu trên một số thị trường chủ yếu của Xí nghiệp tăng. Chẳng hạn trong hai năm 98 và 99 doanh thu của Xí nghiệp chủ yếu tập chung vào thị trường ngành Công an, tăng từ

56

Ph¹m §øc Hoμi - CN 39 A

LuËn v¨n tèt nghiÖp

31,5% trong năm 98 lên 40,53% trong năm 99 và đến năm 2000 doanh thu lại tập chung vào ngành Kiểm lâm có tỷ trọng là 41,89%. Đây là một trong những yếu điểm của Xí nghiệp bởi vì các thị trường này mang tính biên chế theo lệnh chỉ huy của bộ Công an và tổng cục Kiểm lâm, cho nên tính chủ động trong sản suất kinh doanh của Xí nghiệp không cao. Do đó trong thời gian tới Xí nghiệp cần phải tìm ra những biện pháp để khắc phục tình trạng này

3.2 Thị trường nước ngoài

Hoạt động xuất khẩu của Xí nghiệp may đo X19 chủ yếu diễn ra dưới hình thức gia công cho khách hàng nước ngoài. Các khách hàng này có thể mua về để bán trên đất nước của họ hoặc họ là trung gian , họ là những người đặt hàng tại Xí nghiệp và họ xuất khẩu sang các nước khác. Bên cạnh việc gia công cho khách hàng nước ngoài Xí nghiệp cũng đang đẩy mạnh hình thức mua đứt bán đoạn để tăng dần tính chủ động trong sản xuất kinh doanh và thu về nhiều lợi nhuận hơn. Sau đây chúng ta sẽ xem xét doanh thu xuất khẩu của Xí nghiệp qua bảng số liệu sau

Biêủ số II.11: Doanh thu xuất khẩu của Xí nghiệp

Năm 1998 Năm 1999 Đơn vị tính: VNĐ Năm 2000

Thị trường Doanh thu Doanh thu Doanh thu

Tỷ trọng % Tỷ trọng % Tỷ trọng %

1316226000 48,67 937340830 28,12 1583218300 31,05 Đức

815398000 30,15 1074675200 32,24 1162046600 22,79 Bỉ

572806950 21,18 778339560 23,35 969816860 19,02 Litva

351336140 10,54 442077400 8,67 Nhật

191668200 5,75 165715290 3,25 Hongkong

314604100 6,17 Đài loan

461453340 9.05 Hàn quốc

§¹i häc Kinh tÕ quèc d©n

Tổng cộng 2704471000 100 33333360000 100 5098932000 100

57

Ph¹m §øc Hoμi - CN 39 A

LuËn v¨n tèt nghiÖp

Nhìn vào bảng số liệu chúng ta thấy một số thị trường chuyền thống của Xí nghiệp trong những năm qua là: Thị trường Cộng Hoà Liên Bang Đức, thị trường Bỉ, thị trường Litva và thị trường Nhật bản Trong đó thị trường Đức có xu hướng giảm mạnh từ năm 98 đến năm 99 . Cụ thể là giảm từ 48,67% trong năm 1998 xuống còn 28,12% trong năm 1999 nhưng đến năm 2000 lại có dấu hiệu phục hồi. Khác với thị trường Cộng Hoà Liên Bang Đức thị trường Bỉ và Litva có xu hướng tiêu dùng ngược laị. Trong hai năm 98 và 99 thì hai thị trường này có xu hướng tiêu dùng tăng và bắt đầu giảm mạnh vào năm 2000. Cụ thể là đối với thị trường Bỉ tăng từ 30,15% trong năm 1998 lên 32,24% trong năm 1999 và đến năm 2000 giảm xuống còn 22,79%. Tương tự thị trường Litva năm 1998 là 21,18% , năm 1999 tăng lên 23,35% và đến năm 2000 giảm xuống còn 19,02%. Điêù đó cho thấy tính tiêu dùng không ổn định trên các thị trường này. Nguyên nhân chủ yếu là do sự thay đổi rất nhanh chóng về mẫu, mốt trên các thị trường này. Trong khi đó Xí nghiệp lại chưa thiết lập được hệ thống marketing để có thể tiếp cân được với các thị trường này do đó mà Xí nghiệp không nắm bắt được những thay đổi trong cách ăn mặc của họ

Sang hai năm 1999 và năm 2000 thị trường tiêu thụ sản phẩm của Xí nghiệp lại tiếp tục được mở rộng sang một số nước Châu á. Cụ thể là trong năm 1999 Xí nghiệp đã tìm được hai khách hàng mới là Nhật bản và Hongkong. Đến năm 2000 thì thị trường của Xí nghiệp lại tiếp tục mở rộng sang Hàn quốc và Đài loan. Nhưng do cuộc khủng hoảng tài chính- tiền tệ trong khu vực làm cho các thị trường này có xu hướng tiêu dùng giảm xuống. Đây là một trong những nhân tố bất lợi cho Xí nghiệp trong việc mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm của mình

Để có thể thấy được sự biến động trên các thị trường này chúng ta hãy

xem sét biểu đồ về doanh thu của chúng như sau:

Sơ đồ II. 4 : Tỷ trọng doanh thu từ các thị trường năm 1998

21,18

§¹i häc Kinh tÕ quèc d©n

Đvt: Phần trăm

48,67

30,15

58

Ph¹m §øc Hoμi - CN 39 A

LuËn v¨n tèt nghiÖp

Sơ đồ II. 5 : Tỷ trọng doanh thu từ các thị trường năm 1999

5,75

10,54

CHLB§øc

28,12

23,25

Litva

NhËt

HångK«ng

32,24

Đvt: Phần trăm

Sơ đồ II.6 : Tỷ trọng doanh thu từ các thị trường năm 2000

12,05

4,67

12,75

31,05

11,67

CHLB§øc BØ Litva NhËt HångK«ng §μi loan Hμn Quèc

8,79

19,02

Đvt: Phần trăm

§¹i häc Kinh tÕ quèc d©n

Nhìn vào biểu đồ chúng ta có thể thấy rằng so với năm 1998 tỷ trọng doanh thu của thị trường Cộng Hoà Liên Bang Đức có xu hướng giảm trong hai năm 99 và 2000. Còn đối với thị trường Bỉ và Litva có xu hướng tiêu dùng ngược lại. Các thị trường Châu á nhìn chung có mức tiêu dùng giảm

59

Ph¹m §øc Hoμi - CN 39 A

LuËn v¨n tèt nghiÖp

4. Các hình thức tiêu thụ của Xí nghiệp may X19

Như chúng ta đã biết khi đề cập đến các hình thức tiêu thụ tức là chúng ta nói đến kênh phân phối của Doanh nghiệp. Như vậy, kênh phân phối là con đường mà sản phẩm hàng hoá được lưu thông từ các nhà sản suất đến người tiêu dùng. Nhờ nó mà đã khắc phục được những ngăn cách dài về thời gian, địa điểm và quyền sở hữu giữa các sản phẩm với người muốn sử dụng chúng

Mọi Doanh nghiệp luôn sẵn sàng chuyển giao một phần công việc tiêu thụ cho những người trung gian thông qua các kênh phân phối vì tính kinh tế và tính hiệu quả của nó. Tuy lợi ích trước mắt có bị giảm sút đi chút ít nhưng để đổi lại Doanh nghiệp sẽ tiêu thụ được nhiều sản phẩm hơn

Hiện nay Xí nghiệp may X19 có 2 kênh phân phối đó là

Xí nghiệp X19

4.1 Kênh 1

Người tiêu dùng ( Các đơn vị Quân đội, các khách hànglớn, các hộ gia đình, cá nhân... )

Xí nghiệp may X19 phân phối sản phẩm được thực hiện chủ yếu thông qua kênh 1. Các sản phẩm phân phối ở kênh này bao gồm các sản phẩm Quốc phòng, đồng phục các ngành, một số sản phẩm kinh tế ( áo jacket, áo măng tô,sơ mi, comple...). người tiêu dùng ở đây là các đơn vị Quân đội , Bộ Công an, Kiểm lâm, Điện lực, Hải quan, Viện kiểm sát, Quản lý thị trường, Hàng không, khách hàng nước ngoài và một số cá nhân, hộ gia đình mua hàng tại cửa hàng giao dịch và giới thiệu sản phẩm của Xí nghiệp. Hàng hoá tiêu thụ qua kênh này rất lớn nhưng có xu hướng giảm dần qua các năm: năm 1997 chiếm 91,2%, năm 1998 chiếm 86,25%, năm 1999 chiếm 78,65% và năm 2000 chiếm 75,42%

Cửa h(cid:31)ng

Xí nghiệp X19

Người tiêu dùng

§¹i häc Kinh tÕ quèc d©n

60

4.2 Kênh 2

Ph¹m §øc Hoμi - CN 39 A

LuËn v¨n tèt nghiÖp

Kênh này được hình thành từ năm 1996. Hiện nay Xí nghiệp chỉ có một cửa hàng giới thiệu sản phẩm ở 311-Trường Trinh-Đống Đa –Hà Nội. Các sản phẩm phân phối ở kênh này hiện nay đem lại doanh thu vào khoảng 20-> 25% tổng doanh thu

5. Đánh giá chung về tình hình tiêu thụ sản phẩm của Xí nghiệp may X19

5.1. Những thành tựu đạt được

Trong thời gian vừa qua được sự quan tâm của Bộ quốc phòng, cùng

với sự cố gắng, nỗ lực của ban lãnh đạo và toàn thể công nhân viên trong Xí

nghiệp. Xí nghiệp đã thu được những thành công đáng kể trong hoạt động sản

xuất kinh doanh để từ đó vươn lên là một đơn vị kinh tế làm ăn có hiệu quả

trong nền kinh tế nói chung và trong ngành Quân đội nói riêng. Xí nghiệp đã

tham gia 4 lần hội trợ triển lãm hàng công nghiệp Việt nam và đã dành được

18 huy chương các loại trong đó có 13 huy chương vàng, 5 huy chương bạc

và một bằng khen. Nhiều lần nhận cờ luân lưu đơn vị khá nhất, đơn vị quyết

thắng và vinh dự được nhà nước trao tặng huân chương lao động hạng 2. Có

được kết quả này là nhờ vào việc Xí nghiệp luôn đạt hiệu quả cao trong hoạt

động sản xuất kinh doanh của mình qua các năm. Doanh thu đạt tốc độ tăng

trưởng bình quân là 10,45%/năm, thu nhập bình quân có tốc độ tăng trưởng là

9,39%/năm, vốn kinh doanh tăng trưởng bình quân hàng năm là 11,5%, nộp

ngân sách bình quân hàng năm là 1.707.777.667 đồng. Và điều quan trọng

hơn cả là Xí nghiệp đã từng bước đứng vững trên thị trường, xây dựng được

lòng tin, uy tín của mình trong khách hàng. Một số sản phẩm của Xí nghiệp

đẫ gây được thiện cảm với khách hàng trong và ngoài nước như các loại quần

áo đồng phục, áo jacket, áo sơ mi... Nhờ làm tốt công tác này mà hiện nay Xí

nghiệp đã có một khối lượng lớn khách hàng truyền thống như Bộ Công an,

Tổng cục Kiểm lâm, Hải quan, Điện lực, hãng Sr Fashion ( Đức ), Bimitex (

Bỉ)...

Ngoài ra Xí nghiệp cũng đã xây dựng cho mình một hệ thống các biện

pháp và chính sách phù hợp với đặc điểm của Xí nghiệp, góp phần không nhỏ

§¹i häc Kinh tÕ quèc d©n

61

vào những kết quả trên. Ưu điểm của chúng là

Ph¹m §øc Hoμi - CN 39 A

LuËn v¨n tèt nghiÖp

- Đối với công tác nghiên cứu và dự báo thị trường, mặc dù chưa có bộ

phận chuyên trách về marketing nhưng bước đầu đã thành lập được cửa hàng

giới thiệu và giao dịch sản phẩm ở Hà nội để chuyên tìm hiểu và thu thập

thông tin về thị trường. Đồng thời cử các cán bộ đi thăm quan, khảo sát thị

trường nước ngoài, kết quả của những chuyến đi đó là để kí hợp đồng với các

bạn hàng nước ngoài. Tìm hiểu và khai thác tốt các nguồn hàng quốc phòng

làm chỗ dựa để phát triển các mặt hàng kinh tế

- Đối với chính sách sản phẩm, Xí nghiệp đã xây dựng được một hệ

thống sản phẩm đặc trưng và dựa vào uy thế của Xí nghiệp đó là sản phẩm

đồng phục các loại, áo jacket, sản phẩm quốc phòng. Chất lượng sản phẩm

được nâng cao lên nhờ Xí nghiệp đã đẩy mạnh đầu tư công nghệ hiện đại và

tổ chức đào tạo cho cán bộ công nhân viên trong toàn Xí nghiệp một cách có

hệ thống

- Về chính sách giả cả, Xí nghiệp đã hình thành nên một hệ thống giá

tương đối đầy đủ phù hợp với thông lệ của thị trường đồng thời cũng xây

dựng được một thống giá chiết khấu đối với từng loại sản phẩm, từng giá trị

lô hàng. Bước đầu đã có sự chủ động trong việc xây dựng giá bán đối với các

sản phẩm kinh tế

- Về chính sách giao tiếp và khuếch chương, đã hình thành một số biện

pháp như tổ chức hội nghị khách hàng, tham gia hội trợ triển lãm hàng công

nghiệp chất lượng cao, phát hành các tài liệu , sách báo thực hiện chiết khấu,

giảm giá cho khách hàng mua nhiều , khách hàng quen biết

5.2. Những nhược điểm và tồn tại

Mặc dù đã đạt được những kết quả đáng khích lệ nhưng trong những năm qua Xí nghiệp cũng gặp không ít những khó khăn và tồn tại trong hoạt động sản xuất kinh doanh nói chung và hoạt động tiêu thụ nói riêng. Những tồn tại này được thể hiện thông qua phần dưới đây

- Đối với mặt hàng quốc phòng, nhu cầu có xu hướng giảm xuống do sự tinh giảm biên chế trong Quân đội. Chất lượng sản phẩm chưa thật cao, có hiện tượng nhầm số đo và trong giao hàng còn lỡ hẹn với khách hàng. Giá cả

§¹i häc Kinh tÕ quèc d©n

62

không phù hợp với nhu cầu thực tế

Ph¹m §øc Hoμi - CN 39 A

LuËn v¨n tèt nghiÖp

- Qui mô thị trường nội địa của của Xí nghiệp còn nhỏ. Đặc biệt Xí nghiệp gặp khó khăn rất lớn đối với thị trường bán lẻ, thị trường này chỉ đem lại 20% doanh thu nội địa và chịu sự cạnh tranh găy gắt. Do các hoạt động marketing của Xí nghiệp còn yếu đặc biệt là chính sách giá cả còn kém linh hoạt, ít co dãn, hệ thống phân phối không đầy đủ, địa điểm và lực lượng bán hàng mỏng, chưa đáp ứng được yêu cầu của khách hàng, việc khuếch chương và quảng bá sản phẩm chưa được đầu tư đúng mức. Hơn nữa các sản phẩm

kinh tế của Xí nghiệp còn nghèo nàn về kiểu dáng ,màu sắc , chất lượng vải...

- Vốn lưu động của Xí nghiệp còn khá nhỏ trong tổng nguồn vốn và thiếu hụt cho hoạt động sản xuất kinh doanh và do vậy đã hạn chế đến tốc độ quay vòng của vốn và hiệu quả sử dụng vốn

- Thị trường xuất khẩu chưa ổn định, lượng gia công hàng năm chưa

đều. Các khách hàng truyền thống có xu hướng tiêu dùng giảm

• Nguyên nhân của sự tồn tại

* Nguyên nhân khách quan

- Do cuộc khủng hoảng tài chính trong khu vực làm cho giá gia công trên thị trường thế giới giảm xuống và nhu cầu một số thị trường chủ yếu của Việt nam trên trường quốc tế có xu hướng giảm xuống. Đồng thời cơ chế đấu thầu hạn ngạch Quota sang thị trường Châu âu có sự cạnh tranh găy gắt từ phía các Doanh nghiệp trong nước . Vì vậy đã ảnh hưởng đến số lượng mặt

hàng gia công và giá trị gia công của Xí nghiệp trong thời gian vừa qua

- Tình trạng hàng nhập lậu ( nhất là hàng Trung quốc )., gian lận thương mại và một số chế độ chính sách chưa đồng bộ đã ảnh hưởng đến ngành dệt may Việt nam nói chung và hoạt động sản suất kinh doanh của Xí nghiệp nói riêng. Đặc biệt là luật thuế VAT đã gây cho Xí nghiệp không ít khó khăn trong việc xác định giá thành, giá bán sản phẩm, nhất là đối với sản phẩm đồng phục

§¹i häc Kinh tÕ quèc d©n

63

- Nhu cầu sản xuất hàng quốc phòng tập trung vào quí III và quí IV với số lượng lớn gây ra mất cân đối cục bộ về năng lực sản xuất làm cho việc sắp xếp công việc trong cả năm của Xí nghiệp gặp nhiều khó khăn

Ph¹m §øc Hoμi - CN 39 A

LuËn v¨n tèt nghiÖp

- Trong một số năm qua thời tiết diễn biến bất thường, có năm nắng nóng, có năm gió bão lụt lội ảnh hưởng đến việc sản suất và tiêu thụ sản phẩm

đặc biệt sản phẩm có tính mùa vụ như dệt may

* Nguyên nhân chủ quan

- Công tác đảm bảo nguyên vật liệu cho mặt hàng quốc phòng chậm so với tiến độ, chất lượng chưa ổn định, còn có tình trạng hụt khổ. Một số nguyên vật liệu đặc chủng phải nhập ngoại, phương tiện vận tải thiếu nên việc tổ chức cấp thẳng nguyên vật liệu gặp nhiều khó khăn. Dẫn đến hiện tượng nhầm số đo và giao hàng lỡ hẹn

- Công tác nghiên cứu, dự báo thị trường còn yếu, chưa được đầu tư đúng mức. Chưa có bộ phận Marketing chuyên trách, mới chỉ hình thành sơ bộ đội ngũ nhân viên làm thị trường với kinh nghiệm còn non yếu, chưa được đào tạo căn bản. Các chính sách marketing chưa rõ ràng, chưa có sách lược cụ thể đối với từng thị trường và từng mặt hàng. Vì vậy đã hạn chế việc mở rộng

thị trường tiêu thụ sản phẩm của Xí nghiệp

- Xí nghiệp chưa thành lập bộ phận chuyên thiết kế , tạo mẫu cho khách hàng mà chủ yếu chỉ dựa vào mẫu mã của khách hàng gửi đến. Điều này gây ra sự bị động trong đàm phán với khách hàng và tổ chức cung ứng sản phẩm. Hơn nữa không phát huy được sự sáng tạo của đội ngũ cán bộ công nhân viên trong Xí nghiệp, đặc biệt là không tạo ra được các bản sắc riêng của Xí nghiệp trên thị trường thông qua các sản phẩm đặc trưng của mình. Mặt khác, Xí nghiệp đưa rất ít các sản phẩm của mình đã thực hiện của mình với khách hàng vào các catalogues giới thiệu sản phẩm. Điều này rất khó cho Xí nghiệp có thể giới thiệu và quảng bá sản phẩm của mình với khách hàng nhất là đối với những khách hàng đến với Xí nghiệp làn đầu tiên, chưa biết nhiều về Xí nghiệp

- Xí nghiệp còn phụ thuộc qua nhiều vào khách hàng, nhất là các khách hàng nước ngoài. Do đó Xí nghiệp chỉ làm công đoạn sản xuất và giao hàng đúng thời hạn, còn mẫu mã, số đo, nguyên liệu đều của họ. Vì vậy gía trị thu được từ gia công xuất khẩu thấp, đồng thời việc xây dựng hình ảnh của Xí

§¹i häc Kinh tÕ quèc d©n

64

nghiệp và phát triển thị trường của Xí nghiệp gặp nhiều khó khăn

Ph¹m §øc Hoμi - CN 39 A

LuËn v¨n tèt nghiÖp

- Gần đây Xí nghiệp tiến hành mở rộng qui mô sản xuất, phải tuyển thêm lao động mới, tay nghề chưa cao cộng với số lao động lâu năm, lớp thì có tuổi, lớp thì về hưu. Đồng thời Xí nghiệp mới trong giai đoạn tiếp cận với hệ thống quản lý chất lượng ISO9001. Còn trước kia bộ phận này vẫn hoạt động theo lối truyền thống. Tức là làm song mới kiểm tra chất lượng sản phẩm. Dẫn đến tình trạng sai hỏng và làm lại nhiều gây lãng phí và nâng cao chi phí . Hoạt động này được ví như việc “ Sản xuất ra chiếc bánh mì cháy, sau đó mới làm sạch nó “. Do vậy chất lượng sản xuất ra không được đồng

đều, cá biệt có những sản phẩm bị lỗi

- Xí nghiệp đảm nhận hầu hết các công tác phân phối, làm phân tán hoạt động sản xuất kinh doanh mà chưa thấy được vai trò quan trọng của các tổ chức thương mại và mạng lưới bán buôn, bán lẻ trên thị trường. Mặt khác kênh phân phối của Xí nghiệp còn đơn sơ, mạng lưới tiêu thụ còn mỏng chưa

khai thác hết tiềm năng của thị trường

- Việc đầu tư cho hoạt động bán hàng còn ít nếu so sánh chi phí này với tổng doanh thu bán được, hơn nữa hoạt động quảng cáo trên các phương tiện thông tin đại chúng chưa được Xí nghiệp tiến hành, một công cụ hữu ích để

§¹i häc Kinh tÕ quèc d©n

65

Xí nghiệp quảng bá sản phẩm của mình đến người tiêu dùng

Ph¹m §øc Hoμi - CN 39 A

LuËn v¨n tèt nghiÖp

PHẦN III

MỘT SỐ BIỆN PHÁP CƠ BẢN NHẰM DUY TRÌ VÀ MỞ RỘNG THỊ TRƯỜNG TIÊU THỤ SẢN PHẨM TẠI XÍ NGHIỆP MAY ĐO X19 THUỘC CÔNG TY 247- BỘ QUỐC PHÒNG

I. Định hướng phát triển chung của ngành dệt may và của Xí nghiệp may

đo X19

1. Định hướng phát triển của ngành dệt may Việt nam Mục tiêu phát triển của ngành công nghiệp dệt- may Việt nam đến năm 2010 là: hướng vào xuất khẩu nhằm tăng nguồn thu ngoại tệ, đảm bảo cân đối trả nợ và tái sản suất mở rộng, thoả mãn nhu cầu tiêu dùng trong nước từng bước đưa Công nghiệp dệt may Việt nam trở thành ngành xuất khẩu mũi nhọn góp phần tăng trưởng kinh tế, giải quyết việc làm, thực hiện đường lối Công nghiệp hoá- Hiện đại hoá đất nước Theo dự kiến, ngành công nghiệp dệt may Việt nam phấn đấu đến năm 2010 sẽ sản suất 2 tỷ mét vải các loại, hàng bông Việt nam khoảng 60-70% tăng 2,5 lần so với năm 2000 và 210 triệu sản phẩm dệt kim, 1,2 tỷ sản phẩm may (qui chuẩn). Kim ngạch xuất khẩu dệt may dự kiến đạt 4 tỷ USD, trong đó hàng dệt là 1 tỷ USD, hàng may 3 tỷ USD. Mặt khác, mở rộng diện tích trồng bông, trồng dâu, nuôi tằm để năm 2000 tự túc được 30% bông (1000.000 tấn bông sợi/ năm ) đến năm 2010 tự túc được 50% bông( 250000 tấn bông/ năm ) và sản xuất 8000-10000 tấn tơ tằm phục vụ cho sản xuất và xuất khẩu.

Biểu III.1: Chỉ tiêu sản xuất và xuất khẩu đến năm 2010

Chỉ tiêu Đơn vị 2000 2010 Năm 2005

2000 210 1200 4000 1000 3000 1330 150 780 3000 800 2200 800 70 580 2000 370 1630 Tr. Mét Tr. Sản phẩm Tr. Sản phẩm Tr. USD Tr. USD Tr. USD

Sản xuât Vải lụa Sản phẩm dệt kim Sản phẩm may ( qui chuẩn ) Kim ngạch xuất khẩu Hàng dệt Hàng may Nguồn: Quy hoạch tổng thể phát triển ngành công nghiệp dệt may đến

§¹i häc Kinh tÕ quèc d©n

66

năm 2010- Bộ Công Nghiệp

Ph¹m §øc Hoμi - CN 39 A

LuËn v¨n tèt nghiÖp

2. Định hướng phát triển của Xí nghiệp may X19

- Giữ vững thị trường hiện có, không ngừng mở rộng sang các thị

trường mới, khẳng định vị thế của Xí nghiệp trên thương trường kinh doanh.

Đặc biệt là các sản phẩm đồng phục và các sản phẩm ngành, mở rộng qui mô

và chủng loại sản phẩm hàng hoá, hướng sang làm hàng xuất khẩu thâm nhập

vào thị thị trường quốc tế bằng cách tham gia vào các cuộc đấu thầu sản xuất

các lô hàng xuất khẩu. Tiến tới tỷ trọng xuất khẩu chiếm tới 50% tổng giá trị

sản xuất của Xí nghiệp

- Tập trung nghiên cứu nâng cao chất lượng sản phẩm sản xuất hàng

phục vụ Quốc phòng đồng thời đa dạng hoá sản phẩm, tăng cường đổi mới

thiết bị và nghiên cứu mẫu mã công nghệ sản xuất sản phẩm mới nhằm khai

thác thị trường, phát triển sản xuất hàng kinh tế phục vụ tiêu dùng trong nước

và xuất khẩu, chú trọng phương thức sản xuất- xuất khẩu trực tiếp dưới dạng

FOB và khai thác thị trường phi quota. Đảm bảo đủ việc làm thường xuyên,

tổ chức quản lý tốt, lấy chất lượng phục vụ Quân đội và hiệu quả kinh tế làm

mục tiêu phấn đấu để quyết định đến sự tồn tại và phát triển của Xí nghiệp.

Nâng cao thu nhập, chăm lo cải thiện đời sống và điều kiện làm việc cho

người lao động. Thực hiện đầy đủ nghĩa vụ với nhà nước và cấp trên

- Tiếp tục hoàn thiện bộ máy cơ cấu tổ chức của Xí nghiệp nhằm đảm

bảo hiệu quả sản xuất kinh doanh

- Nghiên cứu và vận dụng hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001trong

Xí nghiệp nhằm quản lý và đảm bảo chất lượng theo yêu cầu chính qui hiện

đại. Nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm do Xí nghiệp sản xuất trên

thị trường để mở rộng thị phần, chuẩn bị điều kiện để hội nhập vào thị trường

khu vực mậu dịch tự do AFTA và các nước Bắc mĩ khi có cơ hội

- Nâng cao tay nghề cho đội ngũ cán bộ quản lý, chuyên môn kĩ thuật

và công nhân sản xuất nhằm sử dụng có hiệu quả năng lực sản xuất được đầu

tư, đồng thời thu hút tuyển dụng nguồn lao động có chất lượng cả về phẩm

§¹i häc Kinh tÕ quèc d©n

67

chất chính trị cũng như trình độ tay nghề chuyên môn

Ph¹m §øc Hoμi - CN 39 A

LuËn v¨n tèt nghiÖp

- Đảm bảo hoạt động kinh doanh theo đúng pháp luật, đúng ngành

nghề trong giấy phép kinh doanh, thực hiện tốt đường lối, chủ chương, chính

sách của Đảng, Nhà nước, Bộ quốc phòng trong đó tuân thủ nghiêm chỉnh hai

luật thuế mới ( Thuế VAT và thuế thu nhập Doanh nghiệp ).

II. Một số biện pháp cơ bản nhằm duy trì và mở rộng thị trường tiêu thụ

sản phẩm tại Xí nghiệp may đo X19 thuộc Công ty 247 -Bộ quốc

phòng.

1 Nâng cao chất lượng công tác nghiên cứu nhu cầu thị trường

Kể từ khi được thành lập cho tới nay hoạt động sản xuất- tiêu thụ của

Xí nghiệp thiếu một sự định hướng rõ ràng, chưa có sự gắn kết giữa thị

trường với nhu cầu của khách hàng, lấy thị trường làm căn cứ cho hoạt động

kinh doanh mà chỉ sản xuất những gì mà mình có khả năng. Điều đó đã tạo ra

sự thụ động rất lớn của Xí nghiệp trước những biến động của thị trường, sự

thay đổi nhu cầu của khách hàng trong từng thời kì khác nhau. Chính vì thế

những tiềm năng về vốn, đội ngũ lao động, máy móc thiết bị ... chưa được

khai thác một cách có hiệu quả, có kế hoạch. Nguyên nhân chủ yếu của vấn

đề đó chính là công tác nghiên cứu nhu cầu thị trường của Xí nghiệp còn

nhiều yếu kém. Trong thời gian tới để đảm bảo mở rộng thị trường, tăng qui

mô và phạm vi tiêu thụ sản phẩm thì Xí nghiệp cần phải nâng cao chất lượng

nghiên cứu nhu cầu thị trường. Muốn vậy Xí nghiệp cần phải giải quyết tốt

một số vấn đề cơ bản sau

1.1 Thành lập bộ phận marketing để nghiên cứu nhu cầu thị trường

Hiện nay Xí nghiệp chưa có phòng marketing tách biệt mà chỉ có bộ

phận marketing quản lý các chương trình giới thiệu sản phẩm thuộc phòng

kinh doanh

Như vậy sẽ rất hạn chế vì khối lượng công việc khá lớn và phức tạp,

§¹i häc Kinh tÕ quèc d©n

68

nhiều giai đoạn trong một quá trình, nhất là khâu thu thập thông tin. Vậy để tổ

Ph¹m §øc Hoμi - CN 39 A

LuËn v¨n tèt nghiÖp

chức một cách có hiệu quả nhất các hoạt động marketing thì Xí nghiệp cần

phải thành lập một bộ phận marketing theo sơ đồ tổ chức như sau

Nghiên cứu thị trường chung

Nghiên cứu thị trường nước ngo(cid:31)i

Nghiên cứu thị trường trong nước

Thị trườn g Miền trung

Thị trườn g Miền ắ b c

Thị trườn g các nước phát triển

Thị trườn g các nước đang phát triển

Các tỉnh Miền nam

Các tỉnh Miền trung

Các tỉnh Miền bắc

Sơ đồ III. 1: Bộ phận Marketing của Xí nghiệp may X19 PHÒNG MARKETING

Thị trường ền Mi nam

§¹i häc Kinh tÕ quèc d©n

69

Ngày nay, thay đổi cơ bản nhất trong tư duy marketing là chuyển từ quan điểm theo đuổi việc bán hàng sang quan điểm tạo ra khách hàng. Song song với việc thiết kế một hệ thống marketing tốt nhất để “ bán được hàng”ngày càng có xu hướng chú trọng hơn đến việc thiết kế một hệ thống mối quan hệ tốt nhất để dành và giữ khách hàng. Những khách hàng tốt là một tài sản mà khi được quản lý và phục vụ sẽ đem lại cho Xí nghiệp một nguồn lợi lớn và lâu bền. Như vậy, mục tiêu của marketing đã vượt ra ngoài việc đáp ứng của khách hàng. Xét cho cùng marketing là tạo ra gía trị và nâng cao mức sống của người tiêu dùng. Vậy phòng marketing của Xí nghiệp cần phải đảm

Ph¹m §øc Hoμi - CN 39 A

LuËn v¨n tèt nghiÖp

bảo những nhiệm vụ gì để đẩy nhanh tốc độ tiêu thụ sản phẩm? Đó là các nhiệm vụ sau:

1.1.1. Nghiên cứu và dự báo nhu cầu

Nếu phòng marketing của Xí nghiệp có thể tự nghiên cứu được nhu cầu của toàn bộ thị trường dệt may thì tốt vì nó sẽ bảo đảm sự chủ động cho Xí nghiệp. Nhưng có thể sẽ không có hiệu quả vì tính qui mô của việc nghiên cứu này. Nghĩa là Xí nghiệp chỉ là một Doanh nghiệp có qui mô vừa, khả năng về tài chính và năng lực của Xí nghiệp trong việc điều tra, nghiên cứu, dự báo thị trường chưa tốt. Vì vậy sẽ là hiệu quả hơn khi phòng marketing chú trọng đến việc nghiên cứu nhu cầu về sản phẩm của Xí nghiệp và tập trung vào sản xuất và tổ chức hiệu qủa công tác phân phối tiêu thụ sản phẩm. Tuy việc tìm hiểu xu thế và những động thái của thị trường dệt may trong và ngoài nước là rất cần thiết. Phòng marketing của Xí nghiệp có thể tìm hiểu một cách dễ dàng các thông tin này ở Bộ Công Nghiệp, các trung tâm xúc tiến thương mại và các cơ quan thống kê của nhà nước

Còn riêng đối với nhu cầu về thị tường tiêu thụ sản phẩm của mình thì

phòng marketing của Xí nghiệp phải tự nghiên cứu và tìm hiểu cặn kẽ nhu cầu

và tình hình liên quan đến thị trường của Xí nghiệp. Chỉ có làm tốt công tác

này thì Xí nghiệp mới dự đoán chính xác được nhu cầu và mới có cơ sở để có

các biện pháp ổn định và phát triển thêm thị trường của mình. Muốn làm tốt

công tác này thì phòng marketing phải tổ chức hoạt động nghiên cứu và dự

báo một cách có hệ thống và có phương pháp phù hợp với đặc điểm của Xí

nghiệp và sản phẩm của mình. Sau đây là một số phương pháp mà phòng

marketing của Xí nghiệp có thể sử dụng

Phương pháp 1:

Căn cứ vào số liệu thống kê về lượng sản phẩm tiêu thụ hàng năm

(càng sử dụng số liệu nhiều năm càng tốt ) của Xí nghiệp và căn cứ vào đặc

điểm sản phẩm dệt may là sản phẩm có nhu cầu biến động theo mùa.Phòng

marketing có thể áp dụng các phương pháp dự báo nhu cầu hàng năm như

phương pháp bình quân di động giản đơn, san bằng mũ giản đơn, san bằng mũ

§¹i häc Kinh tÕ quèc d©n

70

có điều chỉnh xu hướng, phép hoạch định xu hướng để kết hợp với phương

Ph¹m §øc Hoμi - CN 39 A

LuËn v¨n tèt nghiÖp

pháp “ dự báo nhu cầu biến đổi theo mùa “ đối với từng loại sản phẩm chi tiết

cho từng tháng. Theo từng bước sau

Bước 1: Tính nhu cầu trung bình tháng theo mùa vụ ( TBi )

D i n

n TBi = ∑ = 1i

Di : Nhu cầu tháng theo năm i

i

TB 12

n MD = ∑ = 1i

Bước 2: Tính nhu cầu trung bình tháng giản đơn

Bước 3: Tính chỉ số mùa vụ

TB i MD

SLi =

Bước 4: Dự báo nhu cầu cho các tháng của năm tới ( Dti )

. iSL

DN 12

DN: Nhu cầu năm được dự báo DTi =

bằng các phương pháp trên.

Phương pháp 2

Nghiên cứu nà tìm hiểu thông tin bằng cách liên lạc thường xuyên với các khách hàng một cách định kỳ. Điều này phù hợp với các điều kiện của Xí nghiệp và các khách hàng của Xí nghiệp. Các khách hàng của Xí nghiệp - phần lớn là các khách hành mua với số lượng lớn sản phẩm và có chu kì mua lặp lại do sản phẩm chính của Xí nghiệp là các loại quần áo đồng phục. Cho nên sau mỗi lần giao hàng nên định kì tổ chức các nhân viên đi phỏng vấn thăm dò ý kiến khách hàng về chất lượng, mẫu mã, kiểu cách. Đồng thời tìm hiểu thêm nhu cầu mới của khách hàng để đáp ứng kịp thời, tránh để khách hàng phàn nàn rồi không khắc phục để họ rời bỏ Xí nghiệp

Phương pháp 3:

§¹i häc Kinh tÕ quèc d©n

71

Đây là phương pháp mà Xí nghiệp thường dùng trong các năm vừa qua như thu thập các thông tin trực tiếp thông qua mạng lưới bán hàng của Xí nghiệp, thông qua các đơn đặt hàng,tham gia các hội trợ triển lãm, tìm hiểu thông tin từ sách báo ...

Ph¹m §øc Hoμi - CN 39 A

LuËn v¨n tèt nghiÖp

Đây là các phương pháp cần được Xí nghiệp tiềp tục thực hiện trong những năm tới. Nhưng cần được mở rộng thêm phạm vi nghiên cứu và phân loại theo các nhóm khách hàng có nhu câù đối với từng loại sản phẩm của Xí nghiệp theo các tiêu thức khác nhau như nhóm khách hàng mua vơí số lượng lớn, thường xuyên, theo giá trị các đơn hàng hàng năm...

1.1.2. Nghiên cứu về chu kì sống của sản phẩm

Khi tung sản phẩm ra thị trường bất cứ người sản xuất nào cũng muốn sản phẩm của mình được người tiêu dùng chấp nhận và tiêu dùng nó mãi mãi. Nhưng không có sản phẩm nào có thể tồn tại mãi mãi được mà nó đều có chu kì sống, sẽ đến lúc nó không còn được người tiêu dùng chấp nhận nữa. Vậy ta có thể hiểu chu kì sống của một sản phẩm trên thị trường chính là khoảng thời gian từ khi nó được tung ra thị trường để bán cho các khách hàng đầu tiên cho đến khi không còn ai mua nó nữa. Thông thường một sản phẩm trải qua 4 giai đoạn ( 4 pha ) trong chu kì sống của nó ở một thị trường nhất định theo cả doanh số và lợi nhuận. Sản phẩm dệt may là sản phẩm chịu ảnh hưởng sâu sắc của yếu tố kiểu mốt, thời trang nên có chu kì sống rất ngắn, thay đổi thường xuyên và rất đa dạng ở các thị trường khác nhau. Do đó Xí nghiệp phải hiểu biết và phân tích tỉ mỉ các giai đoạn trong chu kì sống nhằm chủ động lập kế hoạch sản xuất, tiêu thụ và các biện pháp kèm theo tương ứng với từng pha của chu kì sống. Điều đó giúp việc kéo dài và khai thác tốt nhất những pha có nhiều lợi thế, cũng như tiên đoán một cách nhạy bén để chủ động rút lui khỏi thị trường khi sản phẩm bước vào giai đoạn suy tàn

Ví dụ đối với các sản phẩm áo sơ mi, áo jacket hiện nay Xí nghiệp đang sản xuất và tiêu thụ trên thị trường trong và ngoài nước là hai loại có doanh thu tương đối lớn đang ở trong giai đoạn đầu trưởng thành, có nhiều đối thủ tham gia cạnh tranh nhưng Xí nghiệp đã có phần thị trường đáng kể. Thì các biện pháp thích hợp nhất đối với các sản phẩm này là

§¹i häc Kinh tÕ quèc d©n

72

- Tập trung nỗ lực vào khâu khắc phục những sự cố máy móc hoàn thiện dây chuyền công nghệ, đào tạo và khuyến khích vật chất cho người lao động nhằm nâng cao chất lượng và tăng khối lượng sản xuất tung ra thị trường tiêu thụ

Ph¹m §øc Hoμi - CN 39 A

LuËn v¨n tèt nghiÖp

- Tăng cường hoạt động giao tiếp, khuếch chương và quảng cáo sản phẩm trên các phương tiện thông tin đại chúng như tivi, báo, tạp chí ... nhằm dữ vững khách hàng và lôi kéo khách hàng mới vào dùng thử

-Phát triển mạng lưới tiêu thụ đặc biệt là các nhà bán buôn và bán lẻ

nhưng chú trọng vào các siêu thị và các shop thời trang

Hoặc đối với sản phẩm quần âu là sản phẩm cũng ở giai đoạn trưởng thành. Dự kiến đây là sản phẩm bán rất chạy và có doanh thu tương đối lớn. Vì vậy, nếu Xí nghiệp tiến hành sản xuất và tiêu thụ mặt hàng này thì Xí nghiệp có thể thực hiện một số biện pháp sau

- Chuyển đổi việc sản xuất quần kaki hiện thời sang sản xuất quần âu kết hợp với khắc phục sự cố máy móc, xây dựng nguồn nguyên liệu và chuẩn bị kĩ thuật cho người công nhân nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng uy tín cho Xí nghiệp

- Thông tin cho người tiêu dùng tiềm năng biết được về sản phẩm mới này thông qua các hình thức quảng cáo giới thiệu sản phẩm, tham gia triển lãm, hội trợ

- Kích thích khách hàng dùng thử sản phẩm bằng các phương pháp

khuyến mại, bán giá thấp so với đối thủ cạnh tranh

Như vậy nhận thấy vai trò của hoạt động marketing nhưng hiện nay chi phí marketing của Xí nghiệp hàng năm chỉ chiếm 0,4% doanh thu bán hàng, như vậy là quá thấp. Với một chi phí như vậy phòng marketing sẽ không hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình. Vì vậy căn cứ vào đặc điểm của sản phẩm sản xuất và căn cứ vào doanh thu bán hàng thì theo em chi phí marketing hàng năm chiếm khoảng 1,5% tổng doanh thu bán hàng. Như vậy năm 2000 với mức doanh thu là 22.414.431.815 đồng thì chi phí marketing chiếm khoảng 336.216 nghìn đồng. Trong đó bao gồm

- Chi phí quảng cáo chiếm 60% chi phí marketing tức là 0,9% doanh

thu bán hàng ( 201.729 nghìn đồng )

- Chi phí nghiên cứu và phát triển chiếm 25% chi phí marketing tức là

§¹i häc Kinh tÕ quèc d©n

73

0,375 doanh thu bán hàng ( 84.054 nghìn đồng )

Ph¹m §øc Hoμi - CN 39 A

LuËn v¨n tèt nghiÖp

- Chi phí cho vận chuyển giao dịch 15% chi phí marketing tức là

khoảng 0,225% doanh thu bán hàng( 50.432 nghìn đồng )

Như vậy với những việc làm trên thì doanh thu và sản lượng dự kiến tăng thêm của một số mặt hàng chủ yếu của Xí nghiệp được cho bởi biêủ số liệu sau.

Biểu III.2: Doanh thu và sản lượng tăng thêm của Xí nghiệp may đo X19

Đvt : Doanh thu 1000đ

Năm 2002 Năm 2003 Năm 2004

Doanh Doanh Sản Doanh Sản Sản

Sản phẩm thu tăng thu tăng lượng thu tăng lượng lượng

thêm thêm tăng thêm tăng tăng

thêm thêm thêm

Đồng phục ( bộ ) 4022 603300 7691 995125 8140 1058200

Comple ( bộ ) 260 195000 322 235060 442 320450

Đờ mi ( bộ ) 117 10530 152 17240 183 20960

Sơ mi ( chiếc ) 2892 173520 5112 281160 8010 400500

áo jacket ( chiếc ) 1317 237060 1943 340025 2549 433330

Quần âu ( chiếc ) 4967 298020 7160 393800 9160 458000

áo măngtô (chiếc) 391 136850 573 189090 618 216300

§¹i häc Kinh tÕ quèc d©n

74

1.2. Nghiên cứu mẫu mã tạo sức cạnh tranh trên thị trường

Ph¹m §øc Hoμi - CN 39 A

LuËn v¨n tèt nghiÖp

Như trên đã nói sản phẩm may mặc có chu kì sống rất ngắn, luôn luôn phải cải biến và hoàn thiện theo nhu cầu mới của thị trường. Và trong tất cả mọi biện pháp để dành sự chấp nhận của khách hàng, đối với sản phẩm may mặc nghiên cứu phát triển mẫu mốt mang ý nghĩa tích cực nhất. Cụ thể cần thực hiện các biện pháp sau

* Ngoài việc lập bộ phận chuyên thiết kế mẫu, tạo mốt ở trên Xí nghiệp có thể liên kết, hợp tác với các trung tâm thiết kế mẫu và thời trang trong nước

* Tổ chức nguồn tư liệu thông tin cũng như khảo sát thực tế phục vụ cho nghiên cứu, sáng tác mẫu mốt một cách có hệ thống, kịp thời để đảm bảo cho sự tiếp cận nhanh nhất của người sáng tác với thế giới thời trang mang lại hiệu quả trong sáng tác

*Mốt mang tính thời điểm và chu kì ngày càng rút ngắn, trong tương lai vòng quay của mốt sẽ nhanh hơn, phức tạp hơn nên Xí nghiệp chỉ thành công khi thường xuyên thay đổi mẫu mốt, tìm kiếm sáng tạo nhiều kiểu mốt để luôn chỉ sản xuất ra những sản phẩm hợp mốt, đang là mốt. Kinh nghiệm cho thấy, không ngừng đổi mới mẫu mốt, kể cả khi đã đạt đến trình độ đỉnh cao của uy tín thì mới thành công và khỏi tụt hậu so với đối thủ cạnh tranh. Làm chủ mẫu mốt là nhân tố quan trọng để chiếm lĩnh thị trường

*Mẫu mốt chưa phải là tất cả, nó chỉ góp phần làm nên thành công khi cùng với nó là một phương án đồng bộ cho sản xuất và cho tiêu thụ sản phẩm. Do vậy cần hoàn thiện năng lực sản xuất theo hướng sản suất linh hoạt để có khả năng phản ứng linh hoạt với những thay đổi về mẫu mốt của thị trường. Bên cạnh những gã khổng lồ trong nước và thế giới, Xí nghiệp len chân và cạnh tranh quả là một thách thức song nếu biết quan tâm và đầu tư đúng mức để thực hiện các giải pháp nêu trên thì nhất định Xí nghiệp sẽ thành công

2. Nhanh chóng áp dụng hệ thống quản lý chất lượng ISO9001 vào 6 tháng

cuối năm 2001 để nâng cao chất lượng sản phẩm

§¹i häc Kinh tÕ quèc d©n

75

Thực hiện tốt công tác tiêu chuẩn hoá và kiểm tra chất lượng sản phẩm là biện pháp quan trọng để quản lý và nâng cao trình độ sản xuất và chất lượng sản phẩm. Điêù này phù hợp với mục tiêu nhiệm vụ của Xí nghiệp là nâng cao chất lượng sản phẩm quốc phòng theo yêu cầu chính qui hiện đại

Ph¹m §øc Hoμi - CN 39 A

LuËn v¨n tèt nghiÖp

của Quân đội và nâng cao khẳ năng cạnh tranh của sản phẩm kinh tế ( Comple, áo jacket, sơ mi, quần âu, măngtô... ), xuất khẩu mở rộng thị phần và thị trường của Xí nghiệp. Chống lại sự cạnh tranh và sự lấn lướt của hàng ngoại nhập và vươn xa hơn nữa ra thị trường quốc tế. áp dụng hệ thống tiêu chuẩn ISO9000 vào sản suất là một trong những giải pháp thực tế nhất để Xí nghiệp thực hiện được mục tiêu, nhiệm vụ trên. Bởi vì hiện nay, đăng kí và hoạt động theo các tiêu chuẩn của ISO9000 đã và đang trở thành điều kiện kiên quyết cho việc xâm nhập thị trường nước ngoài, chứng nhận phù hợp với ISO9000 là chứng minh thư chất lượng tốt nhất để cho Xí nghiệp mở rộng được thị trường tiêu thụ của mình. Đồng thời thể hiện lòng tin của khách hàng vào sản phẩm của Xí nghiệp. Song để áp dụng ISO9000 trong giai đoạn hiện nay ở Xí nghiệp là việc làm mới mẻ và hết sức khó khăn, cần phải có sự phối hợp của các bên, trong đó cần có sự hỗ trợ về tài chính của phòng không- không quân, Bộ quốc phòng và sự cố gắng, nỗ lực của toàn thể công nhân viên trong toàn Xí nghiệp. Chi phí dự kiến cho việc áp dụng hệ thống tiêu chuẩn chất lượng ISO9001 này là 300 triệu đồng từ việc chuẩn bị cho đến khi áp dụng thành công. Tuy nhiên, tiêu chuẩn ISO9000 cũng là những tiêu chuẩn, những quy tắc chung có tính chất định hướng vẫn đang không ngừng được nghiên cứu và hoàn thiện cho phù hợp với những biến đổi của nhu cầu. Cho nên khi triển khai áp dụng ISO9001, Xí nghiệp cần nghiên cứu, lựa chọn một mô hình phù hợp và có những bước chuẩn bị và triển khai thích hợp tránh hấp tấp cũng như quá cẩn trọng kéo dài. Chính vì vậy một số nội dung sau đây sẽ giúp cho Xí nghiệp trong việc chuẩn bị và triển khai áp dụng hệ thống tiêu chuẩn chất lượng ISO9001

* Trước hết là sự chuẩn bị về nhận thức về hệ thống tiêu chuẩn chất lượng ISO9000 trong toàn Xí nghiệp. Nó phải được thống nhất từ ban lãnh đạo Xí nghiệp đến cấp quản trị trung gian và thừa hành và các công nhân viên tham gia vào việc áp dụng hệ thống này. Bởi vì, chỉ có nhận thức rõ ý nghĩa, tác dụng của ISO9000 tới nhiệm vụ và mục tiêu của Xí nghiệp thì nó mới chở thành động lực thúc đẩy Xí nghiệp áp dụng thành công hệ thống này vào sản xuất

§¹i häc Kinh tÕ quèc d©n

76

Để chuẩn bị cho việc này, Xí nghiệp có thể thực hiện một số biện pháp như thuê các chuyên gia đến toạ đàm, thuyết trình kết hợp với việc phát tài liệu cho cán bộ công nhân viên có liên quan, hoặc có thể tận dụng nguồn

Ph¹m §øc Hoμi - CN 39 A

LuËn v¨n tèt nghiÖp

chuyên gia tại chỗ, những cán bồ có năng lực thực sự và am hiểu sâu về lĩnh vực này

* Thành lập tổ dự án nghiên cứu chuẩn bị các dự án và phương pháp áp dụng hệ thống tiêu chuẩn chất lượng ISO9000. Đây là vấn đề cốt lõi cho việc áp dụng thành công hay không thành công hệ thống chất lượng ISO9000 của các Doanh nghiệp Việt nam trong thời gian vừa qua và đối với Xí nghiệp cũng vậy. Tổ dự án này cần có những chuyên gia giỏi có kinh nghiệm và am hiểu về hệ thống tiêu chuẩn chất lượng ISO9000, cũng như cách thức thực hiện để áp dụng thành công hệ thống này. Sau đây là một số cách mà Xí nghiệp có thể tiến hành lập tổ dự án: Thông thường các Doanh nghiệp Việt nam thuê chuyên gia của các tổ chức quốc tế mà các tổ chức này là người có thẩm quyền giám định chứng nhận Doanh nghiệp đạt các tiêu chuẩn ISO9000. Ưu điểm của hình thức thuê chuyên gia này là Xí nghiệp tận dụng được chất xám và kinh nghiệm của các chuyên gia nước ngoài, nhất là tỷ lệ áp dụng thành công là rất lớn. Nhưng nhược điểm lớn nhất của nó là chi phí có thể rất cao. Tuy nhiên, Xí nghiệp cũng có thể tự hình thành và đảm nhiệm công tác nghiên cứu dự án kết hợp với thuê tư vấn hoặc thuê các chuyên gia tư vấn trong nước và có thể tự tham khảo một số các mô hình áp dụng phù hợp với Xí nghiệp. Ưu điểm của hình thức này là chi phí thấp hơn, tận dụng được nguồn chất xám hiện có. Nhược điểm là tổ dự án sẽ thiếu kinh nghiệm, không tường tận về cách thức tiến hành hoặc các mô hình tham khảo không phù hợp để Xí nghiệp tiến hành áp dụng, xác xuất áp dụng thành công là thấp hơn

§¹i häc Kinh tÕ quèc d©n

77

* Ngoài ra công tác tiêu chuẩn hoá phải đi kèm với kiểm tra chất lượng sản phẩm. Do đó, Xí nghiệp cần chăm lo đào tạo bồi dưỡng trình độ chuyên môn cho cán bộ, nhân viên làm công tác kiểm tra chất lượng sản phẩm để họ không chỉ dừng ở mức đối chiếu tiêu chuẩn để kiểm tra chất lượng sản phẩm mà phải trở thành những cố vấn đắc lực trong sáng tạo, nâng cao chất lượng sản phẩm và hợp lý hoá quá trình kiểm tra chất lượng sản phẩm của Xí nghiệp. Bên cạnh đó, cần xây dựng hệ thống văn bản tiêu chuẩn chất lượng ISO9001 cho Xí nghiệp như sổ tay chất lượng,qui trình thủ tục , hướng dẫn, các biểu mẫu. Đồng thời tăng cường cơ sở vật chất kĩ thuật cho hệ thống kiểm tra giám định chất lượng, hệ thống thông tin và tiêu chuẩn chất lượng, phấn đấu để đạt được mục tiêu là Xí nghiệp được cấp giấy phép đăng kí tự kiểm tra chất lượng sản phẩm, không phải qua hệ thống kiểm tra của Bộ quốc phòng, của các tổ chức kiểm tra chất lượng trong nước hay của các khách hàng nước

Ph¹m §øc Hoμi - CN 39 A

LuËn v¨n tèt nghiÖp

ngoài. Đồng thời xây dựng quy chế kiểm tra chất lượng chặt chẽ, hợp lý, hạn chế sự khiếu nại của khách hàng

Mặt khác khi tiến hành áp dụng và hoạt động theo các tiêu chuẩn ISO9001 Xí nghiệp cần quán triệt " Thực hiện kiểm tra chất lượng ở mõi khâu, mỗi công đoạn và từng bước công nghệ ", tránh hiện tượng làm sai rồi sửa và hạn chế thấp nhất sản phẩm phải qua bộ phận KCS. Việc phát hiện ra các sản phẩm hỏng, kém chất lượng không nên tìm kiếm sự quy kết lỗi ở cá nhân nào mà phải xem lai hệ thống đó hoạt động như thế nào. có rất nhiều trường hợp quy trình sản suất rất hiện đại, tổ chức và phân công rất chi tiết khoa học nhưng vẫn có những sản phẩm hỏng hoặc năng suất không cao là do người lao động chưa được huấn luyện kĩ. Trách nhiệm của người điều hành là không phải là khiển trách, kỉ luật hay phạt tiền mà phải hướng dẫn, đào tạo họ để họ thực hiện đúng kĩ thuật và qui trình công nghệ. Và đối với Xí nghiệp may X19 cũng vậy, do đặc điểm công nghệ dệt may là sử dụng nhiều lao động chân tay đòi hỏi thực hiện đúng thao tác kĩ thuật. Vì vậy việc chênh lệch về tay nghề và am hiểu công nghệ là không tránh khỏi. Người quản lý cần phải tăng cường giám sát và hướng dẫn người lao động làm theo đúng các tiêu chuẩn kĩ thuật đặt ra, nhất là trong giai đoạn đầu áp dụng hệ thống ISO9001

§¹i häc Kinh tÕ quèc d©n

78

* Việc áp dụng hệ thống ISO9001 cần thực hiện đồng bộ các khâu từ nghiên cứu mẫu mã, công nghệ sản xuất sản phẩm, tiêu chuẩn chất lượng nguyên vật liệu và tổ chức sản xuất. Nhưng hiện nay, công tác nghiên cứu mẫu mã của Xí nghiệp còn yếu kém, phụ thuộc chủ yếu vào mẫu mã của khách hàng. Mặc dù tại Xí nghiệp có phòng kĩ thuật nhưng phòng này lại có rất nhiều nhiệm vụ, chức năng, vừa thực hiện công tác nghiên cứu khoa học , kĩ thuật, công nghệ sản xuất, chất lượng sản phẩm, vừa có nhiệm vụ thiết kế mẫu, chế tạo sản phẩm mới, quản lý máy móc thiết bị, bồi dưỡng đào tạo công nhân kĩ thuật toàn Xí nghiệp, tổ chức hoạt động và các bịên pháp đảm bảo an toàn lao động, vệ sinh môi trường sinh thái ... Do vậy công tác thiết kế mẫu, chế tạo sản phẩm mới bị phân tán và không được đầu tư đúng mức. Cho nên việc hình thành bộ phận chuyên thiết kế mẫu mốt, chế thử sản phẩm mới tách ra khỏi phòng kũ thuật là hết sức cần thiết. Phòng này sẽ có chức năng nhiệm vụ là nghiên cứu thiết kế mẫu, chế tạo sản phẩm mới cho Xí nghiệp và phòng kĩ thuật tại Xí nghiệp sẽ triển khai tiến hành hướng dẫn kĩ thuật đến

Ph¹m §øc Hoμi - CN 39 A

LuËn v¨n tèt nghiÖp

các tổ sản xuất. Việc chuyên môn hoá trong khâu này sẽ nâng cao chất lượng mẫu mã sản phẩm, góp phần đa dạng hoá sản phẩm theo nhu cầu của khách hàng và khai thác thêm các nhu cầu mới từ phía khách hàng. Đây sẽ là cơ sở để Xí nghiệp phát triển và mở rộng thị trường của mình

Tất cả các nội dung hoạt động trên của Xí nghiệp cần gắn với một bản kế hoạch cụ thể để vừa đảm bảo được tiến độ và hiệu quả áp dụng. Một bản kế hoạch như thế được khái quát như trong biểu trang sau

Sổ tay chất lượng mức A: Mô tả hệ thống chất lượng tương ứng với

+ Tiêu chuẩn được áp dụng

+ Chính sách chất lượng

+Mục tiêu đã công bố

Các thủ tục qui trình mức B: Mô tả các hoạt động của từng đơn vị cần

thực hiện mỗi yếu tố của hệ thống

Các tài liệu về chất lượng ( mẫu biểu, báo cáo, hướng dẫn công việc )

Mức C: Các tài liệu chi tiết về hướng dẫn công việc

8

6

4

2

1

3

9

5

11

12

10

CHIẾN DỊCH NHẬN THỨC ISO9001

Bổ nhiệm đại diện ISO9001

Lập kế hoạch - Nhân lực

Như vậy khi Xí nghiệp áp dụng hệ thống quản lý chất lượng ISO9001 sẽ giúp Xí nghiệp khắc phục được tình trạng sản phẩm kém chất lượng bị tồn kho do không tiêu thụ được, nâng cao khả năng cạnh tranh và uy tín của Xí nghiệp, góp phần quan trọng vào việc phát triển và mở rộng thị trường đặc biệt là những sản phẩm cạnh tranh bằng chất lượng như sản phẩm của ngành dệt may

Đào tạo và thông tin về chất lượng

§¹i häc Kinh tÕ quèc d©n

79

Sổ tay chất lượng mức A

Biểu III.3: Kế hoạch hành động xây dựng hệ thống chất lượng ISO9001 Tháng 7

á hủ Mứ B

Ph¹m §øc Hoμi - CN 39 A

LuËn v¨n tèt nghiÖp

3 Phấn đấu hạ giá thành sản xuất sản phẩm

Hiện nay trên thị trường giá bán một số sản phẩm của Xí nghiệp may

X19 vẫn cao hơn so với một số đối thủ như: Công ty may Thăng long,

Hanoicimex, Công ty may X20... Điêù này ảnh hưởng đến khả năng duy trì và

mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm của Xí nghiệp. Chính vì vậy, việc

nghiên cứu tìm ra các biện pháp nhằm hạ giá thành sản phẩm là một việc làm

§¹i häc Kinh tÕ quèc d©n

80

cần thiết đối với Xí nghiệp may X19. Muốn hạ giá thành sản phẩm, Xí nghiệp

Ph¹m §øc Hoμi - CN 39 A

LuËn v¨n tèt nghiÖp

cần áp dụng một số biện pháp làm giảm chi phí về nguyên vật liệu, chi phí

tiền lương, chi phí cố định và chi phí cho việc sử dụng nhiên liệu, điện, nước.

3.1 Các biện pháp giảm chi phí nguyên vật liệu

a) Về công tác định mức tiêu hao nguyên vật liệu

Trước hết việc xây dựng định mức tiêu hao nguyên vật liệu là một tất

yếu đối với bất kì một Doanh nghiệp sản xuất nào. Tương ứng với mỗi điều

kiện sản xuất nhất định mức sử dụng nguyên vật liệu phù hợp. Khi điều kiện

sản xuất thay đổi thì hệ thống định mức cũng phải thay đỏi theo. Để các bộ

phận sản xuất quan tâm đến việc tiết kiệm nguyên vật liệu trước hết Xí nghiệp

phải rà xoát lại các định mức tiêu hao nguyên vật liệu. Mặc dù trong những

năm qua Xí nghiệp thường xuyên quan tâm đến việc xây dựng định mức, điều

chỉnh lại các chỉ tiêu này nhưng trên thực tế các phân xưởng thực hiện còn dễ

dàng vì định mức giao phần còn chưa sát với thực tế và vì điều kiện sản xuất

ngày càng hoàn thiện hơn. Chính vì vậy việc điều chỉnh định mức tiêu hao

nguyên vật liệu là việc làm cần thiết thường xuyên

Việc điều chỉnh định mức tiêu hao nguyên vật liệu đối với các sản

phẩm sẽ làm giảm đáng kể giá thành của sản phẩm . Cụ thể được thể hiện

thông qua bảng số liệu sau:

Biểu III.4 : Định mức NVL cho một chiếc áo chiết gấu.

ĐVT: ( mét)

Loại NVL Định mức

thực hiện

Chênh lệch

Đơn giá (đồng/mét)

Chênh lệch (đồng)

Vải

1,5

1,47

0,03

15.000

450

Mex

0,15

0,135

0,015

8.000

120

§¹i häc Kinh tÕ quèc d©n

81

Ph¹m §øc Hoμi - CN 39 A

LuËn v¨n tèt nghiÖp

Chỉ

74

71

3

3,8

11,4

Như vậy mỗi một áo chiết gấu xí nghiệp tiết kiệm được 581,4 đồng. Nếu lấy áo chiết gấu làm sản phẩm quy đổi thì trong quá I năm 2001 Xí nghiệp sản xuất được 280.000 áo chiết gấu và theo bảng định mức trên thì Xí nghiệp sẽ tiết kiệm được 581,4 x 280.000 = 162.792.000 đồng, tiền nguyên vật liệu

b) Tổ chức tốt công tác thu mua

Xí nghiệp cần tìm nguồn mua nguyên vật liệu để tối ưu hoá hoạt động mua, giảm giá mua mà chất lượng vẫn đảm bảo. Cố gắng mua tận gốc, hạn chế mua qua trung gian đẫn đến gía cao. Đồng thời phải tổ chức tốt công tác thu mua để giảm chi phí thu mua

Từ cuối năm 1997 Xí nghiệp đã được quyền xuất nhập khẩu trực tiếp, tạo điều kiện thuận lợi cho Xí nghiệp trong kinh doanh. Xí nghiệp có thể chủ động nhập vật tư cho sản xuất, lựa chọn bạn hàng với giá rẻ hơn tiết kiệm đựơc chi phí uỷ thác xuát nhập khẩu. Điều đó cho phép Xí nghiệp có thể giảm chi phí nguyên vật liệu giá thành sản phẩm khoảng 0,2 -> 0,3%

c) Giảm chi phí bảo quản

Hầu hết nguyên vật liệu của Xí nghiệp phải đi mua ngoài, có những loại phải dự trữ cho chu kì sản xuất từ 3 -> 6 tháng, do đó việc bảo quản nguyên vật liệu dự trữ là rất quan trọng

§¹i häc Kinh tÕ quèc d©n

82

Trong những năm qua Xí nghiệp đẫ quan tâm đến cải tạo kho tàng, nâng cao trình độ đội ngũ thủ kho. Tuy vậy vẫn cần phải đầu tư thêm các điều kiện bảo quản, xếp đặt. Phải thực hiện xuất nhập kho rõ ràng, bảo đảm chính xác về số lượng, đúng chủng loại và yêu cầu về chất lượng. Cần tăng cường hơn nữa các biện pháp chống chuột, bọ, gây hao hụt, ẩm mốc nguyên vật liệu. Đối với kho đựng nguyên vật liệu cần bảo đảm các điều kiện để có thể bảo đảm để có thể bảo quản tốt, không để hư hỏng giảm chất lượng, gây hao hụt, lãng phí.

Ph¹m §øc Hoμi - CN 39 A

LuËn v¨n tèt nghiÖp

Xí nghiệp cần tính toán lượng nguyên vật liệu gối đầu hợp lý, vừa bảo đảm đủ sản xuất nhưng vẫn bảo đảm không bị thời hạn làm giảm phẩm cấp chất lượng nguyên vật liệu

3.2 Các biện pháp làm giảm chi phí tiền lương

Trong giá thành sản phẩm tiền lương là một khoản chi phí không nhỏ. Vì vậy giảm chi phí tiền lương sẽ làm giảm gía thành của sản phẩm. Những năm qua năng xuất lao động của Xí nghiệp có mức tăng khá nhanh nhưng do Xí nghiệp nâng cao mức thu nhập cho người lao động nên tốc dộ tăng tiền lương nhanh hơn tốc độ tăng năng xuất lao động. Trong thời gian tới Xí nghiệp cần đầu tư các biện pháp nhằm đẩy nhanh tốc độ tăng năng xuất lao động, bên cạnh đó cần áp dụng các biện pháp nhằm giảm chi phí tiền lương

Giảm chi phí tiền lương có thể thực hiện thông qua việc xây dựng và áp dụng định mức lao động

Để giảm chi phí tiền lương phải giảm đơn giá tiền lương. Đơn giá tiền lương giảm không có nghĩa là giảm tiền lương của công nhân mà là dựa trên cơ sở giảm định mức lao động. Việc giảm định mức lao động sẽ là điều kiện để giảm chi phí tiền lương. Vì vậy Xí nghiệp cần nghiên cứu hoàn thiện định mức lao động trên cơ sở điều kiện mới về cơ sở vật chất kĩ thuật. Điều này hoàn toàn có thể thực hiện được thông qua các biện pháp hợp lý hoá sản xuất, đầu tư đổi mới công nghệ bảo đảm tính đồng bộ của dây chuyền sản xuất, đặc biệt là ở các công đoạn còn nhiều lao động thủ công và các công đoạn công nhân còn phải làm việc trên những trang thiết bị máy móc lạc hậu, cũ kỹ.

3.3 Các biện pháp tiết kiệm chi phí cố định, nhiên liệu, điện nước

a) Các biện pháp tiết kiệm chi phí cố định

Chi phí cố định bao gồm chi phí sử dụng máy móc, thiết bị ( Khấu hao

tài sản cố định ), chi phí quản lý. Để giảm các chi phí này cần thực hiện các

biện pháp sau:

§¹i häc Kinh tÕ quèc d©n

83

Phấn đấu tăng nhanh sản lượng. So với mức tăng sản lượng các chi phí cố định thường tăng ít hơn. Vì vậy nếu sản lượng tăng sẽ làm giảm chi phí cố định tính trên đơn vị sản phẩm, có nghĩa là lợi nhuận của mỗi loại sản phẩm sẽ tăng lên. Xí nghiệp nên tận dụng lượng lao động và công xuất máy móc

Ph¹m §øc Hoμi - CN 39 A

LuËn v¨n tèt nghiÖp

thiết bị hiện có, hợp lý hoá sản xuất và mở rộng qui mô sản xuất để tăng sản lượng

Đi đôi với tăng khối lượng sản xuất Xí nghiệp cần làm tốt công tác tiêu thụ sản phẩm, sản xuất đến đâu tiêu thụ hết đến đó

Sử dụng có hiệu quả tài sản cố định. Đối với những tài sản cố định dư thừa không cần dùng vào các dây chuyền sản xuất nên chuyển nhượng hoặc bán. Thanh lý những tài sản đã khấu hao hết, không dùng nữa để thu hồi giá trị còn lại. Bảo quản tài sản cố định để giảm chi phí sửa chữa

Lựa chọn đầu tư các dây chuyền máy móc thiết bị phù hợp với điều kiện sản xuất của ngành dệt may nước ta, phù hợp với trình độ sử dụng để có thể phát huy hết công xuất của máy móc

Sử dụng có hiệu quả vốn lưu động. Điều đó có nghĩa là tăng nhanh vòng quay vốn, bằng nhiều biện pháp khác nhau để giảm tiền vay ngân hàng có thể giảm chi phí lãi vay từ 7 -> 10% trong giá thành sản phẩm

Ngoài những biện pháp trên Xí nghiệp cũng còn có thể thực hiện các biện pháp để giảm các chi phí cố định khác, nhất là các chi phí gián tiếp

b) Các biện pháp giảm chi phí nhiên liệu, điện, nước

Mặc dù các chi phí này chiếm tỷ lệ nhỏ trong giá thành sản phẩm ( trên dưới 2% ), nhưng tiết kiệm nó cũng sẽ làm lợi đáng kể cho Xí nghiệp

Để tiết kiệm điện trong sản xuất Xí nghiệp nên lắp các công tơ đo điện và giao định mức sử dụng điện cho các phân xưởng. Thiết kế lại, nâng cao năng lực sản xuất của các máy may, máy vắt sổ, dàn là hơi... ở các công đoạn sản xuất để giảm tiêu hao điện năng trên một đơn vị sản phẩm

Để tiết kiệm nước sản xuất Xí nghiệp cần tiếp tục đầu tư thêm thiết bị lọc và dẫn nước tới các phân xưởng, lắp đồng đo nước cho các phân xửơng. Giáo dục ý thức tiết kiệm nước không để các van nước chảy tự do

Để tiết kiệm nhiên liệu Xí nghiệp nên mua loại than có chất lượng cao, nhiệt lượng lớn để tăng hiệu quả sử dụng. Trang bị mới hoặc cải tiến các thiết bị cũ để giảm mức tiêu hao nhiên liệu

§¹i häc Kinh tÕ quèc d©n

84

4 Xây dựng kênh phân phối hợp lý

Ph¹m §øc Hoμi - CN 39 A

LuËn v¨n tèt nghiÖp

Hiện nay việc phân phôi sản phẩm của Xí nghiệp may X19 diễn ra theo

hai hình thức. Phân phối trực tiếp và phân phối gián tiếp song thực trạng hiện

nay việc phân phối sản phẩm chủ yêú thông qua hình thức trực tiếp. Trong cơ

chế thị trường hiện nay hình thức này không còn phù hợp bởi vì

Thứ nhất: Hiện nay có rất nhiều Doanh nghiệp nằm rải rác trên các

tỉnh, thành phố suốt từ Bắc vào Nam đều sản suất những loại sản phẩm này.

Khách hàng ở các địa phương đó không ngần ngại sử dụng những sản phẩm

của địa phương do yếu tố thuận tiện, nhanh chóng, kịp thời quyết định

Thứ hai: Nếu cứ tiếp tục duy trì hình thức phân phối tiêu thụ sản phẩm

như hiện nay thì Xí nghiệp may X19 sẽ rất khó khăn trong việc nắm bắt điều

tiết lượng hàng hoá cũng như giá cả mỗi khi thị trường có biến động do không

nắm bắt được đầy đủ thông tin kịp thời chính xác

Việc tổ chức mạng lưới phân phối sản phẩm của Xí nghiệp may X19 là

rất cần thiết, có nhiều cách để tổ chức mạng lưới phân phối sản phẩm như đặt

các văn phòng đại diện hoặc các cưả hàng giới thiệu sản phẩm ở các tỉnh và

thành phố trong cả nước hoặc một số nơi trọng điểm ...Theo cách này xét thấy

không phù hợp với qui mô của Xí nghiệp bởi vì như vậy Xí nghiệp phải trả

thêm nhiều khoản chi phí. Tiền thuê điạ điểm, trả lương cho công nhân bán

hàng tăng lượng lao động gián tiếp của Xí nghiệp

Để tổ chức mạng lưới phân phối sản phẩm cho Xí nghiệp thì cách tốt

nhất xí nghiệp may X19 nên chọn cho mình tại mỗi tỉnh, thành phố hoặc các

địa điẻm trọng tâm một người tại địa phương đó đứng ra làm tổng đại lý tiêu

thụ, thông qua việc thành lập các tổng đại lý, các đại lý vệ tinh. Các đại lý nhỏ

nhận hàng tại các tổng đại lý theo giá cả trên thị trường có sự quản lý, chỉ đạo

cua Xí nghiệp may X19. Như vậy sẽ hình thành hai cấp phân phối đó là

+ Cấp phân phối trực tiếp: Giữa Xí nghiệp may X19 và các tổng đại lý

+ Cấp phân phối giữa các tổng đại lý và các đại lý nhỏ vệ tinh quanh

§¹i häc Kinh tÕ quèc d©n

85

nó. Có thể hiểu sự bố trí này thông qua sơ đồ sau

Ph¹m §øc Hoμi - CN 39 A

LuËn v¨n tèt nghiÖp

Bộ phận marketing của xí nghiệp

Sơ đồ III.2: Mạng lưới phân phối của Xí nghiệp may X19

Biểu hiện sự quản

Tổng đại lý A-B-C

Các đại lý vệ tinh A- B- C

lý trực tiếp Biểu hiện sự phản hồi các thông tin Cách tổ chức mạng lưới tiêu thụ này sẽ rất có lợi cho Xí nghiệp may X19

Thứ nhất Xí nghiệp may X19 sẽ tiết kiệm được rất nhiều chi phí trong khâu tiêu thụ như thuê địa điểm vận chuyển hàng hoá, trả lương cho lao động gián tiếp. Nghĩa là Xí nghiệp may X19 sẽ không phải trả thêm lương, giảm nhiều chi phí trong việc nghiên cứu thị trường, giảm bớt công tác quản lý mạng lưới tiêu thụ

Thứ hai sản phẩm của Xí nghiệp sẽ có mặt trên klhắp mọi miền của tổ quốc và một số thị trường quốc tế , tạo điều kiện cho Xí nghiệp duy trì và mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm của mình . Điều đó được thực hiện thông qua kết quả dự kiến của Xí nghiệp như sau:

Biểu III.5: Tỷ xuất lợi nhuận so với doanh thu của Xí nghiệp

Đơn vị tính: %

Thị trường

Miền bắc Miền trung Miền nam Xuất khẩu Năm 2002 4,58 3,85 3,72 5,02 Năm 2003 4,90 4,81 4,57 5,77 Năm 2004 5,49 5,63 5,71 6,06

§¹i häc Kinh tÕ quèc d©n

86

Thứ ba Xí nghiệp sẽ nắm bắt đầy đủ kịp thời thông tin cần thiết cho hoạt động sản xuất kinh doanh của mình mà không mất nhiều thời gian, chi

Ph¹m §øc Hoμi - CN 39 A

LuËn v¨n tèt nghiÖp

phí nghiên cứu nhu cầu thị trường. Các thông tin này thiết thực và có độ chính xác cao

Để đưa bộ máy này vào hoạt động có hiệu quả, Xí nghiệp cần tiến hành

các bước sau

- Luôn duy trì và củng cố mối quan hệ tốt giữa các đại lý, Xí nghiệp

có thể bỏ ra một khoản chi phí nhỏ nhằm đào tạo cho các đại lý về nghiệp vụ

bán hàng, đẩy nhanh lượng hàng tiêu thụ, nâng cao uy tín của Xí nghiệp trên

thương trường kinh doanh

- Xem xét mức hoa hồng mà các đại lý được hưởng một cách hợp lý

dựa trên việc tăng mức doanh lợi của Xí nghiệp khi sử dụng mạng lưới đại lý

và mức hoa hồng hường xuyên phải có sự điều chỉnh. Mục đích là nhằm

khuyến khích các đại lý tích cực nhận hàng đẩy nhanh lượng hàng hoá. Ngoài

ra Xí nghiệp nên áp dụng chế độ thưởng cho các đại lý theo số lượng tiêu thụ

từng tháng để khuyến khích họ

- Thường xuyên có sự liên hệ chặt chẽ với các tổng đại lý để tổng hợp

nhu cầu nhằm chủ động kết hợp vận chuyển hàng theo chuyến. Như vậy sẽ

giảm bớt được chi phí lưu thông để nắm vững tình hình thị trường qua đó kịp

thời tham mưu cho lãnh đạo Xí nghiệp có quyết định đúng đắn để ổn định thị

trường giá cả

- Xí nghiệp cần có biện pháp kiểm tra, kiểm sóat chặt chẽ với các

tổng đại lý phát hiện kịp thời tổng đại lý hoạt động kém hiệu quả để thu hồi

nhanh chóng. Tóm lại cùng với việc áp dụng các hình thức phân phối gián

tiếp thông qua việc lập một mạng lưới tiêu thụ sản phẩm. Khi đã lập được một

mạng lưới tiêu thụ thì Xí nghiệp mayđo X19 cần phải thực hiện một số biện

pháp nhằm lôi kéo các đại lý về phía mình

5 Đẩy mạnh các hoạt động dịch vụ trước, trong và sau khi bán hàng

5.1. Tăng cường công tác quảng cáo khuếch trương sản phẩm

Ngày nay việc quảng cáo cho sản phẩm không còn xa lạ đối với các

Doanh nghiệp. Vấn đề đặt ra là quảng cáo như thế nào sao cho có hiệu quả

§¹i häc Kinh tÕ quèc d©n

87

nhất, quảng cáo là để khuếch chương sản phẩm, nâng cao uy tín và lưu dữ

Ph¹m §øc Hoμi - CN 39 A

LuËn v¨n tèt nghiÖp

hình ảnh của Xí nghiệp. Vì vậy, quảng cáo là cần thiết, là sự hỗ trợ quan trọng

để thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm. Do đó quảng cáo phải đáp ứng được các yêu

cầu sau

- Phải lôi cuốn, tạo ấn tượng riêng biệt đối với khách hàng như sử dụng biển quảng cáo, hình ảnh âm thanh sống động, lời văn phải gây được lòng tin cho khách hàng, hình ảnh ngôn ngữ phải thích hợp với trình độ tập quán của khách hàng, phù hợp với lối sống và bảo đảm tính trung thực trong quảng cáo

- Phương thức quảng cáo có phù hợp với từng sản phẩm và qui mô của Xí nghiệp. Sau mỗi lần quảng cáo cần xác định hiệu quả của quảng cáo đó xem có thực sự thúc đẩy quá trình tiêu thụ sản phẩm hay không.

Công tác quảng cáo phải thực hiện theo chương tình sau

Biểu III. 6 : Bảng chương trình quảng cáo

Đồng phục, comple, sơ mi, jacket, quần âu ... Tên sản phẩm

Khuếch trương nhằm đẩy mạnh tiêu thụ sản Mục tiêu

phẩm Người nhận thông tin

Khách hàng và cá đại lý Nội dung quảng cáo

Tính năng tác dụng, chất lượng và mẫu mã mới Phương tiện quảng cáo

Tivi, đơn chào hàng, báo, tạp chí Thời điểm quảng cáo

Tập chung chủ yếu vào quí I và quí II Phương thức quảng cao

Kinh phí quảng cáo Tivi 1 tháng 1 lần, báo, tạp chí tuần một lần

50% chi phí marketing

Do sản lượng tiêu thụ trong quí I và quí II thấp nên Xí nghiệp cần tập

chung quảng cáo vào thời điểm này, đồng thời Xí nghiệp cần chú ý

§¹i häc Kinh tÕ quèc d©n

88

- Giới thiệu sản phẩm đồng phục đông, đồng phục hè nên tập chung vào nhóm khách hàng chuyền thống do đó cần phải quảng cáo nhiều trên báo, tạp chí ngành Quân đội, Công an, Kiểm lâm

Ph¹m §øc Hoμi - CN 39 A

LuËn v¨n tèt nghiÖp

- Với các áo sơ mi, jacket, quần âu,comple, quần âu,... thì cần quảng

cáo trên tạp chí thời trang, bào phụ nữ, báo tuổi trẻ và đời sống

Sau khi quảng cáo Xí nghiệp cần đánh giá hiệu quả của quảng cáo

+ Sản phẩm được tiêu thụ bao nhiêu?

+ Người tiêu dùng đánh giá sản phảm như thế nào? cần phải hoàn thiện

chi tiết sản phẩm nào cho phù hợp với yêu cầu của khách hàng

+ Ấn tượng và uy tín của Xí nghiệp có tăng lên hay không?

Nếu kết quả đánh giá là không hiệu quả Xí nghiệp cần chuyển quảng

cáo sang hướng khác

Ngoài ra để hỗ trợ bán hàng Xí nghiệp cũng cần phải thực hiện các

biện pháp xúc tiến và yểm trợ bán hàng

-Đối với công tác xúc tiến bán hàng Xí nghiệp cần tập chung vào việc

xây dựng các mối quan hệ với Khách hàng thông qua hình thức hội nghị

khách hàng, hội thảo, tặng quà. Mục tiêu của xây dựng các mối quan hệ với

khách hàng là tạo ra lòng tin của họ đối với Xí nghiệp và hàng hoá của Xí

nghiệp, tranh thủ sự ủng hộ và tạo ra sự ràng buộc của họ đối với Xí nghiệp.

Khách hàng của Xí nghiệp không phải chỉ là những bạn hàng mà còn là

người quảng cáo các sản phẩm của Xí nghiệp. Xí nghiệp phải có cách ứng xử

đối với từng loại công chúng trên. Thông qua việc xây dựng các mối quan hệ

quân chúng để

+ Khách hàng mô tả, nói về thái độ của họ đối với Xí nghiệp và các

sản phẩm của Xí nghiệp. Qua thái độ của khách hàng mà Xí nghiệp biết được

các thành công và những mặt tồn tại cần giải quyết của mình

+ Xí nghiệp lắng nghe các ý kiến của khách hàng, công bố các chính

sách, các điều kiện mua bán. thông qua các mối quan hệ để Xí nghiệp kiểm

tra lại các chính sách các biện pháp để nâng cao độ an toàn của các hoạt động

§¹i häc Kinh tÕ quèc d©n

89

kinh doanh...

Ph¹m §øc Hoμi - CN 39 A

LuËn v¨n tèt nghiÖp

- Đối với công tác yểm trợ bán hàng Xí nghiệp nên thông qua hoạt

động của các cửa hàng giới thiệu sản phẩm, các hội trợ và các hoạt động sau

khi bán hàng

+ Cửa hàng giới thiệu sản phẩm có ba chức năng cơ bản là quảng cáo,

yểm trợ, bán hàng. Vì cửa hàng giới thiệu sản phẩm có các chức năng nên khi

hình thành các các cửa hàng cần phải đảm bảo một số yếu cầu sau

Thứ nhất; Phải có địa điểm phù hợp với yêu cầu của quảng cáo thường

là các tụ điểm mua bán, các thị trấn, thị xã, các đầu mối giao thông

Thứ hai: Tổ chức quảng cáo tốt ở các cửa hàng giới thiệu sản phẩm

Thứ ba: Trong cửa hàng không những chỉ trình bày những mặt hàng của Xí nghiệp mà còn trình bày cả những mặt hàng được sản xuát ra từ các sản phẩm của Xí nghiệp hoặc trình bày cả những mặt hàng khác cần phải có khi sử dụng, tiêu dùng các mặt hàng của Xí nghiệp

Thứ tư: Các điều kiện mua bán phải rất thuận tiện, thu hút khách hàng

+ Tham gia triển lãm hội trợ: Triển lãm hội trợ là nơi trưng bày, giới thiệu sản phẩm của các Công ty, Xí nghiệp từ nhiều nơi khác nhau, là nơi gặp gỡ giữa người mua và người bán. Tuỳ theo những điều kiện mà Xí nghiệp có nên tham gia hay không. Nếu tham gia hội trợ Xí nghiệp cần phải

Khai thác triệt để lợi thế quảng cáo của hội trợ để quảng cáo cho sản

phẩm của mình

Nâng cao uy tín của Xí nghiệp và của sản phẩm, bằng nhiều biện pháp

khuếch trương đó

Nắm bắt chính xác nhu cầu, tìm hiểu kĩ lưỡng, chính xác các bạn hàng.

Đây là dịp tốt nhất để tìm hiểu các bạn hàng

Tận dụng các thời cơ để bán hàng. Bởi vì bán hàng cũng là một chức

năng năng quan trọng của hội trợ

§¹i häc Kinh tÕ quèc d©n

90

Thông qua hội trợ để tăng cường giao tiếp và tìm hiểu thị trường

Ph¹m §øc Hoμi - CN 39 A

LuËn v¨n tèt nghiÖp

+ Hoạt động sau khi bán hàng của Xí nghiệp phải được thông qua bảo hành sản phẩm của mình, chịu mọi chi phí cho khách hàng nếu sản phẩm không đạt chất lượng, khách hàng sẽ được đổi lại hoặc trả lại sản phẩm

5.2. Xây dựng chính sách giá cả linh hoạt

Việc xác định chính sách giá bán hợp lý là việc cực kì khó khăn đối với tất cả các Doanh nghiệp trong cơ chế thị trường hiện nay. Một mặt nó phải bảo đảm được chi phí sản xuất kinh doanh và có lãi, mặt khác nó phải bảo đảm được khả năng thanh toán của khách hàng. Trước tiên Doanh nghiệp mục tiêu đạt được đối với việc tiêu thụ sản phẩm . Các Doanh nghiệp thường theo đuổi các mục tiêu chính sách thông qua việc định giá bán

- Đảm bảo sống sót

- Đạt được doanh thu, lợi nhuận đề ra

- Số lượng sản phẩm tiêu thụ

- Thâm nhập thị trường

Trước khi xác định giá Xí nghiệp cần phải hiểu rõ những yếu tố ảnh

hưởng tới mức độ nhạy cảm với giá bán của người mua

+ Người mua ít nhạy cảm với giá bán hơn khi sản phẩm đó độc đaó đặc biệt

+ Người mua ít nhạy cảm với giá bán hơn khi họ không biết đến sản

phẩm thay thế

+ Người mua ít nhạy cảm với giá khi số tiền chi tiêu nhỏ hơn so với thu nhập

+ Người mua ít nhạy cảm với giá hơn khi sản phẩm đó được đối tượng

khác trả tiền

§¹i häc Kinh tÕ quèc d©n

91

Với chính sách ổn định giá bán ( giá bán cố định ) qua các năm Xí nghiệp may X19 đã tạo ra một chính sách giá cuả mình. Thực tế cho thấy thị trường luôn biến động, các khách hàng thường xuyên mua sản phẩm với số lượng khác nhau, thời điểm khác nhau nên áp dụng chính sách giá này sẽ gặp rầt nhiều hạn chế . Vì vậy để khắc phục hạn chế này Xí nghiệp nên áp dụng chính sách giá linh hoạt ( có sự điều chỉnh giá dưạ trên chi phí sản xuất kinh doanh )

Ph¹m §øc Hoμi - CN 39 A

LuËn v¨n tèt nghiÖp

* Xí nghiệp vẫn bán theo gia cố định nhưng có kèm theo những khoản khuyến mại cho những khách hàng mua với khối lượng lớn hoặc bớt giá cho những người mua với khối lượng lớn điều này sẽ thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm, chú trọng vào những khách hàng quan trọng, duy trì mối quan hệ tốt với nhóm khách hàng này

+ Nếu khách hàng mua số lượng sản phẩm có gía trị từ 100 đến 200

triệu giảm 1,5% giả bán

+ Nếu khách hàng mua số lượng sản phẩm có giá trị từ 200 đến 500

triệu giảm 2,5% giá bán

+ Nếu khách hàng mua số lượng sản phẩm có gí trị từ 500 triệu chở lên

thì giảm từ 3% đến 4% giá bán

* Sử dụng các phương thức thanh toán khác nhau để khuyến khích

khách hàng tiêu thụ sản phẩm của mình

+ Nếu khách hàng trả tiền ngay giảm 1% giá bán

+ Nếu khách hàng trả tiền chậm dưới 1 tháng giảm 0,5% giá bán

+ Nếu khách hàng trả tiền chậm dưới 2 tháng thì không giảm giá

+ Nếu khách hàng trả tiền trậm từ 2 tháng trở lên thì khách hàng phải

trả thêm 2% giả bán

Như vậy, với chính sách giá linh hoạt sẽ làm cho mối quan hệ giữa Xí nghiệp và khách hàng thêm mềm dẻo hơn, gắn bó chặt chẽ với nhau hơn. Từ đó Xí nghiệp có thể đẩy nhanh được tốc độ tiêu thụ sản phẩm và tăng khả năng cạnh tranh của Xí nghiệp trên thương trường kinh doanh. Với cách làm đó, chính sách này sẽ đem lại kết quả dự kiến cho Xí nghiệp thông qua bảng số liệu sau

Biểu III.7: Doanh thu tiêu thụ tăng thêm nhờ áp dụng chính sách giá cả linh hoạt

Năm 2003 Năm 2002

§¹i häc Kinh tÕ quèc d©n

92

Đvt: 1000 đồng Năm 2004 1377437 454548 168303 Thị trường A Thị trường trong nước 1 Công an 2 Viện kiểm sát 1218140 405847 134643 1047731 317068 120217

Ph¹m §øc Hoμi - CN 39 A

LuËn v¨n tèt nghiÖp

3 Kiểm lâm 4 Kiểm lâm 5 Quản lý thị trường 6 Điện lực 7 Hàng không 8 Thi hành án 9 Xăng dầu B Thị trường nước ngoài 1 Đức 2 Bỉ 3 Lỉtva 4 Nhật 5 Hongkong 6 Đài loan 7 Hàn quốc Tổng cộng 57795 266601 110048 40849 71269 48570 15314 813617 255785 155884 154730 79341 35740 62920 69217 1861348 66464 285263 121052 49018 76970 59741 19142 1008522 306942 194855 196507 98382 43960 79279 88597 2226662 79757 308084 130737 61273 83897 66910 23928 1250074 383677 243568 245633 119042 54510 99099 104545 2627511

6. Nâng cao trình độ tay nghề cho người lao động

6.1. Đào tạo công nhân nhằm nâng cao tay nghề

Muốn xâm nhập vào thị trường mới thì việc giữ chữ tín là rất quan trọng. Điều đó đòi hỏi chất lượng sản phẩm phải được bảo đảm. chất lượng sản phẩm ở đây bao gồm kiểu dáng, đường may, chất liệu vải. Tay nghề của người công nhân và dây chuyền sản xuất ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sản phẩm và năng xuất lao động

Thành công hay thất bại trong mọi hoạt động phụ thuộc chủ yếu vào yếu tố con người. Để có được đội ngũ công nhân lành nghề thì Xí nghiệp phải đào tạo, giáo giục toàn diện về chính trị, tư tưởng, văn hoá, khoa học, kĩ thuật ( nâng cao tay nghề )

§¹i häc Kinh tÕ quèc d©n

93

* Về tư tưởng: Thường xuyên và trực tiếp thông qua đoàn thể công đoàn, đoàn thanh niên mở lớp tập huấn, bồi dưỡng tư tưởng chính trị để mọi người hiểu rằng sản xuất sản phẩm có chất lượng là lương tâm, vinh dự, đạo đức của mỗi người công nhân. Mỗi người góp phần vào việc củng cố và nâng cao uy tín của Xí nghiệp. Uy tín này được khẳng định qua việc sản phẩm của Xí nghiệp được thị trường trong và ngoài nước chấp nhận. Xí nghiệp cần phải làm cho mỗi công nhân thấy rằng lợi ích kinh tế của họ gắn liền với sản phẩm

Ph¹m §øc Hoμi - CN 39 A

LuËn v¨n tèt nghiÖp

có chất lượng cao hay không. Đồng thời Xí nghiệp cũng nên có chế độ khuyến khích bằng lợi ích vật chất đối với những người thợ giỏi, có sáng kiến. Có như vậy mới kích thích lòng say mê và sự tận tâm với công việc của công nhân

* Về văn hoá: Có kế hoạch nâng cao trình độ văn hoá cho công nhân. Khi có trình độ văn hoá, khoa học kĩ thuật người công nhân sẽ có nhiều sáng tạo trong sản xuất, làm cho năng xuất lao động và chất lượng sản phẩm ngày càng tăng

* Về tay nghề: Xí nghiệp phải quan tâm, thường xuyên bồi dưỡng nâng cao trình độ tay nghề của công nhân. Công nhân sử dụng tinh thông máy móc thiết bị, công cụ lao động, hiểu biết các yếu tố cấu thành sản phẩm, nguyên nhân gây ra phế phẩm , từ đó có những biện pháp với sự cố sai lầm hoặc phát hiện lỗi và khắc phục chúng một cách nhanh chóng

Mặt khác công nhân có đủ trình độ sẽ tự kiểm tra chất lượng sản phẩm của mình. Không có sự kiểm tra nào hiệu quả bằng công nhân tự mình kiểm tra lấy chất lượng sản phẩm do chính mình làm ra, khi họ được trang bị kiến thức đầy đủ và giác ngộ cao về quyền lợi chung gắn liền với quyền lợi cá nhân

- Trong sản xuất cần quản lý chặt chẽ về chất lượng và số lượng sản phẩm , định mức số lượng sản phẩm một công nhân phải hoàn thành. Thực hiện khoán sản phẩm đến từng phân xưởng, tổ đội sản xuất, có biện pháp khen thưởng xứng đáng đối với công nhân vượt định mức được giao, tìm nguyên nhân của sản phẩm sai hỏng. Thưởng phạt phải công minh, có như vậy mới cho phép Xí nghiệp khích lệ sự say mê của công nhân với công việc, tăng năng xuất lao động, tăng thêm sự gắn bó giữa quyền lợi và trách nhiệm của công nhân với sản phẩm của Xí nghiệp. Đó là tiền đề cho xuất khẩu đúng về chất lượng, số lượng và thời gian giao hàng

- Xí nghiệp nên liên tục hàng tháng, hàng quý mở các kì thi công nhân có tay nghề giỏi. Qua đó làm gương cho toàn bộ công nhân cùng ganh đua sản xuất để hoàn thiện kế hoạch sản xuất của Xí nghiệp

§¹i häc Kinh tÕ quèc d©n

94

6.2. Đào tạo cán bộ quản lý

Ph¹m §øc Hoμi - CN 39 A

LuËn v¨n tèt nghiÖp

Xí nghiệp chủ động bồi dưỡng đào tạo cán bộ chuyên môn giỏi gắn với thị trường. Hàng năm Xí nghiệp cần có kế hoạch chi phí cho việc bồi dưỡng nâng cao nghiệp vụ kinh doanh cho cán bộ quản lý. Đây là một cách đầu tư lâu dài, tạo ra động lực thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh của Xí nghiệp. Việc bồi dưỡng nâng cao trình độ nghiệp vụ đã có tác động

- Tạo ra động lực trong kinh doanh, thích nghi với sự biến động của thị trường, tránh rủi ro trong kinh doanh và nắm bắt được cơ hội kinh doanh có lợi

- Tiếp thu công nghệ sản xuất mới hiện đại do phía nước ngoài cung

cấp

- Nâng cao uy tín Xí nghiệp với các đối tác

- Biết phân tích , đánh giá, tổng hợp tình hình, đưa ra được các thông tin tin cậy giúp cho việc đề ra chủ chương, trương trình hành động thích hợp. Thị trường may thế giới phức tạp, nhu cầu về hàng may biến động theo mùa. Hơn nữa, tập quán thương mại, ngôn ngữ giao dịch với các nước ở các thị trường khác nhau thì có sự khác nhau. Vì những nhiệm vụ đó mà nhân viên ở phòng kinh doanh phải hết sức linh hoạt, tinh thông nghiệp vụ ngoại thương, giỏi ngoại ngữ, hiểu biết chuên môn về ngành may

Việc đào tạo và đào tạo lại không chỉ tập chung vào trình độ tay nghề của lực lượng lao động trong Xí nghiệp mà còn phải giáo giục ý thức, tư tưởng,văn hoá cho cán bộ công nhân viên tạo dựng được bầu không khí đoàn kết nhất trí nội bộ trong Xí nghiệp, xây dựng Xí nghiệp thành một khối thống nhất, xây dựng nếp sống văn minh, tạo nên một nền văn hoá riêng biệt cho Xí nghiệp. Đây là tiền đề giúp cho Xí nghiệp phát triểmn một cách bền vững và lâu dài

7. Những kiến nghị đối với nhà nước để đẩy nhanh tốc độ tiêu thụ sản

phẩm của Xí nghiệp

§¹i häc Kinh tÕ quèc d©n

95

Thực trạng sản suất kinh doanh của ngành dệt may từ khi chuyển sang nền kinh tế thị trường tuy có sự biến đổi quan trọng từ các mặt cơ sở vật chất đến nhận thức tư duy, nhưng cũng không tránh khỏi những khiếm khuyết. Là ngành kinh tế sản xuất hành tiêu dùng và hàng xuất khẩu chiếm một vị trí

Ph¹m §øc Hoμi - CN 39 A

LuËn v¨n tèt nghiÖp

quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, nghành có thể mang lại nhiều công ăn việc làm cho người lao động, nhưng cũng là ngành đang đứng trước những thử thách to lớn, phải cạnh tranh gay gắt với các đối thủ nước ngoài hùng mạnh nên Nhà nước cần phải thực hiện nhiều biện pháp đồng bộ để hỗ trợ, khuyến khích cho ngành dệt may phát triển. Trong đó tập trung vào các biện pháp sau

7.1. Giảm thuế

Một số sản phẩm của Xí nghiệp may X19 chủ yếu sản xuất bằng nguyên vật liệu ngoại nhập ( vì nguyên vật liệu trong nước chưa đáp ứng được nhu cầu ). Hiện nay 40% nguyên vật liệu sản xuất Xí nghiệp phải nhập khẩu với thuế cao lại phải cộng thêm thuế VAT 10%. Khi chuyển sang thực hiện sản xuất kinh doanh năm 2001 Xí nghiệp có lượng tồn kho khá lớn , nếu coi giá trị sản phẩm tồn kho bằng giá trị sản phẩm đưa vào sản xuất để chịu mức thuế 10% là không hợp lý. Nhà nước nên qui định lại mức thuế cho lượng tồn kho này

Trong khi đó thuế thu nhập đối với Doanh nghiệp nhà nước là 32% , thuế thu nhập Doanh nghiệp tư nhân là 35%, còn thuế thu nhập Doanh nghiệp đối với Doanh nghiệp nước ngoài là 25%. Như vậy, vô hình dung Nhà nước đã đẩy các Doanh nghiệp trong nước khó cạnh tranh với các Doanh nghiệp nứơc ngoài. Mặc dù sản phẩm của họ có tính cạnh tranh cao hơn vì người Việt nam rất " sính " dùng đồ ngoại, một mặt công nghệ sản xuất cao hơn nên sản phẩm có chất lượng cao hơn lại có ưu đãi về thuế

Vậy kiến nghị đối với nhà nước là:

- Giảm thuế VAT ngành dệt xuống còn 5%

-Giảm thuế thu nhập Doanh nghiệp xuống còn 25% ngang bằng với

Doanh nghiệp nước ngoài

7.2. Chính sách khuyến khích xuất khẩu

Nhà nước cần có biện pháp nhằm hỗ trợ các Doanh nghiệp để mở rộng

§¹i häc Kinh tÕ quèc d©n

96

thị trường nước ngoài như:

Ph¹m §øc Hoμi - CN 39 A

LuËn v¨n tèt nghiÖp

- Cung cấp các thông tin về thị trường cho các Doanh nghiệp tạo điều kiện cho các Doanh nghiệp tìm kiếm thị trường và lựa chọn các đối tác kinh doanh

- Đàm phán với các nước khác mở rộng cửa cho sản phẩm Việt nam, tạo điều kiện cho ngành dệt may Việt nam tham gia mạnh hơn vào sự phân công hơp tác quốc tế

Để khuyến khích xuất khẩu Nhà nước phải có những biện pháp thiết thực như giảm thuế xuất khẩu, với những Doanh nghiệp khó khăn về vốn có thể thực hiện xoá nợ và tạo điều kiện cho các Doanh nghiệp này vay vốn...

Bằng các hình thức trên tạo điều kiện cho các Doanh nghiệp yên tâm

sản xuất và tìm kiếm thị trường nước ngoài để xuất khẩu

7.3. Chính sách hạn chế nhập khẩu, khuyến khích tiêu dùng trong

nước

- Hạn chế nhập khẩu, đưa ra những qui chế chặt chẽ về hạn ngạch nhập

khẩu ngành dệt may

- Tăng cường các biện pháp kiểm soát nhập khẩu hàng dệt may, triệt để chống buôn lậu và hạn chế nhập khẩu tiểu ngạch. Trong những năm qua theo thống kê chưa đầy đủ lượng hàng nhập khẩu tiểu ngạch sấp xỉ bằng hàng nhập khẩu chính ngạch. Điều đó hạn chế sự kiểm soát của nhà nước về hàng nhập khẩu , ảnh hưởng đến điều tiết vĩ mô của nhà nước, gây rối loạn thị trường

- Nhà nước cần có các biện pháp ngăn chặn hàng nhập lậu. Hiện nay trên thị trường xuất hiện ngày càng nhiều các sản phẩm dệt may nhập lậu từ Trung quốc. Hàng nhập lậu mẫu mã đẹp, chất lượng không cao nhưng giá thấp do không phải đóng thuế nhập khẩu nên vẫn được người tiêu dùng chấp nhận. Vậy kiến nghị với ngành Hải quan cần có sự giám sát chặt chẽ tình hình nhập khẩu, quản lý chặt và giúp Doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả , chống gian lận thương mại trong lĩnh vực Hải quan, cải cách thủ tục hành chính của ngành Hải quan và sử lý nghiêm minh cán bộ Hải quan nếu vi phạm

§¹i häc Kinh tÕ quèc d©n

97

7.4. Có chính sách đầu tư thoả đáng đối với ngành Dệt

Ph¹m §øc Hoμi - CN 39 A

LuËn v¨n tèt nghiÖp

Hiện nay ngành dệt Việt nam đang trong tình trạng rất khó cạnh tranh vì nhiều nguyên nhân. Nhưng nguyên nhân chủ yếu là số máy móc đã quá cũ, lạc hậu, không có đủ vồn để đầu tư máy móc thiết bị. Cho nên dẫn đến thiếu vồn để đầu tư cho công nghệ, sản phẩm sản xuất theo công nghệ cũ thì tất nhiên sẽ rất khó khăn trong quá trình cạnh tranh

Vậy kiến nghị với nhà nước là:

* Tăng vốn đầu tư cho ngành dệt

*Có chính sách ưu đãi đối với ngành

- Cho các Doanh nghiệp dệt vay vốn với lãi xuất thấp: Hiện tại lãi xuất vay là 6,5%, nhà nước chỉ nên qui định lãi xuất vay vốn đối với ngành dệt may chỉ 3-4% hoặc thấp hơn nữa để tạo điều kiện cho họ có khả năng đổi mới trang thiết bị

- Sử dụng một phần nguồn tài trợ nước ngoài để tổ chức đào tạo nâng cao trình độ cán bộ quản lý công nhân dệt. Có chế độ lương đặc biệt cho công nhân lành nghề, kĩ sư giỏi

§¹i häc Kinh tÕ quèc d©n

98

- Khuyến khích các Doanh nghiệp dệt xuất khẩu sản phẩm sản xuất ra nước ngoài dưới hai hình thức: Hỗ trợ và đào tạo mọi điều kiện thuận lợi cho hoạt động xuất khẩu được dễ dàng, cung cấp những thông tin về thị trường xuất khẩu, môi giới khách hàng và tìm hiểu thị trường tiêu thụ sản phẩm cho các Doanh nghiệp trong ngành Dệt.