
CÂU HỎI ÔN TẬP MỸ HỌC ĐẠI CƯƠNG
Nguyễn Đình Sơn
1. Tại sao Mỹ học là khoa học nhân văn? Tại sao Mỹ học lại nghiên cứu cái
Đẹp và Nghệ thuật? Tính ứng dụng của Mỹ học?
Tại sao Mỹ học là KHNV
- “Mỹ học là khoa học về cái đẹp” - Baumgarten.
- Mỹ học chính là cảm năng học, tức là khoa học giúp con người tạo lập những cảm xúc
tích cực để cho con người sống đẹp hơn. Khi sống đẹp, từ thân tâm biết được giá trị của
mình, từ đó sẽ thấy mình đẹp. Học mỹ học chính là trau dồi khả năng cảm thụ cái đẹp.
- Mỹ học là khoa học nhân văn, bởi vì cái đẹp là một phạm trù mang tính nhân văn,
hướng tới vẻ đẹp của con người.
- Cái đẹp mang tính chủ quan, vì cùng một sự vật hiện tượng, mỗi người có thể có những ý
kiến, nhận định khác nhau.
Tổng hợp từ luận điểm trên mà có thể nói: Mỹ học là khoa học nhân văn. Bởi lẽ như bao
ngành khoa học khác, Mỹ học cũng có phương pháp nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu
riêng cho lĩnh vực của mình. Thêm nữa, Mỹ học là khoa học nghiên cứu giúp con người
tạo lập những cảm xúc tích cực trong cuộc sống. Từ đó nhận ra giá trị của mình và thấy
mình đẹp. Tiếp nữa là thấy mình có giá trị, thêm trân trọng và sống hết mình với cuộc
đời của mình.
Mỹ học lại nghiên cứu cái Đẹp và Nghệ thuật
- Mỹ học là một bước trung gian, mỹ học nghiên cứu về cái đẹp, mà nghệ thuật là
nơi tập trung cái đẹp.
- Cái đẹp và nghệ thuật mang đến cảm xúc tích cực cho người tiếp nhận. Đó là
cảm năng
- Mỹ học là phạm trù trung tâm của khoa học. Và Cái Đẹp là phạm trù trung
tâm của Mỹ học
- Nghệ thuật: là lĩnh vực tập trung của cái Đẹp, mà cái Đẹp ở trong nghệ
thuật là cái đem lại cảm xúc cho con người. Đó là cảm xúc kép: cái đẹp về nghệ
thuật đ ng thời là cái đẹp về cảm xúc.
- Nghệ thuật là cái đẹp được thể hiện dưới dạng vật chất. Như bản nhạc (sóng
âm), bức tranh hay bức tượng (thực thể hữu hình, mình đụng chạm cầm nắm),
mùi hương (các phân tử). Tác phẩm nghệ thuật có thể được sáng tác trong
những hoàn cảnh khác nhau, cảm hứng sáng tạo của mỗi nghệ sĩ cũng không
giống nhau. Một tác phẩm nghệ thuật có thể được sáng tác trong một khoảnh
khắc bất chợt và không mang tính quy luật.

lOMoARcPSD| 41487147
- => Cảm hứng nghệ thuật và việc sáng tạo nghệ thuật không tuân theo bất kỳ
quy luật nào cả, vậy sao mình nghiên cứu nó đây? Không dễ tìm ngay được câu
trả lời xác đáng. Đó là quá trình tìm tòi không mệt mỏi của nhiều nhà mỹ học
danh tiếng thuộc nhiều dân tộc trong suốt chiều dài lịch sử.
- Mỹ học quan tâm đến cái Đẹp. Và nghệ thuật lại là lĩnh vực tập trung cái Đẹp. Do
vậy mà, cái Đẹp và nghệ thuật là hai lĩnh vực nghiên cứu của Mỹ học.
Tính ứng dụng của Mỹ học
- Mĩ học có tiềm năng ứng dụng rất lớn trong việc nghiên cứu và biên soạn lịch sử
văn học, nghiên cứu tác phẩm văn học nước ngoài, nghiên cứu việc tiếp nhận
nghệ thuật nói chung, nghiên cứu các lĩnh vực văn hóa đại chúng, nghiên cứu
việc dạy học văn trong nhà trường…. Trong bối cảnh văn hóa và nghiên cứu Văn
học Việt Nam hiện nay, nghiên cứu và vận dụng Mĩ học tiếp nhận một cách bài
bản là điều rất cần thiết.
- Tự nhìn nhận cái Đẹp của bản thân mình.
- Biết sống đẹp là như thế nào
- Lao động đẹp là như thế nào
2. Phân tích và chứng minh lao động là nguồn gốc hình thành quan
hệ thẩm mỹ. Tính thẩm mỹ của sản phẩm lao động hình thành như thế nào?
Lao động là nguồn gốc hình thành quan hệ thẩm mỹ
- Nguồn gốc làm xuất hiện ý thức thẩm mỹ là hoạt động lao động của con người. Trong
hoạt động có tính mục đích, con người đã tạo ra chính mình trong việc xác lập kiểu quan
hệ chủ thể – đối tượng. Quan hệ chủ thể - đối tượng là cơ sở, là điều kiện hình thành chủ
thể thẩm mỹ và đối tượng thẩm mỹ tương ứng với nó. Trong hoạt động của mình, chủ thể
thẩm mỹ, liên tiếp sản sinh ra đối tượng thẩm mỹ trong các quan hệ thẩm mỹ. Đây chính
là quá trình tạo lập bản chất người và do đó, nó phản ánh những năng lực và hình thành
các lực lượng bản chất ở con người.
- Quá trình nảy sinh ý thức thẩm mỹ cần được khảo sát trước hết ở quá trình sáng tạo công
cụ của người tiền sử. Từ xa xưa, người nguyên thuỷ đã biết chế tạo công cụ phục vụ cho
những nhu cầu cơ bản của mình là nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần. Điều này cho
phép chúng ta nhìn nhận một cách biện chứng hơn về cơ sở của hai nhân tố vật chất và
tinh thần trong hoạt động con người. Trong hoạt động con người, nhu cầu vật chất đi
trước, nhưng ngay sau đó và đồng thời với nó, nhu cầu tinh thần được nảy nở; chúng luôn
tác động qua lại lẫn nhau, làm tiền đề và ảnh hưởng tới sự phát triển của nhau trong mọi
hoạt động của con người.

lOMoARcPSD| 41487147
- Lúc đầu do nhu cầu sống của cộng đồng, tập thể, con người đã tạo ra cái ăn, cái mặc, cái
ở, … Quan hệ thực dụng đã xuất hiện trong các quan hệ xã hội của con người. Từ đó nảy
sinh quan hệ thẩm mỹ
- Lao động là ngu n gốc, cơ sở hình thành quan hệ thẩm m ỹ và góp phần hình
thành hai giác quan và đôi bàn tay.
- Mỹ học Mác – Lênin khẳng định nguồn gốc, bản chất của quan hệ thẩm mỹ: Quan hệ thẩm
mỹ là kết quả của quá trình hoạt động sản xuất vật chất và đấu tranh xã hội, nó chính là quá
trình phát hiện, cảm thụ các thuộc tính thẩm mỹ của thế giới và sáng tạo ra những giá
trị thẩm mỹ trong đời sống văn hóa nghệ thuật của con người.
Lao động là nguồn gốc, cơ sở hình thành quan hệ thẩm mỹ, thực tiễn lao động đã biến con
người không chỉ là chủ thể xã hội, mà còn là chủ thể thẩm mỹ, biến giới tự nhiên thành
khách thể thẩm mỹ. Trong lao động, con người vừa đổi mới cuộc sống, đến lượt mình,
cuộc sống cũng lại làm đổi mới con người. Đó là quá trình hoàn thiện cuộc sống. Lao
động và thông qua quá trình lao động, các giác quan của con người mới có tính thẩm mỹ,
đó cũng là quá trình thành năng lực thẩm mỹ của con người, cái tai mới biết thưởng thức
âm nhạc, con mắt mới biết nhận định được cái đẹp của hình thức. Các giác quan thẩm mỹ
chỉ phát sinh khi có đối tượng tương ứng.
Tính thẩm mỹ của sản phẩm lao động được hình thành như sau
- Quá trình lao động đem lại sự hoàn thiện về cả kỹ năng (bàn tay) và các giác quan (mắt,
tai) cho con người. Quá trình con người tác động vào tự nhiên để nuôi sống bản thân
(hái lượm/ săn bắt canh tác, trồng trọt bàn tay).
- Đôi tay con người vừa là công cụ lao động vừa là quan lao động tạo ra sản phẩm
mang tính thực dụng cho nhu cầu vật chất và mang tính thẩm mỹ cao.
VD: Đ thủ công mỹ nghệ là các tác phẩm nghệ thuật mang tính thẩm mỹ cao, là
sản phẩm tạo ra bởi năng lực tinh thần, kỹ năng, kỹ xảo và thủ pháp nghệ thuật.
Thông qua các sản phẩm này, cảm xúc của người sáng tạo được truyền đạt đến
người tiếp nhận. Ban đầu, để đáp ứng nhu cầu che nắng, che mưa người ta tạo
ra nón lá. Ban đầu nón lá có màu trắng nguyên thủy của lá cọ, nhưng theo thời
gian người ta lại nâng lên đòi hỏi nón lá phải được trang trí thêm màu sắc để
phục vụ những nhu cầu khác như trang trí, phụ kiện chụp ảnh,… Khi này tính
thẩm mỹ của nón lá được hình thành. Người nghệ nhân sẽ thêm vào những chi
tiết như thêm những chiếc hoa, viết những dòng thơ,…trên nón lá
Chính yếu tố nghệ thuật, văn hóa vật thể là một đặc thù hết sức quan trọng của các sản
phẩm lao động. Sự kết hợp giữa phương pháp thủ công tinh xảo và sự sáng tạo nghệ
thuật của nghệ nhân, thợ thủ công để tạo ra sản phẩm mang tính thẩm mỹ cao

lOMoARcPSD| 41487147
3. Phân tích và chứng minh sự đồng hóa trên lĩnh vực tinh thần
là nội dung của quan hệ thẩm mỹ. Ý nghĩa của vấn đề này trong đời sống
thẩm mỹ.
- Giới tự nhiên phản ánh qua não người, nó tiếp nhận và lưu trữ cũng như tái tạo thông tin,
nhưng khi con người tái tạo trong cảm xúc thì sẽ sinh ra sự tưởng tượng, hình ảnh trong
hiện thực đã được thăng hoa trong ý thức. Ý thức thực thể hóa sự thăng hoa này thành
biểu trưng, chuyện kể mang tính thần thoại. Đây chính là quá trình diễn ra sự “Đồng hóa
tinh thần” Tưởng tượng là yếu tố quan trọng nhất, làm nên tính người
- Thực tiễn là cơ sở, động lực, mục đích và là tiêu chuẩn của sự đồng hoá tinh thần nói
chung của con người về chính trị, pháp quyền, đạo đức, triết học, khoa học, tôn giáo…
sự đồng hoá tinh thần về mặt thẩm mỹ nói riêng chính là sự khác nhau của sự đồng hoá
tinh thần này.
- Quan hệ thẩm mỹ là quan hệ về mặt thẩm mỹ giữa chủ thể thẩm mỹ với đối tượng thẩm
mỹ. Do vậy mà, những gì tạo nên được mối quan hệ thẩm mỹ sẽ là nội dung của nó. Sự
đồng hóa tinh thần là quá trình làm cho sự vật hiện tượng có những tư tưởng, tình cảm,
đặc tính của con người. Đây phương thức dùng sự vật hiện tượng biểu đạt cảm xúc, tạo
nên những cái Đẹp trong cuộc sống, thơ văn, nghệ thuật,… Để con người thưởng thức, suy
ngẫm đó là quan hệ thẩm mỹ.
Ví dụ điển hình cho sự đồng hóa tinh thần là những câu thơ
Thân em như tấm lụa đào
Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai
Thân em như hạt mưa sa
Giọt vào đài các, giọt rơi xuống bùn
Thân em như củ ấu gai
Bên trong thì trắng vỏ ngoài thì đen
Ai ơi nếm thử mà xem
Nếm ra mới biết rằng em ngọt bùi
Như vậy, để xác định được bản chất của quan hệ thẩm mỹ của con người với hiện
thực, những đặc điểm phân biệt nó với các quan hệ chính trị, pháp quyền, đạo đức,
triết học, khoa học, tôn giáo thì cần phải nghiên cứu sự nảy sinh hình thành và phát
triển của nó, phân tích mặt khách thể – chủ thể của nó
Ý nghĩa
Yếu tố đồng hóa tinh thần có một ý nghĩa quan trọng trong đời sống, nó là phương thức để
con người thể hiện được những tâm tư tình cảm của mình, thể hiện sự đồng cảm của sự
vật hiện tượng xung quanh đối với con người.
4. Phân tích và chứng minh giá trị thẩm mỹ là hệ quả của quan
hệ thẩm mỹ. Ý nghĩa của giá trị thẩm mỹ trong cuộc sống.

lOMoARcPSD| 41487147
- Giá trị của quan hệ thẩm mỹ được phản ánh qua mức độ đáp ứng được nhu cầu sống, tồn
tại của loài người. Giá trị thẩm mỹ là giá trị mà qua đó đáp ứng được nhu cầu thẩm mỹ
của con người, đáp ứng cho sự thiết định của cái đẹp.
- Giá trị phản ánh nhu cầu, nhu cầu thay đổi thì giá trị sẽ thay đổi, nhu cầu mất đi giá trị sẽ
mất đi. Điều này đặc biệt rõ ràng trong nghệ thuật, nơi một số tác phẩm mất đi giá trị
thẩm mỹ của chúng và những tác phẩm khác vẫn tồn tại với thời gian được các thế hệ
tương lai đánh giá cao.
- Qua các quan hệ thẩm mỹ giữa con người với tự nhiên thì sẽ sinh ra các giá trị thẩm mỹ
giữa các mối quan hệ đó tương ứng, giá trị thẩm mỹ ấy phải phù hợp với nhu cầu thực
tiễn, phản ánh hiện thực của nhận thức con người về thế giới quan xung quanh. Mỗi xã hội
và mỗi thời đại sẽ có một góc nhìn về giá trị thẩm mỹ riêng, qua đó ta cần phải linh hoạt
trong việc xác định giá trị thẩm mỹ trong các tương quan giữa các khách thể thẩm mỹ.
- Quan hệ thẩm mỹ không phải là quan hệ có sẵn mà qua những xúc động, vui sướng, niềm
hân hoan của con người mới mang ý nghĩa thẩm mỹ chân chính, bởi vì lao động đã tạo
nên cái mới, làm ra một vật hữu ích cho xã hội nên thông qua lao động đã dựng nên được
một sản phẩm mới cũng tạo ra sự tự tin, tài năng, trí tuệ và tình cảm của con người, qua đó
thể hiện giá trị thẩm mỹ của vật đó, chính lao động đã mang các giá trị bên trong của con
người thể hiện ra bên ngoài và các giá trị ấy được mọi người tán thưởng, yêu quý
Vd: Khi chúng ta đi xem kịch, sẽ diễn ra quan hệ thẩm mỹ. Đó là quan hệ giữa khán giản
và nhân vật trong vở kịch. Trong quá trình chúng ta xem kịch chúng ta sẽ cảm thấy đồng
cảm, thương cảm cho nhân vật được thể hiện qua nhiều cảm xúc xoay quanh quá trình
chúng ta xem kịch. Chúng ta có thể cười, khóc, vỗ tay đây là những giá trị thẩm mỹ được
tạo ra từ quan hệ thẩm mỹ giữa người xem và nhân vật của vở kịch. Giá trị thẩm mỹ này
xuất hiện để đáp ứng nhu cầu thẩm mỹ của chủ thể thẩm mỹ, khi thưởng thức cái đẹp họ
thương cảm cho cái đẹp.
Ý nghĩa
- Ý nghĩa của giá trị thẩm mỹ trong đời sống. Cái đẹp là nhu cầu của con người, mong
muốn làm đẹp là bản tính tự nhiên của con người. Do vậy, giá trị thẩm mỹ có một vai trò
rất quan trọng trong đời sống, nó đáp ứng nhu cầu thẩm mỹ của con người, nâng cao thị
hiếu thẩm mỹ của con người. Giá trị thẩm mỹ cũng thể hiện được tính đa dạng trong nhu
cầu về thẩm mỹ của con người qua các giai đoạn, thời kì lịch sử.
5. Trình bày quan niệm về cái Đẹp trong lịch sử phương Tây. Ý nghĩa
của quan niệm này trong Mỹ học hiện nay
Quan niệm cái đẹp phương Tây
- Theo Plato cho rằng: “ Cái Đẹp là ý niệm”. Điều này có nghĩa rằng cái Đẹp là những ý
niệm tồn tại ngoài thế giới của chúng ta, ý niệm đó nhập vào con người theo một mức độ
khác nhau cho nên con người có một năng lực cảm nhận về cái đẹp khác nhau. Có thể
thấy, mỗi vùng miền, mỗi đất nước khác nhau con người ta lại có những quan niệm về cái
đẹp khác nhau.

