BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

---------------------------

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KỸ THUẬT CÔNG NGHỆ TP. HCM

PHAN VĂN THẮM

CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN CHO CÁC CÔNG TY CHỨNG KHOÁN ĐÃ NIÊM YẾT TẠI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2011-2015 TẦM NHÌN 2020

LUẬN VĂN THẠC SĨ

Chuyên ngành : QU ẢN TRỊ KINH DOANH

Mã số: 60 34 05

TP. HỒ CHÍ MINH, tháng 04 năm 2012

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

---------------------------

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KỸ THUẬT CÔNG NGHỆ TP. HCM

PHAN VĂN THẮM

CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN CHO CÁC CÔNG TY CHỨNG KHOÁN ĐÃ NIÊM YẾT TẠI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2011-2015 TẦM NHÌN 2020

LUẬN VĂN THẠC SĨ

Chuyên ngành : QU ẢN TRỊ KINH DOANH

Mã số: 60 34 05

HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. ĐOÀN LIÊNG DIỄM

TP. HỒ CHÍ MINH, tháng 04 năm 2012

CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KỸ THUẬT CÔNG NGHỆ TP. HCM

Cán bộ hướng dẫn khoa học : ……………………………………….

(Ghi rõ h ọ, tên, học hàm, học vị và chữ ký)

Cán bộ chấm nhận xét 1 : ………………………………………….

(Ghi rõ h ọ, tên, học hàm, học vị và chữ ký)

Cán bộ chấm nhận xét 2 : ………………………………………….

(Ghi rõ h ọ, tên, học hàm, học vị và chữ ký)

Luận văn Thạc sĩ được bảo vệ tại Trường Đại học Kỹ thuật Công nghệ

TP. HCM ngày … tháng … năm …

Thành ph ần Hội đồng đánh giá Luận văn Thạc sĩ gồm:

(Ghi rõ họ, tên, học hàm, học vị của Hội đồng chấm bảo vệ Luận văn Thạc sĩ)

1. …………………………………………………………… 2. …………………………………………………………… 3. …………………………………………………………… 4. …………………………………………………………… 5. ……………………………………………………………

Xác nhận của Chủ tịch Hội đồng đánh giá Luận văn và Khoa quản lý chuyên

ngành sau khi Luận văn đã được sửa chữa (nếu có).

Chủ tịch Hội đồng đánh giá LV Khoa qu ản lý chuyên ngành

CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN NGHIỆP VỤ MÔI GIỚI CHO CÁC CÔNG TY CHỨNG KHOÁN ĐÃ NIÊM YẾT GIAI ĐOẠN 2011-2015 TẦM NHÌN 2020 PROFESSIONAL DEVELOPMENT STRATEGY FOR BROKERS SECURITIES COMPANY LISTING HAS A VISION TO 2020 PERIOD 2011-2015 Phan Văn Th ắm, TS. Đoàn Liêng Diễm Khoa Quản Trị Kinh Doanh, Đại học Kỹ Thuật Công Nghệ TP.HCM, Việt Nam TÓM TẮT Luận văn nghiên cứu chiến lược phát triển nghiệp vụ môi giới của các công ty chứng khoán đã niêm yết trên 2 Sở giao dịch chứng khoán nhằm đưa ra chiến lược phát triển nghiệp vụ và phát triển thị phần. Phân tích tình hình kinh doanh của các công ty chứng khoán đặc trưng nhằm đưa ra các yêu cầu cần thay đổi trong hoạt động hiện tại; cần cải tổ và nâng cao tính chuyên môn của nghiệp vụ thông qua hệ thống giao dịch, con người làm việc tại công ty chứng khoán. Phân tích các điểm mạnh, điểm yếu trong chiến lược SWOT và thực hiện lựa chọn chiến lược tái cấu trúc trong hoạt động của công ty chứng khoán.

ABSTRACT

Thesis research strategy brokerage firms have securities listed on stock exchanges 2

Department to identify strategies for professional development and market development. Analyze the business situation of the securities companies to make specific requests to change the current operation; need to reform and improve the professional expertise through the trading system, people working at a securities company. Analysis of strengths, weaknesses in the SWOT strategy and implement strategic options to restructure the operation of securities companies.

Quy mô thị trường có bước tăng

ty cổ phần thực hiện việc chào bán hơn 203 triệu cổ phiếu và đến năm 2007, hoạt động phát hành mới thực sự bùng nổ, khi có gần 200 đợt phát hành của 192 công ty và 4 ngân hàng thương mại được đăn g ký với UBCKNN với tổng lượng vốn huy động lên đến gần 40.000 tỷ VND. Trong năm 2008, do sự suy giảm của TTCK, tổng số vốn huy động chỉ đạt hơn 14.300 tỷ đồng thông qua hơn 100 đợt chào bán chứng khoán ra công chúng. Thị trường hồi phục vào năm 2009 đã tạo điều kiện cho hoạt động phát hành qua thị trường chứng khoán, đặc biệt là phát hành cổ phiếu. Tổng số vốn huy động qua phát hành cổ phiếu năm 2009 đã tăng hơn 50% so với 2008, đạt 21.724 tỷ đồng. Ngoài ra, công tác cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước (DNNN) đã được gắn kết với việc huy động vốn từ công chúng đầu tư, góp phần thúc đẩy nhanh việc sắp xếp khu vực DNNN theo tiến trình cải cách nền kinh tế của Chính phủ và huy động vốn cho ngân sách nhà nước. Thực tế, việc gắn kết công tác cổ phần hóa DNNN với công tác tạo hàng cho TTCK là nhân tố chủ đạo quyết định

1. GIỚI THIỆU trưởng mạnh mẽ, vững chắc, từng bước đóng vai trò là kênh dẫn vốn trung và dài hạn quan trọng, đóng góp tích cực cho sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước. Trong suốt thời kỳ từ 2000-2005, vốn hóa thị trường chỉ đạt trên dưới 1% GDP. Quy mô thị trường đã có bước nhảy vọt mạnh mẽ lên 22,7% GDP vào năm 2006 và tiếp tục tăng lên mức trên 43% vào năm 2007. Trước biến động của thị trường tài chính thế giới và những khó khăn của nền kinh tế trong nước, chỉ số giá chứng khoán đã sụt giảm liên tục trong năm 2008 và làm mức vốn hóa thị trường giảm hơn 50%, xuống còn 18%. Khi nền kinh tế trong nước và thế giới bắt đầu hồi phục nhẹ từ quý II/2009, chỉ số giá chứng khoán đã bắt đầu tăng trở lại cùng với số lượng các công ty niêm yết trên thị trường cũng gia tăng nhanh chóng. Giá trị vốn hóa thị trường cổ phiếu tính đến cuối năm 2009 đã đạt 37,71% GDP. Ước tính đến cuối năm 2011 sẽ đạt khoảng từ 45-55% GDP. Hoạt động phát hành huy động vốn trên TTCK thực tế chỉ mới p hát sinh từ năm 2006 trở lại đây. Trong năm 2006, có 44 công

1

đó, việc tuân thủ chào bán ra công chúng phải đăng ký với UBCKNN còn hạn chế (đặc biệt vào thời kỳ ngay sau khi Luật chứng khoán mới ban hành) đã tạo nên những rủi ro tiềm ẩn cho TTCK. Hoạt động phát hành TPCP còn nhiều bất cập, công tác kế hoạch hoá phát hành trái phiếu chưa tốt, cơ chế phát hành trái phiếu còn nhiều bất cập, chưa có các tổ chức tạo lập thị trường TPCP đúng nghĩa để đảm bảo thành công cho các đợt phát hành cũng như tạo tính thanh khoản cho thị trường thứ cấp. Thiếu đường cong lợi suất chuẩn và tổ chức định mức tín nhiệm. Tổng lợi nhuận năm 2011 của 26 công ty chứng khoán đang niêm yết là -1.408 tỷ đồng, giảm gần 3.200 tỷ so với năm 2010. SBS là dẫn đầu về mức lỗ còn HSC có lãi lớn nhất. Với sự suy giảm mạnh của thị trường trong năm 2011, các công ty chứng khoán lại có thêm một năm “ác mộng” n hư đã từng xảy ra trong năm 2008. Hiện tại, có 27 công ty chứng khoán đang niêm yết, chiếm ¼ tổng lượng công ty chứng khoán. Kết quả kinh doanh của các công ty này cũng phần nào thể hiện bức tranh chung của toàn ngành. Tính đến thời điểm thực hiện bài viết này, chỉ duy nhất Chứng khoán SME chưa công bố kết quả kinh doanh Q4 và cả năm. Các số liệu dưới đây chỉ gồm kết quả của 26 công ty còn lại.

thành công trong việc tạo ra một nguồn hàng phong phú, góp phần thúc đẩy tăng trưởng quy mô của thị trường thể hiện qua 105 công ty chứng khoán đang hoạt động. 2. NỘI DUNG 2.1 Tình hình hoạt động Hoạt động phát hành trái phiếu qua Sở giao dịch chứng khoán dần trở thành một kênh huy động vốn quan trọng cho Chính phủ. Dư nợ trái phiếu Chính phủ (TPCP) tính đến cuối 2009 vào khoảng 16,9% GDP. Các trái phiếu doanh nghiệp được phát hành chủ yếu theo hình thức phát hành riêng lẻ, do vậy, số trái phiếu doanh nghiệp được niêm yết trên TTGDCK/SGDCK không nhiều.Tuy nhiên, hoạt động phát hành của các công ty đại chúng vẫn còn mang tính tự phát, không hoàn toàn dựa trên nhu cầu sử dụng vốn của doanh nghiệp, làm giảm hiệu quả sử dụng vốn. Không ít tổ chức phát hành huy động vốn trên TTCK để đầu tư trở lại vào chứng khoán mà không phải để mở rộng sản xuất kinh doanh, góp phần tạo nên bong bóng thị trường và rủi ro mất vốn khi thị trường sụt giảm. Hoạt động chào bán riêng lẻ không có sự điều chỉnh đầy đủ của pháp luật và quản lý của các cơ quan có thẩm quyền dẫn đến các hành vi lạm dụng, ảnh hưởng đến sự lành mạnh của TTCK. Bên cạnh

Hình 2.1: Tổng doanh thu và lợi nhuận của các CTCK niêm yết

các công ty chứng khoán. Nó bao gồm các khoản thu nhập như lãi tiền gửi, cung cấp các dịch vụ cho nhà đầu tư . Doanh thu từ cung cấp các dịch vụ liên quan chặt chẽ với hoạt động môi giới đều dựa trên hoạt động giao dịch của khách hàng.

Tổng doanh thu của 26 CTCK niêm yết trong năm vừa qua đạt 6.259 tỷ đồng, giảm giảm 2.300 tỷ so với năm 2010. Lợi nhuận trước thuế cũng giảm 3.200 tỷ từ 1.758 tỷ xuống -1.408 tỷ đồng. Mặc dù mang cái tên rất chung chung là “Doanh thu khác” nhưng đây đang là nguồn thu quan trọng nhất của hầu hết

2

Hình 2.2: Cơ cấu doanh thu năm 2011 của các CTCK niêm yết

HSC với 91 tỷ đồng và BVS đứng thứ 3 với 65 tỷ đồng.Trong năm 2011, HSC đã vươn lên đứng thứ 2 về thị phần môi giới tại cả HoSE và HNX. SSI từ thứ 2 lên vị trí dẫn đầu tại HoSE và đứng 7 tại HNX.

Qua biểu đồ trên có thể thấy Doanh thu khác chiếm ½, Doanh thu tự doanh chiếm 1/3, Doanh thu môi giới chiếm 1/10 tổng doanh thu của các CTCK. Doanh thu môi giới của SSI dẫn đầu với 96 tỷ đồng, đứng thứ 2 là

Hình 2.3: So sánh tổng lợi nhuận của các CTCK lãi và tổng lỗ của các CTCK

công ty chứng khoán cổ phần lại được chia ra 3 phân nhóm căn cứ theo quy mô tổng nguồn vốn và vốn điều lệ: nhóm các công ty chứng khoán có quy mô lớn gồm: SSI, SBS,KLS, HSC và các công ty có tổng nguồn vốn vào khoảng trên 1.000 tỷ đồng; nhóm các công ty chứng khoán nhỏ hơn gồm các công ty chứng khoán như: VIT, Trường Sơn, Hồng Bàng, Hà Thành, …có mức vốn điều lệ dưới 100 tỷ và nhóm các công ty chứng khoán có vốn điều lệ 100 – dưới 1.000 tỷ như các công ty chứng khoán: SME, ORS, HBS,APG, …Theo báo cáo thị phần của các công ty chứng khoán trong thời gian qua các công ty có vốn điều lệ trên 1.000 tỷ chiến 49 – 50% thị phần môi giới. Để đánh giá tổng quan về tình hình và thực thi các chiến lược nên nghiệp vụ môi giới ( NVMG ) của các công ty chứng khoán niêm yết trên Sở được đại diện như một công ty độc

Tổng doanh thu của 26 CTCK niêm yết trong năm vừa qua đạt 6.259 tỷ đồng, giảm giảm 2.300 tỷ so với năm 2010. Lợi nhuận trước thuế cũng giảm 3.200 tỷ từ 1.758 tỷ xuống - 1.408 tỷ đồng. Mặc dù mang cái tên rất chung chung là “Doanh thu khác” nhưng đây đang là nguồn thu quan trọng nhất của hầu hết các công ty chứng khoán. Nó bao gồm các khoản thu nhập như lãi tiền gửi, cung cấp các dịch vụ cho nhà đầu tư . Doanh thu từ cung cấp c ác dịch vụ liên quan chặt chẽ với hoạt động môi giới đều dựa trên hoạt động giao dịch của khách hàng. 2.2 Môi trường cạnh tranh Hệ thống công ty chứng khoán thương mại Việt Nam được chia ra 2 nhóm căn cứ theo tính chất sở hữu, bao gồm: Các công ty chứng khoán cổ phần; các công ty chứng khoán trách nhiệm hữu hạn. Trong hệ thống

3

sau khi Việt Nam mở cửa hoàn toàn thị trường dịch vụ công ty chứng khoán theo các cam kết song phương và đa phương đã ký. *Đánh giá nguy cơ / thách thức (T) a. Nguy cơ đối với khách hàng của c ông ty chứng khoán: quá trình hội nhập làm gia tăng nguy cơ phá sản của các khách hàng truyền thống do suy giảm khả năng cạnh tranh trong lộ trình cắt giảm hàng rào bảo hộ nhập khẩu, từ đó, làm suy yếu tình hình tài chính của công ty chứng khoán. b. Thách thức trực tiếp đối với công ty chứng khoán: quá trình mở cửa thị trường tài chính cho các công ty chứng khoán nước ngoài gia nhập thị trường tài chính trong nước làm các công ty chứng khoán trong nước, trong đó có NVMG, phải cạnh tranh đối với các đối thủ có ưu thế hơn hẳn về năng lực tài chính, trình độ công nghệ, trình độ quản trị kinh doanh. c. Năng lực tài chính của công ty chứng khoán quá nhỏ so với các đối thủ cạnh tranh và so với yêu cầu phát triển trong môi trường hội nhập. Tỷ lệ nợ xấu còn cao hơn rất nhiều so với chuẩn mực quốc tế làm tăng gánh nặng chi phí cho hoạt động của công ty chứng khoán. d. Trình độ quản trị, điều hành, văn hoá ứng xử theo các nguyên tắc thị trường và chuẩn mực quốc tế của công ty chứng khoán còn rất yếu, chưa bắt kịp yêu cầu của thời kỳ mới. e. Cơ cấu sản phẩm dịch vụ chưa đa dạng, còn quá nặng về sản phẩm truyền thống là cho vay, bảo lãnh, các sản phẩm phi tín dụng chưa phát triển mạnh. f. Thách thức do tính hệ thống của ngành công ty chứng khoán: Sự có mặt của hàng trăm công ty chứng khoán nước ngoài trực tiếp kinh doanh trên thị trườn g tiền tệ, tín d ụ n g sẽ tạo nên sự phức tạp trong hệ thống và một khi năng lực kiểm tra, kiểm soát của NHNN còn yếu kém, bất cứ rủi ro nào xảy ra đối với một công ty chứng khoán cũng sẽ ảnh hưởng đến các công ty chứng khoán khác trong hệ thống. g. Sự yếu kém của hệ thống pháp luật, nhất là trong lĩnh vực tín dụng và thi hành án dân sự, tạo nên những rào cản về tâm lý đối với các nhà quản trị công ty chứng khoán, làm hạn chế khả năng phát triển, nhất là đối với các công ty chứng khoán trong nước như NVMG.

lập để phân tích – so sánh với các công ty chứng khoán cùng chức năng. Nếu xác định đối thủ cạnh tranh căn cứ vào tính chất đa dạng của hoạt động nghiệp vụ và quy mô vốn thì đối thủ cạnh tranh chủ yếu của NVMG được xác định là: SSI, SBS và KLS . Tuy nhiên, do hoạt động nghiệp vụ của NVMG rất đa dạng và mang tính đặc trưng của 1 nhóm công ty nên trên bất cứ một sản phẩm tài chính nào thì các công ty chứng khoán khác, kể cả các công ty có vốn điều lệ nhỏ cũng đều là đều là những đối thủ cạnh tranh rất đáng kể. Dưới đây là bảng so sánh các chỉ tiêu tài chính của yếu của NVMG so với SSI, SBS và KLS. Mức rủi ro do tập trung của NVMG là cao hơn hẳn SSI và SBS th ô n g q u a chỉ số ROE: Tỷ lệ nợ xấu của NVMG do quá khứ để lại nên rất cao, gấp 10 lần các công ty chứng khoán cạnh tranh, điều này làm tăng chi phí sử dụng vốn của NVMG. Tuy nhiên , tỷ lệ ROE lại cao hơn hẳn. Điều này cho thấy khả năng sinh lợi của NVMG là rất lớn. Nếu NVMG xử lý xong các khoản khấu trừ nhằm giảm chi phí tài chính thì ROE của NVMG sẽ còn cao hơn nữa. Hơn nữa, lợi nhuận bình quân của NVMG (mức lợi nhuận hiện tại chia cho 27 công ty niêm yết) thì mức lợi nhuận của NVMG nhỏ hơn SSI; SBS; KLS nên phần lớn các thành viên trong NVMG sẽ thuộc nhóm các công ty vừa và nhỏ. 2.3 Đánh giá Cơ hội, Thách thức *Đánh giá cơ hội (O) a. Cơ hội hợp tác với các công ty chứng khoán nước ngoài, học hỏi kinh nghiệm quản lý, nâng cao trình độ nghiệp vụ. b. Mở cửa thị trường tài chính tạo cơ hội cho NVMG tiếp nhận các nguồn tài chính, đầu tư từ các tập đoàn tài chính nước ngoài, tái cấu trúc công ty chứng khoán theo chuẩn mực quốc tế, phù hợp với quá trình hội nhập. c. Tiềm năng của thị trường tài chính phục vụ dân cư và doanh nghiệp còn rất lớn, khi thị trường dịch vụ tài chính mở cửa, áp lực cạnh tranh sẽ thúc đẩy các công ty chứng khoán trong nước không ngừng tự đổi mới mình. d. Tập quán, thói quen sử dụng các tiện ích công ty chứng khoán của n gười dân đang bắt đầu hình thành và sẽ ngày càng rõ nét khi nhiều sản phẩm công ty chứng khoán hiện đại được du nhập vào Việt Nam. e. Các dòng tư bản từ nước ngoài dưới hình thức đầu tư gián tiếp (FPI – Foreign Portfolio Investment) có khả năng chảy mạnh v ào Việt Nam thông qua hệ thống công ty chứng khoán

4

3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 3.1 Phân tích ma trận SPACE

Vị trí chiến lược của NVMG sẽ được phân tích qua 4 yếu tố của ma trận SPACE như sau:

Bảng 3.1: Ma trận SPACE của NVMG

Nội dung

Điểm số

Điểm trung bình

Các biến số của FS

1. Vốn điều lệ 2. Tổng tài sản có 3. ROE

4 5 5

Các biến số của CA

1. Mạng lưới 2. Trình độ nhân viên 3. Uy tín thương hiệu

-3 -2 -1

Các biến số của ES

1. Môi trường chính trị 2. Hệ thống luật pháp 3. Lạm phát, tỷ giá, lãi suất 4. Hàng rào gia nhập ngành

-1 -3 -3 -2

Các biến số của IS

6 1. Tốc độ tăng trưởng ngành 2. Quy mô vốn của ngành 4 3. Vai trò quan trọng đối với nền kinh tế 6

Ta có: FS + ES = 4.66 – 2.25 = 2.41

4,66 -2,33 -2,25 5,66 IS + CA = 5.33 – 2 = 3.33

Hình 3.1: Chiến lược NVMG trên ma trận SPACE

hơn hẳn so với các chiến lược còn lại như: chiến lược thận trọng, chiến lược phòng thủ, chiến lược cạnh tranh. Vì thế, chúng ta nên thực thi chiến lược tấn công để mở rộng thị triển. phần

phát

Theo hình vẽ ta thấy vị trí chiến lược của NVMG tấn công được thực hiện vì: Nghiệp vụ môi giới đ ược vữn g mạn h về tài chín h và có lợi thế cạnh tranh nên chiến lược chủ đạo trong tình hình hiện nay là tấn c ông chiếm ưu thế

3.2 Ma trận QSPM

Bảng 3.2: Ma trận QSPM của NVMG

Các chiến lược có thể thay thế

a

Phân loại

Chiến lược 1

Chiến lược 2

TAS

AS

TAS

AS

(2)

(4)=2*3

(5)

(6)=(2)*(5)

(1)

(3)

5

Các yếu tố bên ngoài

1

1

1

2

2

1. Tập quán sử dụng tiền mặt còn rất phổ biến. 2. Môi trường chính trị ổn định

1

4

4

4

4

3. Kinh tế phát triển nhanh, liên tục

4

3

12

4

16

2

-

2

2

4

3

3

9

4

12

4

3

12

4

16

3

2

6

4

12

1

1

1

1

1

2

1

2

1

2

4. Sự hỗ trợ của chính phủ cho NVMG trong thời gian chấn chỉnh, củng cố 5. Biến động tỷ giá ngoại tệ trong phạm vi vừa phải. 6. Tốc độ lạm phát của nền kinh tế trong vòng kiểm soát của Chính phủ. 7. Sự xâm nhập thị trường của các công ty chứng khoán nước ngoài. 8. Môi trường pháp lý hỗ trợ hoạt động công ty chứng khoán còn rất yếu. 9. Sự biến động bất thường của thị trường bất động sản (lúc nóng, lúc lạnh). 10. Sự thay đổi lãi suất trên thị trường 4

2

8

3

12

1. Vốn điều lệ

3

2

6

2

6

2. Mạng lưới chi nhánh

1

1

2

3

3

3. Nợ khó đòi

1

3

3

2

2

2

3

6

2

4

4

2

8

4

16

4. Tư duy chiến lược của đội ngũ quản trị 5. Trình độ và th ái độ phục vụ của nhân viên 6. Uy tín thương hiệu

4

2

8

4

16

2

3

6

4

8

7. Sự thống nhất ý chí, hành động trong toàn hệ thống 8. Chính sách đào tạo nhân viên

2

1

2

3

6

9. Chế độ lương bổng, phúc lợi

2

2

4

3

6

10. Chiến lược marketing

1

1

1

3

3

Tổng cộng

103

151

Ma trận QSPM cho chúng ta thấy: Chiến lược 1: 103 điểm. Chiến lược 2: 151 điểm.

mở cửa thị trường dịch vụ tài chính theo lộ trình hội nhập đã cam kết. Việc tái cấu trúc các công ty chứng khoán được thực hiện theo lộ trình, có bước đi thận trọng, chắ c chắn, không làm xáo trộn hoạt động của thị trường chứng khoán cũng như các hoạt động kinh tế - xã hội của đất nước, đảm bảo lợi ích hợp pháp khách hàng.

Kết luận được rút ra từ bảng 3.2: Chiến lược thứ 2: có tên gọi “chiến lược TÁI CẤU TRÚC CÔNG TY CHỨNG KHOÁN” sẽ là chiến lược được lựa chọn. Ch iến lược này được Ủy ban chứng khoán và 2 sở giao dịch chứng khoán thực thi quyết luyệt trong năm 2012 nhằm thúc đẩy thị trường chứng khoán phát triển lành mạnh và bền vững.

Về phương án tái cấu trúc, trên cơ sở các quy định hiện hành cũng như kết quả kinh doanh đã kiểm toán của các công ty chứng khoán, sẽ tiến hành rà soát phân nhóm các công ty chứng khoán theo mức độ rủi ro giảm dần dựa trên 2 chỉ tiêu: vốn khả dụng/tổng rủi ro (bao gồm rủi ro thị trường, rủi ro thanh toán và rủi ro hoạt động) và tỉ lệ lỗ lũy kế/vốn điều

Theo đề án này, tái cấu trúc các công ty chứng khoán cũng nhằm mục đích tăng cường khả năng, hiệu quả quản lý, giám sát đối với hoạt động công ty chứng khoán; đồng thời

6

4. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

lệ. Theo đó, sẽ có 3 nhóm công ty chứng khoán.

Nhóm 1 - Nhóm bình thường : Nhóm này bao gồm các công ty chứng khoán có tỉ lệ vốn khả dụng/tổng rủi ro trên 150% và có lãi hoặc lỗ lũy kế dưới 30% vốn điều lệ.

Nhóm 2 - Nhóm kiểm soát : Nhóm này bao gồm các công ty chứng khoán có tỉ lệ vốn khả dụng/tổng rủi ro dưới 150% tới trên 120% và có lỗ lũy kế từ 30-50% vốn điều lệ.

: Nhóm 3 - Nhóm kiểm soát đặc biệt Nhóm này bao gồm các công ty chứng khoán có tỉ lệ vốn khả dụng/tổng rủi ro dưới 120% và có lỗ lũy kế từ trên 50% vốn điều lệ.

4.1 Kết luận Môi giới chứng khoán không chỉ đơn thuần là làm cho người mua và người bán một loại chứng khoán nào đó gặp nhau, người môi giới còn phải giúp cho các bên tham gia thỏa mãn nhu cầu ở mức cao nhất, giao dịch được tiến hành một cách trọn vẹn. Đồng thời trong quá trình thực hiện nghiệp vụ, những người môi giới còn từng bước góp phần hình thành nên một nền văn hoá đầu tư, một yếu tố nền tảng tích cực đối với sự nghiệp tăng trưởng kinh tế, và cũng là một yếu tố đang thiếu vắng trong nền kinh tế Việt Nam. Như vậy, rõ ràng môi giới chứng khoán là nghiệp vụ rất quan trọng của công ty chứng khoán, hoạt động nghiệp vụ này cần phải được củng cố, nâng cao chất lượng và phải được xem là nghiệp vụ trọng tâm.

Các biện pháp áp dụng theo nhóm từ sau ngày 1/4/2012, đối với nhóm 1- nhóm bình thường là tiếp tục rà soát và giám sát tình hình tài chính của nhóm này để có giải pháp kịp thời nếu thị trường tiếp tục khó khăn.

Mục tiêu lớn nhất của việc hình

Đối với nhóm 2- nhóm kiểm soát và nhóm 3- nhóm kiểm soát đặc biệt sẽ áp dụng các nhóm giải pháp hành chính và kinh tế theo quy định của Thông tư 226/2010/TT - BTC.Biện pháp triển khai từ sau năm 2012, tăng cường năng lực quản trị và hoạt động của các công ty chứng khoán dựa trên ba trụ c ột chính: quy định về mức độ đủ vốn; quy định về hướng dẫn thông lệ khuôn khổ quản lý rủi ro cho các công ty chứng khoán; đánh giá, xếp hạng các tổ chức kinh doanh chứng khoán theo thông lệ quốc tế từ đó phân loại và giám sát các tổ chức này.

thành và phát triển TTCK tại các quốc gia là phục vụ cho chiến lược phát triển kinh tế, khai thác tiềm lực tài chính thông qua TTCK phục vụ cho đầu tư phát triển kinh tế, thu hút các nguồn vốn trong và ngoài nước được tập trung sử dụng cho các dự án đầu tư, nhu cầu mở rộng sản xuất, phát triển kinh tế. Để thực hiện được mục tiêu huy động vốn cho đầu tư phát triển, TTCK phải làm được vai trò của nó đôi với các doanh nghiệp, với nền kinh tế. Đặc biệt là đối với các nhà đầu tư, đảm bảo mang lại lợi ích, bảo vệ quyền lợi nhà đầu tư, thỏa mãn thị hiếu đầu tư của khách hàng thông qua việc cung cấp đa dạng các loại chứng khoán, các dịch vụ tài chính, dịch vụ chứng khoán. UBCKNN cần phải có một khung pháp lý đầy đủ, đồng bộ và nhất quán để tạo ra cơ chế hoạt động cho TTCK theo định hướng kinh tế thị trường, hoà nhập với kinh tế thế giới theo tiến trình hội nhập kinh tế thế giới.

Giai đoạn 200 0 – 2010 đối với nền kinh tế Việt Nam nói chung và thị trường chứng khoán nói riêng đã có nhiều sự thay đổi về chất trong môi trường cạnh tranh: đó là sự dịch chuyển từ cạnh tranh theo chiều hướng mở rộng sang hình thức mở rộng kết hợp với chuyên sâu. Áp lực hội nhập kinh tế quốc tế không cho phép các doanh nghiệp bước đi hờ hững và thong thả trên con đường đi tới. NVMG chứng khoán của các công ty chứng khoán cũng không nằm ngoài phạm vi điều chỉnh đó.

4.2 Kiến nghị: phát Nâng cao năng lực tài chính: triển các hoạt động nghiệp vụ theo hướng chuyên nghiệp hóa, hiện đại hóa các hoạt động kinh doanh chứng khoán theo chuẩn mực và thông lệ quốc tế.

Tăng cường quản trị công ty và quản trị rủi ro: dựa trên các chỉ tiêu an toàn tài chính đối với công ty chứng khoán phù hợp với các tiêu chuẩn, chuận mực quốc tế.

Sắp xếp lại hê thống các tổ chức kinh doanh chứng khoán: theo hướng đẩy việc hợp nhất, sáp nhập hoặc giải thế các tổ chức yếu kém để tăng quy mô hoạt động, giảm số lượng

Tổng quát, các chiến lược được phân tích và kết hợp các yếu tố: cơ hội, nguy cơ, điểm mạnh, điểm yếu trong mối tương quan so sánh lực lượng giữa các công ty chứng khoán nhằm xây dựng các chiến lược có khả năng thay thế. Hai chiến lược đã được chọn: chiến lược “Phát huy nội lực” với những bước đi từ tốn, chậm rãi có xu hướng bảo thủ và chiến lược “Tái cấu trúc” với những bước nhảy vọt về chất, chấp nhận cọ xát, có xu hướng cách tân.

7

công ty cho phù hợp với sự phát triển của thị trường. Từng bước phát triển các tổ chức kinh doanh chứng khoán theo mô hình đa năng và chuyên doanh; trên cơ sở đó nâng cao năng lực cung cấp dịch vụ chứng khoán ra các thị trường chứng khoán trong khu vực ASEAN.

Nâng cao chất lượng nhân viên hành nghề kinh doanh chứng khoán: thông qua chuẩn hóa các chương trình đào tạo hành nghề kinh doanh chứng khoán theo các chuẩn mực cao nhất và từng bước mở cửa cho các tổ chức đào tạo chứng khoán nước ngoài có uy tính.

Hiện đại hóa hệ thống cơ sợ hạ tầng công nghệ thông tin: hệ thống của thị trường chứng khoán theo hướng thống nhất, đồng bộ, đảm bảo khả năng quản lý, giám sát thông qua hệ thống tự động đối với các hoạt động giao dịch, thanh toán bù trừ và lưu ký chứng khoán. Hoàn chỉnh hệ thống công nghệ thông tin: cho thị trường chứng khoán để đi vào hoạt động trước năm 2015. Xây dựng kế hoạch phát triển hạ tầng công nghệ thông tin cho toàn ngành chứng khoán theo hướng đồng bộ, chuẩn hóa các định dạng về thông tin, báo cáo. Quy chuẩn kết nối cũng như định hướng phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin tại các Sở Giao dịch chứng khoán khu vực.

Phát triển đa dạng hóa sản phẩm – hàng hóa: dựa trên nhu cầu và thực tế phát sinh các sản phẩm cao cấp hơn ngoài giao dịch thông thường là giao dịch ký quỹ; bán khống; hợp đồng quyền chọn và rút ngắn thời gian giao dịch như các thị trường chứng khoán của các HongKong; Trung Quốc; Hàn Quốc và của Singapore.

Tóm lại, nâng cao năng lực cạnh tranh thông qua các chiến lược là điều tất yếu của nhu cầu phát triển và mở rộng của thị trường chứng khoán. Để chiến lược cấu trúc và tái cấu trúc đạt hiệu quả, chúng ta cần phải nghiên cứu nhiều hơn nữa vì thị trường chứng khoán Việt Nam có sự tham gia tỷ trọng lớn của hệ thống ngân hàng. Cần nhiều chính sách và thông tư hướng dẫn thực hiện chính sách và cần nhiều hơn nữa khả năng giảm lãi suất và ổn định lạm phát cũng như tránh giảm phát nhằm hỗ thị trường chứng khoán vượt qua giai đoạn khó khăn như hiện nay.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

A. TÀI LIỆU 1. Nguyễn Thị Liên Diệp và Phạm Văn Nam (2010), Chiến lược và chính sách kinh doanh, Nhà xuất bản Thống Kê, TPHCM.

2. Lê Thanh Hà (1998), Ứng dụng lý thuyết hệ thống trong quản trị doanh nghiệp, Nhà xuất bản Trẻ, TPHCM. 3. Tôn Thất Nguyễn Thiêm (2004), Thị trường, chiến lược, cơ cấu, Nhà xuất bản TPHCM. 4. Fred R. David (2003), Khái luận về quản trị chiến lược, Nhà xuất bản Thống Kê, TPHCM. 5. Michael E. Porter (1996), Chiến lược cạnh tranh, Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội. 6. Vũ Công Tuấn (2002), Thẩm định dự án đầu tư, Nhà xuất bản TPHCM. 7. Vũ Công Tuấn (1999), Quản trị dự án, Nhà xuất bản TPHCM. 8. Trườ ng Đại học kinh tế quốc dân (2002), “Giáo trình thị trường chứng khoán”, Nhà xuất bản tài chính, Hà Nội 9. Noly Trầ n Hồ (2001), Thị trường chứng khoán-phân tích và chiến lược, Nhà xuất bản Thống Kê, TPHCM. 10. Brian J.Millard (2000), Thị trường chứng khoán và cổ phiếu, Nhà xuất bản Thống Kê, TPHCM. trường chứng 11. Neil F Stapley (1994), Thị khoán và cẩm nang cho các nhà đầu tư tư nhân, Nhà xuất bản TPHCM. 12. Phạ m Văn Quan (2001), Chứ ng khoán và tìm hiểu thị trường chứng khoán, Nhà xuất bản Thống kê, TPHCM. 13. Đặ ng Quang Gia (1996), Hỏ i đáp về thị trường chứng khoán, Nhà xuất bản Thống kê, TPHCM. 14.Phan Lan (2005), Cẩ m nang dành cho nhà đầu tư chứ ng khoán, Nhà xuất bản tài chính, Hà Nội 15. TS.Trầ n Đắc Sinh (2004), Huy động vốn đầu tư hạ tầng qua thị trường chứng khoán, Nhà xuất bản tổng hợp TPHCM. B. WEBSITE Http://www.ssc.gov.vn Http://www.vse.org.vn Http://www.bsc.com.vn Http://www.ssi.com.vn Http://www.sbsc.com.vn Http://www.kls.vn Http ://w ww.cafef.vn Http://www.sbv.gov.vn Http://www.vietstock.vn Http://www.cophieu68.vn Http://www.chungkhoanphuongnam.com.vn Http://www.hnx.vn Http://www.hsx.vn Http://www.srtc.org.vn

8

9

TPHCM

LUẬN VĂN THẠC SĨ

CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN NGHIỆP VỤ MÔI GIỚI

CHO CÁC CÔNG TY CHỨNG KHOÁN ĐÃ NIÊM YẾT

GIAI ĐOẠN 2011 – 2015

TẦM NHÌN 2020

GVHD: TS. Đoàn Liêng Di ễm

Học viên: Phan Văn Thắm

Lớp: 10 SQT

KẾT CẤU ĐỀ TÀI NGUYÊN CỨU

1

TỔNG QUAN

2

CƠ SỞ LÝ LUẬN

3

THỰC TRẠNG NGHIỆP VỤ MÔI GIỚI

4

CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN

5

KIẾN NGHỊ & KẾT LUẬN

1. TỔNG QUAN

1.1 Lý do nghiên c ứu

-Thị trường chứng khoán là một bộ phận của thị trường vốn.

-Sự bùng nổ về sự thành lập các công ty chứng khoán.

-Hội nhập thị trường tài chính quốc tế.

1

1. TỔNG QUAN

1.2 M ục tiêu nghiên cứu

-Xác đ ịnh các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động của nghiệp vụ môi giới chứng khoán.

- Xác định mức độ tác động của từng nhân tố đến chiến lược.

-Thông qua kết quả phân tích các chiến lược, đề xuất các giải pháp.

2

1. TỔNG QUAN

1.3 Đối tượng – Phạm vi nghiên cứu

27 công ty chứng khoán đang niêm yết

Nghiệp vụ môi giới

Số liệu nghiên cứu 2000 - 2011

3

2. CƠ SỞ LÝ LUẬN

Quy trình xây d ựng chiến lược kinh doanh

GIAI ĐOẠN HOẠT ĐỘNG

Đưa ra quyết định

Hình thành chiến lược

Thực hiện nghiên cứu

Hợp nhất trực giác và phân tích

Thực hiện chiến lược

Thuyết lập mục tiêu ngắn hạn

Đề ra các chính sách

Phân ph ối các nguồn lực

So sánh k ết quả với tiêu chuẩn

Thực hiện điều chỉnh

Đánh giá chiến lược

Xem xét lại các yếu tố bên trong và bên ngoài

4

3. THỰC TRẠNG NGHIỆP VỤ MÔI GIỚI

3.1 Giới thiệu khái quát

Bảng: Giá trị đầu tư tài chính của các CTCK niêm yết

Nội dung

Khoản mục đầu tư ( tỷ đồng )

Giá trị còn lại

Trích l ập dự phòng

Đầu tư ngắn hạn

6,528

( 2,307 )

8,085

( 499 )

Đầu tư dài hạn

Năm 2011

Tổng

14,613

( 2,756 )

Đầu tư ngắn hạn

15,779

( 1,188 )

8,559

( 143 )

Đầu tư dài hạn

Năm 2010

Tổng

24,338

(1,331 )

Hình: Cơ cấu doanh thu năm 2011 của các CTCK niêm yết

5

3. THỰC TRẠNG NGHIỆP VỤ MÔI GIỚI

3.2 Phân tích các y ếu tố bên ngoài

Đánh giá cơ hội

Quản lý theo mô hình tiên tiến

Hợp tác với CTCK bên ngoài

Nâng cấp hạ tầng công nghệ

Tiếp cận nguồn tài chính mạnh

Cải tiến dịch vụ & sản phẩm

6

3. THỰC TRẠNG NGHIỆP VỤ MÔI GIỚI

3.2 Phân tích các y ếu tố bên ngoài

Đánh giá nguy cơ/ Thách thức

a. Quá trình hội nhập làm tăng nguy cơ phá sản

e. Năng lực tài chính yếu; qui mô vốn nhỏ

b. Thiếu đa dạng sản phẩm; thiếu các sản phẩm phi tín dụng

d. Hệ thống pháp luật chưa theo kịp sự phát triển của thị trường

c. Gia tăng áp lực cạnh tranh

7

3. THỰC TRẠNG NGHIỆP VỤ MÔI GIỚI

3.3 Phân tích các y ếu tố bên trong

1. Chiến lược kinh doanh linh hoạt. 2. Thu hút nhiều sự quan tâm của cơ quan chính

quyền, thông tin đại chúng, nhà đầu tư.

Điểm mạnh

3. Chi phí vốn hoạt động thấp so với các ngành khác. 4. Chính sách linh hoạt theo từng nhóm khách hàng. 5. Hệ thống công nghệ giao dịch trực tuyến. 6. Uy tín và thương hiệu được đánh giá cao.

8

3. THỰC TRẠNG NGHIỆP VỤ MÔI GIỚI

3.3 Phân tích các y ếu tố bên trong

Điểm yếu

Vốn & Tổng nguồn vốn nhỏ

9

4. CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN

4.1 Định hướng - Mục tiêu

Định hướng

Mục tiêu

1. Tăng quy mô, nâng tính thanh khoản.

2. Tổng giá trị vốn hóa trị trường đạt 70% GDP vào 2020. 3. Đa dạng hóa các sản phẩm, nghiệp vụ.

4. Phát triển hệ thống

1. Xây dựng chứng khoán phái sinh. 2. Nâng cao năng lực cho hệ thống các tổ chức trung gian thị trường. 3. Nâng cấp hạ tầng công nghệ thông tin. 4. Tăng cường quản lý, giám sát; hợp tác quốc tế và đào tạo, nghiên cứu - phát triển; kết hợp với việc tái cấu trúc tổ chức thị trường.

nhà đầu tư tổ chức, khuyến khích đầu tư nước ngoài dài hạn.

10

4. CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN

4.2 Cơ sở hình thành chiến lược

Chiến lược lớn

IFE

Kết quả phân tích từ các Ma trận

•Chiến lược phát huy nội lực (Hướng nội: vốn; công nghệ; nhân sự; mạng lưới; ..) •Chiến lược tái cấu trúc công ty chứng khoán( Hướng ngoại: vốn; hợp tác; mua – bán; sát nhập…)

Tổng số điểm quan trọng trong Ma trận IFE : 2.3 điểm chứng tỏ các công ty chứng khoán phản ứng ở mức trung bình trong huy động các nguồn lực.

11

EFE Ma trận EFE : Tổng số điểm quan trọng của NVMG là 2.0 chứng tỏ NVMG đang phản ứng dưới mức trung bình với các thay đổi của môi trường bên ngoài.

4. CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN

4.3 Lựa chọn chiến lược

Ma trận QSPM

Chiến lược phát huy nội lực

1. Tăng v ốn điều lệ nộ bộ 2. T ự xây dựng mạng lưới 3. Nghiên c ứu phát triển các sản phầm mới 4. Hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hợp tác 5. Tăng cư ờng đào tạo và tự đào tạo

Chiến lược tái cấu trúc

Kết quả phân tích Ma tr ận QSPM v ới chiến lược 1: 103 điểm và chiến lược 2 là 151 điểm. Vì thế chiến lược 2 được chọn để thực hiện.

1. Bán c ổ phần tăng vốn điều lệ 2. T ự phát triển,mua, sát nhập 3. Phát tri ển công nghệ 4. Mở rộng kênh phân phối truyền thống 5. Cạnh tranh thu hút chất xám từ công ty khác

12

4. CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN

4.4 Các gi ải pháp thực hiện chiến lược

Có 5 giải pháp:

TÀI CHÍNH

CÔNG NGHỆ

QUẢN TRỊ NHÂN SỰ

NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN

MARKETING

13

5. KIẾN NGHỊ & KẾT LUẬN

3. Công ty ch ứng khoán

5.1 KIẾN NGHỊ

1. Chính ph ủ

2. Ủy ban chứng khoán – Ngân hàng nhà nư ớc Việt Nam

Xây dựng qui trình giám sát, xử ly rủi ro, đảm bảo chỉ tiêu an toàn tài chính.

Mở rộng hoạt động kinh doanh cho các công ty chứng khoán.

Hoàn thi ện hệ thống đào tạo môi giới chứng khoán.

Nới lỏng các quy định hạn chế việc mở chi nhánh.

Quy trình hóa trong giao dịch từ lúc mở tài khoản đến khi khách hàng rút tiền.

Xác định vị thế của cơ quan quản lý Nhà n ước trong việc quản lý và giám sát th ị trường.

Nâng cấp phần mềm giao dịch; nâng cấp hoạt động theo tiêu chu ẩn ISO.

Đề ra nguyên tắc về dịch vụ môi giới và khung hoạt động chung cho chứng khoán.

Phân đ ịnh trách nhiệm, quyền hạn của cơ quan Nhà nước trong xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

Chuyên môn hóa trong thực hiện các nghiệp vụ.

Tăng tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài.

Giám sát ho ạt động thị trường theo c ấp độ khác nhau.

14

5. KIẾN NGHỊ & KẾT LUẬN

KẾT LUẬN

Nghiệp vụ môi giới chứng khoán rất quan trọng, hoạt động phải được củng cố, nâng cao chất lượng và là trọng tâm của công ty chứng khoán.

Tăng cường công tác quản lý, nâng cao chất lượng hàng hóa và phát triển hàng hóa cho thị trường; tăng cường quản lý các hoạt động của nghiệp vụ môi giới.

5.2 KẾT LUẬN

Khai thác t iềm lực tài chính dưới hình thức giao dịch chứng khoán; phục vụ cho đầu tư phát triển kinh tế thông qua chiến lược tái cơ cấu lại các công ty chứng khoán.

Đáp ứng nhu cầu đầu tư thông qua vi ệc cung cấp đa dạng các loại chứng khoán, các dịch vụ tài chính, dịch vụ chứng khoán.

15

THE END

ng

!

TRƯỜNG ĐH KỸ THUẬT CÔNG NGHỆ TP. HCM PHÒNG QLKH - ĐTSĐH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TP. HCM, ngày 15 tháng 3 năm 2012

NHIỆM VỤ LUẬN VĂN THẠC SĨ

Họ tên học viên: PHAN VĂN TH ẮM Giới tính: NAM

Ngày, tháng, năm sinh: 10/8/1984 Nơi sinh: Quảng Ngãi

Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh MSHV:1084011033

I- TÊN ĐỀ TÀI:

Chiến lược phát triển cho các công ty chứng khoán đã niêm yết tại Việt Nam

giai đoạn 2011 – 2015 tầm nhìn 2020

II- NHIỆM VỤ VÀ NỘI DUNG:

Nghiên c ứu, phân tích và đánh giá tình hình hoạt động của các công ty chứng

khoán. Trên cơ s ở đó hoạch định chiến lược và cách thực thi chiến lược của các công ty

đạt hiệu quả thông qua phân tích các ma trận.

III- NGÀY GIAO NHI ỆM VỤ: 15/9/2011

IV- NGÀY HOÀN THÀNH NHI ỆM VỤ: 15/3/2012

V- CÁN BỘ HƯỚNG DẪN: (Ghi rõ h ọc hàm, học vị, họ, tên) ......................................

.................................................................................................................................................

.................................................................................................................................................

CÁN BỘ HƯỚNG DẪN KHOA QUẢN LÝ CHUYÊN NGÀNH

(Họ tên và chữ ký) (Họ tên và chữ ký)

i

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết

quả nêu trong luận văn là trung thực, được trích dẫn và có tính kế thừa, phát triển từ

các tài liệu, tạp chí, các công trình nghiên cứu đã được công bố và trên các website

đã được trích dẫn và chỉ rõ nguồn gốc. Các giải pháp nêu trong luận văn được rút ra

từ những cơ sỡ lý luận và quá trình nghiên cứu thực tiễn.

Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện Luận văn này đã

được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc.

Tp.HCM, ngày 15 tháng 3 năm 2012

Tác giả

PHAN VĂN THẮM

ii

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin chân thành c ảm ơn Quý Thầy Cô trường Kỹ Thuật Công Nghệ Tp.HCM,

đặc biệt là TS. Đoàn Liêng Diễm đã tận tình hướng dẫn cho tôi trong suốt quá trình

thực hiện luận văn.

Tác giả bày tỏ tình cảm của mình đối với những cá nhân, tập thể cán bộ nhân viên

công ty cổ phần chứng khoán Phương Nam ; anh chị em lớp cao học 10SQT, cùng gia

đình, bạn bè đã hướng dẫn giúp đỡ, cộng tác trong suốt quá trình th ực hiện luận văn.

Trân trọng.

Tp.HCM, ngày 15 tháng 3 năm 2012

Tác giả

PHAN VĂN TH ẮM

iii

TÓM TẮT

Luận án “ Chiến lược phát triển cho các công ty chứng khoán đã niêm yết tại Việt Nam giai đoạn 2011 - 2015 tầm nhìn 2020 ” được hoạch định các chiến lược dựa vào sự phân tích tình hình hoạt động của thị trường thông qua các Ma trận. Về mặt tổng thể chiến lược phát triển công ty dựa vào năng lực cạnh tranh của từng công ty chứng khoán để thực hiện trong các yếu tố ảnh hưởng đến công ty. Cụ thể: Nâng cao năng lực tài chính: phát triển các hoạt động nghiệp vụ theo hướng chuyên nghiệp hóa, hiện đại hóa các hoạt động kinh doanh chứng khoán theo chuẩn mực và thông lệ quốc tế.

Tăng cường quản trị công ty và quản trị rủi ro: dựa trên các chỉ tiêu an toàn tài chính đối với công ty chứng khoán phù hợp với các tiêu chuẩn, chuận mực quốc tế.

Sắp xếp lại hê thống các tổ chức kinh doanh chứng khoán: theo hướng đẩy việc hợp nhất, sáp nhập hoặc giải thế các tổ chức yếu kém để tăng quy mô hoạt động, giảm số lượng công ty cho phù hợp với sự phát triển của thị trường. Từng bước phát triển các tổ chức kinh doanh chứng khoán theo mô hình đa năng và chuyên doanh; trên cơ sở đó nâng cao năng lực cung cấp dịch vụ chứng khoán ra các thị trường chứng khoán trong khu vực ASEAN.

Nâng cao chất lượng nhân viên hành nghề kinh doanh chứng khoán : thông qua chuẩn hóa các chương t rình đào tạo hành nghề kinh doanh chứng khoán theo các chuẩn mực cao nhất và từng bước mở cửa cho các tổ chức đào tạo chứng khoán nước ngoài có uy tính.

Hiện đại hóa hệ thống cơ sợ hạ tầng công nghệ thông tin: hệ thống của thị trường chứng khoán theo hướng thống nhất, đồng bộ, đảm bảo khả năng quản lý, giám sát thông qua hệ thống tự động đối với các hoạt động giao dịch, thanh toán bù trừ và lưu ký chứng khoán.

Hoàn chỉnh hệ thống công nghệ thông tin: cho thị trường chứng khoán để đi vào hoạt động trước nă m 2015. Xây dựng kế hoạch phát triển hạ tầng công nghệ thông tin cho toàn ngành chứng khoán theo hướng đồng bộ, chuẩn hóa các định dạng về thông tin, báo cáo. Quy chuẩn kết nối cũng như định hướng phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin tại các Sở Giao dịch chứng khoán khu vực.

Phát triển đa dạng hóa sản phẩm – hàng hóa: dựa trên nhu cầu và thực tế phát sinh các sản phẩm cao cấp hơn ngoài giao dịch thông thường là giao dịch ký quỹ; bán khống; hợp đồng quyền chọn và rút ngắn thời gian giao dịch như các thị trường chứng khoán của các HongKong; Trung Quốc; Hàn Quốc và của Singapore. Tóm lại, nâng cao năng lực cạnh tranh thông qua các chiến lược là điều tất yếu của nhu cầu phát triển và mở rộng của thị trường chứng khoán. Để chiến lược cấu trúc và tái cấu trúc đạt hiệu quả, chúng ta cần phải nghiên cứu nhiều hơn nữa vì thị trường chứng khoán Việt Nam có sự tham gia tỷ trọng lớn của hệ thống ngân hàng. Cần nhiều chính sách và thông tư hướng dẫn thực hiện chính sách và cần nhiều hơn nữa khả năng giảm lãi suất và ổn định lạm phát cũng như tránh giảm phát nhằm hỗ thị trường chứng khoán vượt qua giai đoạn khó khăn như hiện nay.

iv

ABSTRACT

The thesis “Development Strategy of securities brokerage firms listed securities period 2011 – 2015 Vision 2020” planned strategy based on an analysis of the operation of a market through the matrix. In terms of overall business development strategy based on the competitiveness of individual companies to make stock. Specifically: Financial capacity: development of professional activities

toward professionalization and modernization of the securities business standards and international practices.

Strengthening corporate governance and risk management: based on indicators of financial security for the securities company in accordance with the standards and international standards.

Rearranging the system of organized securities trading: by promoting the consolidation, merger or dissolution of weak institutions to increase the scale of operation, reducing the number of suitable companies for the development ofmarket. Step by step development of the securities business organization model and multi-specialized; on that basis, improve service delivery of securities to the securities market in the ASEAN region.

Improving the quality of staff practice the securities business: through standardized training programs practicing securities business under the highest standards and gradually open to the training of foreign securities have prestige.

Modernization of system infrastructures of information technology: the system of the stock market toward unified, coordinated, ensuring management capacity, monitoring through automated systems for trading activities services, clearing and custody.

to develop information

Complete information technology systems: the stock market to go into operation before 2015. Develop plans technology infrastructure for the entire securities industry in a synchronous, standardized formats for information, reports. Regulation as well as connection-oriented application development and information technology at the Department of Regional Stock Exchange.

Development of diversified products – commodities: based on actual demand and generate superior products outside the normal transaction is a transaction deposits; sell uncompleted options contract and shorten delivery time translated as the stock market of Hong Kong; China, South Korea and Singapore.

In summary, enhanced competitiveness through strategy is indispensable needs of development and expansion of the stock market. To structure and strategic restructuring to be effective, we need more research because Vietnam’s stock market involving large proportion of the banking system. Need many policies and circulars guiding the implementation of policies and more likely to cut interest rates and stable inflation to avoid deflation as well as support the stock market overcome the current difficulties.

v

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN LỜI CẢM ƠN TÓM TẮT DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT DANH MỤC CÁC HÌNH DANH MỤC CÁC BẢNG LỜI MỞ ĐẦU

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHIẾN LƯỢC KINH DOANH

1.1 Tổng quan về chiến lược của doanh nghiệp ...................................................................... 1 1.1.1 Khái niệm về chiến lược kinh doanh ...................................................................... 1 1.1.2 Vai trò của chiến lược kinh doanh .......................................................................... 2 1.1.3 Phân loại chiến lược kinh doanh ............................................................................ 3

1.2 Quy trình xây dựng chiến lược kinh doanh....................................................................... 4 1.2.1 Xác định nhiệm vụ kinh doanh ............................................................................... 5 1.2.2 Phân tích yếu tố bên ngoài ....................................................................................... 6 1.2.3 Phân tích yếu tố bên trong ...................................................................................... 6 1.2.4 Phân tích và lựa chọn chiến lược ............................................................................ 7

1.3 Các công cụ xây dựng chiến lược ....................................................................................... 7 1.3.1 Giai đoạn đầu ......................................................................................................... 8 1.3.1.1 Ma trận EFE ............................................................................................. 8 1.3.1.2 Ma trận hình ảnh cạnh tranh ..................................................................... 8 1.3.1.3 Ma trận IFE .............................................................................................. 8 1.3.2 Giai đoạn kết hợp ..................................................................................................... 9 1.3.2.1 Ma trận SWOT .......................................................................................... 9 1.3.2.2 Ma trận SPACE ....................................................................................... 11 1.3.3 Giai đoạn quyết định ............................................................................................... 12

1.4. Kinh nghiệm thành lập và phát triển thị trường chứng khoán của một số quốc gia trên thế giới .................................................................................................................................. 13 1.4.1 Thị trường chứng khoán Trung Quốc ................................................. 13 1.4.2 Thị trường chứng khoán Singapore .................................................... 15 1.4.3 Thị trường chứng khoán Hàn Quốc ................................................... 18 Kết luận chương 1 ............................................................................................. 23

CHƯƠNG II : THỰC TRẠNG CỦA CÁC CÔNG TY CHỨNG KHOÁN ĐÃ NIÊM YẾT

2.1 Giới thiệu khái quát ............................................................................................................. 24

vi

2.1.1 Về quy mô và hàng hóa của thị trường ................................................................... 24 2.1.2 Về niêm yết và giao dịch chứng khoán ......................................................... 28 2.1.3 Về hệ thống cơ sở nhà đầu tư ........................................................................ 31 2.1.4 Về tổ chức thị trường ..................................................................................... 32

2.2 Phân tích các yếu tố bên ngoài ảnh hưởng đến nghiệp vụ môi giới ................................ 33 2.2.1 Môi trường kinh tế .................................................................................................. 33 2.2.2 Môi trường văn hóa, xã hội, địa lý ........................................................................... 34 2.2.3 Môi trường chính trị, pháp luật ................................................................................ 35 2.2.4 Môi trường công nghệ.............................................................................................. 36 2.2.5 Môi trường cạnh tranh ............................................................................................ 37 2.2.6 Đánh giá Cơ hội, thách thức .................................................................................... 38 2.2.7 Ma trận đánh giá các yếu tố bên ngoài (EFE) của NVMG ...................................... 40 2.2.8 Ma trận hình ảnh cạnh tranh ................................................................................... 41 2.3 Phân tích các yếu tố bên trong ảnh hưởng đến nghiệp vụ môi giới ................................. 42 2.3.1 Nguồn nhân lực ........................................................................................................ 42 2.3.2 Yếu tố Marketing .................................................................................................... 45 2.3.3 Năng lực tài chính ................................................................................................... 45 2.3.4 Cơ cấu tổ chức và Quy trình nghiệp vụ .................................................................. 48 2.3.5 Nghiên cứu và phát triển .......................................................................................... 51 2.3.6 Công nghệ thông tin ................................................................................................. 52 2.3.7 Đánh giá điểm mạnh, điểm yếu .............................................................................. 53 2.3.8 Ma trận đánh giá nội bộ của nghiệp vụ môi giới chứng khoán .............................. 54 Kết luận chương 2 ...................................................................................................................... 55

CHƯƠNG III : CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN CHO CÁC CÔNG TY CHỨNG KHOÁN ĐÃ NIÊM YẾT TẠI VIỆN NAM ĐẾN NĂM 2020

3.1 Định hướng và mục tiêu kinh doanh ................................................................................. 57 3.1.1 Định hướng ............................................................................................................. 57 3.1.2 Mục tiêu .................................................................................................................. 57

3.2 Cơ sở hình thành và lựa chọn chiến lược kinh doanh ...................................................... 58 3.2.1 Phân tích ma trân SWOT ........................................................................................ 59 3.2.2 Phân tích ma trân SPACE ........................................................................................ 60 3.2.3 Phân tích ma trân chiến lược lớn ............................................................................ 61 3.2.4 Phân tích ma trân QSPM ......................................................................................... 64

3.3 Các giải pháp thực hiện chiến lược .................................................................................... 66 3.3.1 Giải pháp tài chính ................................................................................................... 66 3.3.2 Giải pháp nhân lực, quản trị, điều hành ................................................................... 70 3.3.3 Giải pháp marketing ................................................................................................. 74 3.3.4 Giải pháp công nghệ ............................................................................................... 77 3.3.5 Giải pháp nghiên cứu và phát triển ......................................................................... 79

vii

3.4 Kiến nghị .............................................................................................................................. 81 3.4.1 Kiến nghị với chính phủ .......................................................................................... 81 3.4.2 Kiến nghị với Ủy ban chứng khoán – Ngân hàng nhà nước Việt Nam ................... 83 3.4.3 Kiến nghị với các công ty chứng khoán .................................................................. 84 Kết luận chương 3 ...................................................................................................................... 85 KẾT LUẬN ................................................................................................................................. 87 TÀI LIỆU THAM KHẢO PHỤ LỤC

viii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Chứng khoán Thị trường chứng khoán Công ty chứng khoán Ủy ban chứng khoán Công ty cổ phần chứng khoán Sài Gòn Công ty cổ phần chứng khoán Ngân hàng Sài Gòn Thương Tín Công ty cổ phần chứng khoán Kim Long Nghiệp vụ môi giới Ma trận đánh giá các yếu tố bên ngoài Ma trận đánh giá các yếu tố bên trong Ma trận điểm mạnh – điểm yếu, cơ hội – nguy cơ Ma trận vị trí chiến lược và đánh giá hoạt động động Ma trận nhóm tham khảo ý kiến Boston Ma trận các yếu tố bên trong – bên ngoài Cổ phần hóa Danh nghiệp nhà nước Sở giao dịch chứng khoán Nhà đầu tư Nhà đầu tư nước ngoài Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội Thị trường chứng khoán chưa niêm yết

CK TTCK CTCK UBCK SSI SBS KLS NVMG EFE IFE SWOT SPACE BCG IE CPH DNNN SGDCK NĐT NĐTNN HSX HNX OTC

ix

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 1.1 Sơ đồ ma trận SPACE .......................................................................... 11 Hình 2.1 Tổng doanh thu và lợi nhuận của các công ty chứng khoán niêm yết .. 26 Hình 2.2 Cơ cấu doanh thu năm 2011 của các công ty chứng khoán niêm yết .. 27 Hình 2.3 So sánh tồng lợi nhuận giữa các công ty chứng khoán lãi và lỗ .......... 27 Hình 2.4 Tăng trưởng GDP qua các năm ............................................................. 33 Hình 2.5 Chiến lược nghiệp vụ môi giới trên ma trận SPACE ........................... 61

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 Ma trận SWOT ................................................................................... 10 Bảng 2.1 Ma trận EFE của nghiệp vụ môi giới .................................................... 40 Bảng 2.2 Ma trận hình ảnh cạnh tranh của nghiệp vụ môi giới ........................... 41 Bảng 2.3 Ma trận IFE của nghiệp vụ môi giới ..................................................... 54 Bảng 3.1 Phân tích ma trận SWOT của nghiệp vụ môi giới ............................... 59 Bảng 3.2 Phân tích ma trận SPACE của nghiệp vụ môi giới ............................... 60 Bảng 3.3 Ma trận QSPM của nghiệp vụ môi giới ................................................ 64

x

LỜI MỞ ĐẦU

***

1. Tính cấp thiết của đề tài

Thị trường chứng khoán là một bộ phận quan trọng của Thị trường vốn, hoạt

động của nó nhằm huy động những nguồn vốn tiết kiệm nhỏ trong xã hội tập trung

thành nguồn vốn lớn tài trợ cho doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế và Chính phủ để

phát triển sản xuất, tăng trưởng kinh tế hay cho các dự án đầu tư. Thị trường chứng

khoán là nơi diễn ra các hoạt động giao dịch mua bán các loại chứng khoán. Việc

mua bán được tiến hành ở hai thị trường sơ cấp và thứ cấp. Do vậy thị trường chứng

khoán là nơi chứng khoán được phát hành và trao đổi. Thị trường sơ cấp: người

mua mua được chứng khoán lần đầu từ những người phát hành; Thị trường thứ cấp:

nơi diễn ra sự mua đi bán lại các chứng khoán đã được phát hành ở Thị trường sơ

cấp.

Một trong những đặc trưng của thị trường chứng khoán là hoạt động theo

nguyên tắc trung gian. Theo nguyên tắc này, các giao dịch trên thị trường chứng

khoán bắt buộc phải được thực hiện qua công ty chứng khoán và nhân viên môi giới

chứng khoán. Chỉ có như vậy mới đảm bảo cho các chứng khoán được giao dịch là

chứng khoán thực và hợp pháp, bảo vệ lợi ích của nhà đầu tư, duy trì hoạt động lành

mạnh của cả thị trường. Môi giới chứng khoán là hoạt động nghiệp vụ mang tính

chuyên môn cao, đòi hỏi đặc biệt về kỹ năng, nghiệp vụ, chất lượng, đạo đức, đồng

thời đỏi hỏi một môi trường hỗ trợ tương đối phức tạp (về tổ chức, pháp luật, thiết

bị, văn hoá, xã hội). Thị trường chứng khoán phát triển trình độ cao là tiền đề để

hoạt động môi giới có thể đảm nhận tốt chức năng cung cấp các dịch vụ và sản

phẩm tài chính. Ngược lại, trong một thị trường tài chính còn thô sơ, sự xuất hiện và

phát triển hoạt động môi giới chứng khoán sẽ là nhân tố thúc đẩy sự phát triển và

hoàn thiện thị trường chứng khoán nói riêng và thị trường tài chính nói chung.

Cùng với sự ra đời của thị trường chứng khoán Việt Nam, các công ty chứng

khoán cũng được thành lập và đi vào hoạt động. Môi giới chứng khoán là nghiệp vụ

xi

cơ bản mà hầu hết mọi công ty chứng khoán đều tham gia song mới ở mức độ rất

thấp và không có sự gắn kết quyền lợi, trách nhiệm với nhau và với khách hàng.

Nghiệp vụ môi giới của các công ty chứng chứng khoán Việt Nam hiện nay chưa

thực sự đúng với nghiệp vụ môi giới vẫn thường thấy trên các thị trường chứng

khoán thế giới. Để thu hút được đông đảo nhà đầu tư và trở thành một hoạt động

dịch vụ có uy tín và chất lượng, hoạt động môi giới sẽ phải thay đổi và phát triển

hơn nữa.

Trong thời gian qua, thị trường chứng khoán Việt Nam đã từng bước

trưởng thành và phát triển nhưng chưa hội đủ các yếu tố tương xứng so với thị

trường chứng khoán các nước, cụ thể: hệ thống pháp luật chưa chuẩn hoá,

hàng hoá đơn điệu về chủng loại, hệ thông th iết bị và hệ thông mạng chưa

đội ngũ cán bộ chưa được đào tạo chuyên sâu về lĩnh vực được hiện đại hóa,

chứng khoán và thị trường chứng khoán. Do đó, việc phân tích, đánh giá tình

hình hoạt động thị trường chứng khoán Việt Nam trong thời gian qua, nghiên

cứu vấn đề kết nôi trường chứng khoán Việt Nam với trường chứng khoán các

nước và Chiến lược phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam đến năm

2020 của Chính phủ để từ đó hoạch định hệ thống các giải pháp thực hiện phát

triển thị trường chứng khoán Việt Na m là sự cần thiết tất yếu cho mục tiêu hội

nhập thị trường tài chính mà đặc biệt hội nhập thị trường chứng khoán. Ngoài

ra, nhu cầu phát triển kinh tế ngày càng tăng, nhu cầu vốn ngày càng nhiều vì thế

công ty chứng khoán đóng vai trò quan trọng trong quá trình lưu chuyển vốn từ nơi

dư đến thiếu vốn thông qua chức năng trung gian. Để nhu cầu vốn được gặp nhau

một cách công bằng và minh bạch và hiệu quả là yêu cầu cách bách đối với thị

trường vốn hiện nay. Cũng như nhu cầu phát triển của ngành tài chính nói chung và

thị trường chứng khoán nói riêng cần nhiều công ty chứng khoán phát triển bền

vững trong điều kiện hơn 50% công ty chứng khoán báo cáo lỗ như hiện nay.

Để thực hiện mục tiêu phát triển thị trường chứng khoán nói chung thì

chúng ta cần thực hiện chiến lược phát triển từng nghiệp vụ của các công ty

chứng khoán nói riêng. Với mục tiêu hoàn thành đề tài mà tác giả đã

xii

chọn:“CHIẾN L ƯỢC PHÁT TRIỂN CHO CÁC CÔNG TY CHỨNG

KHOÁN ĐÃ NIÊM YẾT TẠI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2011-2015, TẦM

NHÌN 2020“ làm luận văn thạc sĩ; nhằm hỗ trợ các công ty chứng khoán và

nhà quản lý thấy rõ hơn nhiệm vụ và kế hoạch thực thi các chiến lược thúc

đẩy thị trường chứng khoán phát triển cả về quy mô và chất lượng hoạt động;

nâng cao khả năng cạnh tranh và chủ động hội nhập thị trường ch ứng khoán

quốc tế.

2. Mục đích nghiên cứu của Luận văn

- Luận văn đi sâu nghiên cứu, làm rõ những vấn đề lý luận, phương pháp

luận về Công ty chứng khoán và nghiệp vụ môi giới chứng khoán, vai trò của

nghiệp vụ môi giới chứng khoán. Từ đó làm sáng tỏ sự cần thiết phải phát triển cho

các công ty chứng khoán Việt Nam

- Luận văn đi sâu phân tích đánh giá thực trạng hoạt động của các Công ty

chứng khoán Việt Nam trong thời gian qua.

- Từ phân tích thực trạng và phương hướng phát triển, Luận văn mạnh dạn

đưa ra một số giải pháp nhằm thúc đẩy sự phát triển công ty chứng khoán tại Việt

Nam.

3. Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu

* Đối tượng nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu của luận văn l à tình hình hoạt động môi giới chứng

khoán ở các Công ty chứng khoán Vi ệt Nam đã niêm yết giao dịch trên hai Sở

chứng khoán giai đoạn 2000-2011. Với số lượng niêm yết hiện tại là 27 công ty

chứng khoán trong đó có 5 công ty chứng khoán niêm yết trên Sở giao dịch chứng

khoán Thành phố Hồ Chí Minh và 22 công ty chứng khoán niê m yết trên Sở giao

dịch chứng khoán Hà Nội. Luận văn đi sâu phân tích nguyên nhân hoạt động kém

hiệu quả của nghiệp vụ này ở các Công ty chứng khoán Vi ệt Nam trong giai đoạn

vừa qua.

xiii

** Phạm vi nghiên cứu:

Luận văn chỉ giới hạn nghiên cứu tình hình hoạt động môi giới chứng khoán

của các Công ty chứng khoán Vi ệt Nam. Nghiên cứu những quan điểm, phương

hướng, một số giải pháp nhằm thúc đẩy sự phát triển hoạt động môi giới chứng

khoán ở Việt Nam.

+ Về mặt thời gian: nghiên cứu số liệu từ năm 2000 đến 2011.

+ Về mặt không gian: nghiên cứu chiến lược phát triển cho các công ty

chứng khoán đã cổ phần hóa và đã niêm yết giao dịch trên hai sở giao dịch HNX và

HSX.

Đây là giới hạn của luận văn mà tác giả rất mong muốn trong tương lai được

mở rộng ra hơn nữa cho các ngành kinh tế khác của nước ta.

*** Phương pháp nghiên cứu:

Để nghiên cứu đề tài này, Luận văn đã sử dụng phương pháp định tí nh và

định lượng để nghiên cứu:

+ Định tính là dựa vào Nghị định, Nghị quyết của Chính phủ, các văn bản

quy phạm pháp luật của các Uỷ ban Chứng khoán, Bộ ngành có liên quan để xem

xét và giải quyết các vấn đề có liên quan trong mối liên hệ phổ biến, trong trạng thái

vận động và phát triển, có tính chất hệ thống trong những kết quả, những mặt tích

cực đã đạt được. Đồng thời cũng gắn việc nghiên cứu với hoàn cảnh và điều kiện cụ

thể để việc đánh giá mang tính khách quan thực tế.

+ Yếu tố định lượng được sử dụng bao gồm các phương pháp khác như

phương pháp thu thập thông tin từ các nguồn cung cấp thông tin: Ủy Ban chứng

khoán Nhà nước, Trung tâm giao dịch chứng khoán, các công ty chứng khoán,..,

phương pháp thống kê, điều tra chọn mẫu, phương pháp phân tích đánh giá các

thông tin đã thu thập được, phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp so

sánh,... để đánh giá và rút ra những mặt tích cực v à những tồn tại trong hoạt động

của các công ty chứng khoán Việt Nam trong giai đoạn vừa qua; làm mục tiêu và cơ

sở cho việc đề ra các chiến lược có yếu tố khách quan và hiệu quả hơn.

xiv

4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu

Luận án đã mô tả, phân tích thực trạng thị trường chứng khoán Việt Nam

nhằm đánh giá chuỗi sự kiện diễn tiến trên thị trường chứng khoán Việt Nam nhằm

giúp cho các nhà quản lý thị trường, nhà phát hành, nhà đầu tư có được một bức

tranh hoàn hảo phản ảnh nhịp độ hoạt động thị trường chứng khoán Việt Nam trong

thời gian qua. Từ đó các nhà quản lý thị trường có thể hoạch định các công cụ phù

hợp để phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam.

Luận văn thực hiện dựa trên cơ sở những lý luận liên quan đến quản trị chiến

lược và vận dụng lý luận đó vào phân tích điểm mạnh – điểm yếu, cơ hội – nguy cơ

của nghiệp vụ môi giới trong công ty chứng khoán. Từ đó, hoạch định ra các chiến

lược kinh doanh và các giải pháp nhằm thực hiện chiến lược một cách tối ưu nhất.

Đồng thời, đưa ra các kiến nghị với ngân hàng nhà nước định hướng giải pháp

nhằm vượt qua thời kỳ khó khăn như hiện nay.

5. Nội dung của luận văn:

Ngoài Lời mở đầu, Kết luận, Luận văn gồm có ba gồm 3 chương

Chương 1: Cơ sở lý luận về chiến lược kinh doanh

Chương 2 : Thực trạng của các công ty chứng khoán đã niêm yết tại

Việt Nam

Chương 3: Chiến lược phát triển cho các công ty chứng khoán đã niêm

yết tại Việt Nam đến năm 2020

1

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHIẾN LƯỢC KINH DOANH

CỦA DOANH NGHIỆP

1.1 Chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp

1.1.1 Khái niệm:

- Theo Alfred Chandler, giáo sư đại học Harvard thì: “Quản trị chiến lược là

tiến trình xác định các mục tiêu cơ bản dài hạn của doanh nghiệp, lựa chọn cách

thức hoặc phương hướng hành động và phân bố tài nguyên thiết yếu để thực hiện

các mục tiêu đó”.

- Theo John Pearce II và Richard B. Robinson thì “Quản trị chiến lược là một

hệ các quyết định và hành động để hình thành và thực hiện các kế hoạch nhằm đạt

được các mục tiêu của doanh nghiệp”.

Chiến lược không nhằm vạch ra một cách cụ thể làm thế nào để có thể đạt

được những mục tiêu vì đó là nhiệm vụ của vô số các chương trình hỗ trợ và các

chiến lược chức năng khác. Chiến lược chỉ tạo ra các khung để hướng dẫn tư duy để

hành động.

Chiến lược kinh doanh thông thường được xác định ở 3 cấp độ:

- Chiến lược cấp công ty: xác định và vạch rõ mục đích, các mục tiêu của

công ty, các hoạt động kinh doanh của công ty;

- Chiến lược cấp kinh doanh (Strategy Business Unit - SBU): xác định việc

lựa chọn sản phẩm hoặc dạng cụ thể của thị trường cho hoạt động kinh doanh riêng

trong nội bộ công ty, xác định cách thức mỗi đơn vị kinh doanh sẽ cố gắng hoàn

thành mục tiêu của nó để đóng góp vào việc hoàn thành mục tiêu của công ty.

- Chiến lược cấp chức năng: xác định các giải pháp, kế hoạch cho từng lĩnh

vực kinh doanh.

Xung quanh khái niệm về chiến lược kinh doanh có những khái niệm có liên

quan chặt chẽ, đó là:

- Bản báo cáo nhiệm vụ (Mission Statement): báo cáo về mục đích lâu dài

của tổ chức, giúp phân biệt tổ chức này với tổ chức khác. Nó mô tả những giá trị và

2

những vấn đề ưu tiên của tổ chức, xác định chiều hướng phát triển tổng quát của

một tổ chức.

- Mục tiêu dài hạn (Perspective Objectives): là những thành quả xác định mà

một tổ chức tìm cách đạt được khi theo đuổi những nhiệm vụ chính của mình. Mục

tiêu dài hạn có thời hạn trên một năm, phải mang tính thách thức và đo lường được.

Mục tiêu được xác định cho cả tổ chức và cho từng bộ phận trong tổ chức. Mục tiêu

dài hạn đóng vai trò quan trọng trong việc hoạch định chiến lược.

- Chiến lược (Strategy): là những phương tiện để đạt tới mục tiêu dài hạn.

- Mục tiêu hàng năm (Annual Objectives): là những cái mốc mà tổ chức phải

đạt được để vươn tới các mục tiêu dài hạn. Mục tiêu hàng năm đóng vai trò quan

trong trong việc thực thi chiến lược.

- Các cơ hội (O – Opportunities) và nguy cơ (hay: thách thức, T – Threats)):

đây là những yếu tố thuộc môi trường bên ngoài, ngoài tầm kiểm soát của tổ c hức

và có thể làm lợi hay gây hại đến tổ chức. Trong quản trị chiến lược, cần hình thành

các chiến lược để tận dụng hết các cơ hội và tránh hay giảm các nguy cơ.

- Các điểm mạnh (S – Strengths) và điểm yếu (W – Weakness): là những yếu

tố nội bộ của tổ chức, trong phạm vi kiểm soát của tổ chức. Những điểm mạnh hay

điểm yếu được xác định trong mối liên hệ với các đối thủ cạnh tranh.

- Các chính sách (Policy): chính sách cũng là những phương tiên quan trọng

để đạt được các mục tiêu đề ra nhưng với phạm vi hẹp hơn, mang tính chức năng và

tính linh hoạt hơn là chiến lược.

1.1.2 Vai trò của chiến lược kinh doanh:

Giúp doanh nghiệp xác định sứ mạng và mục tiêu, lựa chọn phương hướng

để đạt được mục tiêu và cho biết vị trí của doanh nghiệp trong quá trình thực hiện

mục tiêu. Do đó, giúp các nhà quản trị và nhân viên biết được các công việc cần làm

để đạt được mục tiêu.

Giúp doanh nghiệp nhận diện các cơ hội và nguy cơ từ môi trường bên

ngoài, cùng với các điểm mạnh và điểm yếu của nội bộ doanh nghiệp ở hiện tại và

3

tương lai, để phát huy những điểm mạnh, giảm thiểu các điểm yếu của doanh

nghiệp, nhằm nắm bắt các cơ hội và giảm thiểu những nguy cơ cho doanh nghiệp.

Giúp doanh nghiệp có những quyết định kinh doanh phù hợp với môi trường

kinh doanh, nâng cao hiệu quả và hiệu suất trong sản xuất kinh doanh đưa doanh

nghiệp phát triển.

Giúp doanh nghiệp lựa chọn lợi thế cạnh tranh thích hợp trong môi trường

kinh doanh luôn thay đổi, tìm ra cách tồn tại và tăng trưởng để nâng cao vị thế cạnh

tranh của doanh nghiệp.

1.1.3 Phân loại chiến lược kinh doanh

1.1.3.1 Chiến lược tăng trưởng tập trung

Nhóm chiến lược này chủ yếu nhằm cải thiện vị thế cạnh tranh của công

ty với những sản phẩm hiện có trên cơ sở tăng cường hoạt động Marketing hoặc

thay đổi chiến lược thị trường hiện có mà không thay đổi sản phẩm nào, loại này có

ba chiến lược chính:

- Chiến lược thâm nhập thị trường: tìm kiếm thị phần tăng lên cho các sản

phẩm hiện tại và các dịch vụ trong các thị trường hiện có qua những nỗ lực tiếp thị

nhiều hơn.

- Chiến lược phát triển thị trường: đưa các sản phẩm hiện có vào các khu vực

mới.

- Chiến lược phát triển sản phẩm: tăng doanh số bằng việc cải tiến hoặc sữa

đổi các sản phẩm hoặc dịch vụ hiện có.

1.1.3.2 Chiến lược phát triển hội nhập

Nhóm chiến lược này nhắm tới mục tiêu kiểm soát các nhà phân phối, nhà

cung cấp, hoặc các đối thủ cạnh tranh.

- Hội nhập về phía trước: nhằm tăng quyền sỡ hữu hoặc kiểm soát đối với

nhà phân phối hoặc bán lẻ hàng hóa của doanh nghiệp.

- Hội nhập về phía sau: tìm kiếm quyền sỡ hữu hoặc kiểm soát đối với nhà

cung cấp của doanh nghiệp.

4

- Hội nhập theo chiều ngang: tìm kiếm quyền sỡ hữu hoặc kiểm soát đối với

các đối thủ cạnh tranh của doanh nghiệp.

1.1.3.3 Chiến lược đa dạng hóa

Nhóm chiến lược này thường được sử dụng t rong công ty đa ngành, nó

chiếm một vị trí quan trọng trong chiến lược cấp công ty. Nhóm chiến lược này

tương đối uyển chuyển và linh hoạt tuy nhiên đòi hỏi những cơ sở hạ tầng về vật

chất, tài chính và khả năng quản trị. Nhóm chiến lược này bao gồm:

- Chiến lược đa dạng hóa đồng tâm: nhằm thêm vào các sản phẩm mới

nhưng có liên hệ với nhau (nhóm hàng hóa thay thế hoặc bổ sung).

- Chiến lược đa dạng hóa hàng ngang: thêm vào những sản phẩm dịch vụ

mới (không có liên quan đến sản phẩm hiện tại) nhắm vào khách hàng hiện có.

- Chiến lược đa dạng hóa tổng hợp: thêm vào những sản phẩm dịch vụ mới

không có liên hệ gì với nhau (nhóm hàng hóa độc lập).

1.1.3.4 Chiến lược suy giảm

Nhóm chiến lược này được sử dụng khi công ty cần sự chỉnh đốn sau những

ảnh hưởng của chu kỳ kinh tế hay cần phải củng cố tránh sự suy thoái toàn diện của

công ty. Bao gồm các chiến lược chính sau:

- Thu hẹp hoạt động: củng cố lại tổ chức thông qua cắt giảm chi phí và tài

sản để tập trung nguồn lực vào một / một số ngành.

- Cắt bỏ hoạt động: bán đi một bộ phận của công ty nhưng vẫn đảm bảo công

ty hoạt động được.

- Thanh lý: bán tất cả tài sản của công ty từng phần một với giá trị thực của

nó.

1.2 Quy trình xây dựng chiến lược

Xây dựng (hoạch định) chiến lược là giai đoạn đầu trong qu á trình quản trị

chiến lược. Khái niệm quản trị chiến lược bao hàm nội dung rộng hơn khái niệm

xây dựng chiến lược. Quản trị chiến lược bao gồm: xây dựng (hoạch định), thực

hiện và đánh giá chiến lược.

5

Xây dựng chiến lược là quá trình thiết lập sứ mạng ki nh doanh, thực hiện

điều tra nghiên cứu môi trường bên trong để xác định các mặt mạnh, mặt yếu,

nghiên cứu môi trường bên ngoài để xác định cơ hội và nguy cơ, đề ra các mục tiêu

dài hạn xây dựng và chọn lựa các chiến lược thay thế. Sau khi doanh nghiệp đã xác

định chiến lược cần phải theo đuổi thì quá trình quản trị chiến lược sẽ chuyển sang

giai đoạn mới: giai đoạn thực hiện chiến lược. Bản chất của giai đoạn này là chuyển

dịch ý tưởng chiến lược thành hành động chiến lược. Giai đoạn này mang những

đặc điểm cơ bản khác với giai đoạn xây dựng chiến lược: nếu như xây dựng chiến

lược là một quá trình tri thức, đòi hỏi kỹ năng trực giác và phân tích, chỉ cần sự hợp

tác của một số cá nhân thì thực hiện chiến lược là một quá trình hành động, đòi hỏi

kỹ năng lãnh đạo và khuyến khích, cần sự hợp tác của tất cả mọi người trong tổ

chức.

Đánh giá chiến lược là quá trình so sánh kết quả mong muốn với kết quả

thực sự đạt được. Giai đoạn này nhắm đến mục đích xem xét, điều chỉnh các công

việc, chính sách thực hiện chiến lược nhằm đảm bảo chiến lược đề ra được triển

khai và thực hiện đúng. Đánh giá chiến lược nhắm đến cả mục tiêu dài hạn và hàng

năm. Do đề tài của luận văn được giới hạn trong phạm vi: hoạch định chiến lược

kinh doanh của ngân hàng nên trong chương 1, luận văn sẽ không đi chi tiết vào các

vấn đề lý luận của giai đoạn thực hiện và đánh giá chiến lược.

Quy trình xây dựng chiến lược bao gồm 4 bước: xác định nhiệm vụ kinh

doanh; phân tích môi trường bên ngoài; phân tích tình hình nội bộ; phân tích và lựa

chọn chiến lược. Mỗi bước sẽ bao gồm các công việc chủ yếu như sau:

1.2.1 Xác định nhiệm vụ kinh doanh

Ý tưởng về các bản báo cáo nhiệm vụ kinh doanh do Peter Drucker đưa

ra vào thập niên 70 của thế kỷ trước với sự nghiên cứu tập đoàn General Motors của

Hoa Kỳ. Bản báo cáo nhiệm vụ kinh doanh là một bản tuyên bố về “lý do tồn tại”

của một doanh nghiệp. Nó trả lời câu hỏi trung tâm: công việc kinh doanh của một

tổ chức là gì? Bản báo cáo nhiệm vụ là cơ sở quan trọng để thiết lập mục tiêu kinh

doanh và quản trị các chiến lược phù hợp.

6

Bản báo cáo nhiệm vụ tốt sẽ diễn tả triết lý kinh doanh của doanh ghiệp: xuất

phát từ nhu cầu và cho người tiêu dùng thấy sản phẩm của doanh nghiệp có lợi như

thế nào cho nhu cầu của họ. Ví dụ: AT&T đưa ra bản báo cáo đặt trọng tâm vào

truyền thông chứ không phải điện thoại; Universal Studios tập trung vào nhu cầu

giải trí chứ không phải phim ảnh.

1.2.2 Phân tích các yếu tố bên ngoài

Tất cả các doanh nghiệp đều chịu ảnh hưởng của các yếu tố môi trường

bên ngoài. Có thể c hia các yếu tố này ra thành 5 loại chính: (1) Môi trường kinh tế;

(2) Văn hóa, xã hội, địa lý, nhân khẩu; (3) Luật pháp, chính phủ và chính trị; (4)

Công nghệ; (5) Môi trường cạnh tranh.

Phân tích các yếu tố bên ngoài sẽ cho phép doanh nghiệp nhận diện rõ: đâu là cơ hội

(O) mà doanh nghiệp có thể tận dụng và đâu là nguy cơ hay thách thức (T) mà

doanh nghiệp phải đương đầu.

Nhận diện và đánh giá các cơ hội và những nguy cơ từ môi trường bên ngoài

ảnh hưởng đến doanh nghiệp sẽ cho phép doanh nghiệp xây dựng được nhiệm vụ

kinh doanh rõ ràng, xác định mục tiêu dài hạn khả thi, thiết kế được chiến lược phù

hợp và đề ra các chính sách hợp lý nhằm đạt được các mục tiêu hàng năm.

Việc phân tích các yếu tố bên ngoài mang nhiều màu sắc tính chất định tính,

trực giác, khó hình dung. Trong quản trị chiến lược, các nhà nghiên cứu đã đưa ra

hai công cụ cho phép doanh nghiệp chấm điểm và định lượng hóa các ảnh hưởng

của môi trường đến hoạt động của doanh nghiệp. Đó là: Ma trận đánh giá các yếu tố

bên ngoài (EFE) và ma trận hình ảnh cạnh tranh.

1.2.3 Phân tích yếu tố bên trong

Tình hình nội bộ của doanh nghiệp thường được đánh giá qua các bộ phận

kinh doanh chức năng của doanh nghiệp, thường bao gồm 6 bộ phận chủ yếu sau:

(1) Quản trị; (2) Marketing; (3) Tài chính kế toá n; (4) Sản xuất / tác nghiệp; (5)

Nghiên cứu và phát triển; (6)Hệ thống thông tin.

7

Việc phân tích nội bộ doanh nghiệp sẽ cho phép nhận diện những điểm mạnh

(S) và điểm yếu (W) của doanh nghiệp. Từ đó, các chiến lược được lựa chọn cần

phát huy tối đa các điểm mạnh và khắc phục các điểm yếu của doanh nghiệp.

Cũng tương tự như trong kỹ thuật phân tích các yếu tố bên ngoài, nhằm định

lượng hóa các phân tích nội bộ doanh nghiệp, người ta dùng “ma trận đánh giá các

yếu tố bên trong”.

1.2.4 Phân tích và lựa chọn chiến lược

Bản chất của việc phân tích chiến lược và lựa chọn là thiết lập các mục tiêu

lâu dài, đề ra các chiến lược có khả năng thay thế và lựa chọn các chiến lược cho

doanh nghiệp để hoàn thành nhiệm vụ và mục tiêu của mình.

1.3 Các công cụ xây dựng chiến lược

Theo Fred R. David, có 3 giai đoạn để hình thành nên một chiến lược và mỗi

giai đoạn sử dụng những công cụ khác nhau như sau:

Giai đoạn 1: giai đoạn nhập vào

Giai đoạn này tóm tắt các thông tin cơ bản đã được nhập vào để hình thành

nên các chiến lược. Giai đoạn này sử dụng 3 công cụ đã được trình bày ở trên là: ma

trận EFE, ma trận hình ảnh cạnh tranh và ma trận IFE.

Giai đoạn 2: Giai đoạn kết hợp

Giai đoạn này lựa chọn, sắp xếp, kết hợp các yếu tố bên trong, bên ngoài để

đưa ra các chiến lược khả thi. Giai đoạn này sẽ sử dụng 5 công cụ ma trận, gồm: Ma

trận SWOT, ma trận SPACE, ma trận BCG, ma trận IE và ma trận chiến lược lớn.

Giai đoạn 3: Giai đoạn quyết định

Giai đoạn này sử dụng 1 công cụ duy nhất là ma trận QSPM. Ma trận QSPM

sử dụng thông tin ở giai đoạn 1, đánh giá khách quan các chiến lược có thể lựa chọn

ở giai đoạn 2 nhằm quyết định xem chiến lược nào là tối ưu nhất cho danh nghiệp.

1.3.1 Giai đoạn đầu

1.3.1.1 Ma trận EFE: được thiết lập tuần tự theo 5 bước

- Lập danh mục các yếu tố có vai trò quyết định trong ngành nghề mà doanh

nghiệp đang kinh doanh.

8

- Đánh giá mức độ quan trọng của từng yếu tố theo thang điểm từ 0,0 đến 1,0 (mức độ quan trọng tăng dần) với tổng số điểm của tất cả các yếu tố bằng 1. Mức độ quan trọng này dựa vào đặc điểm của ngành kinh doanh mà doanh nghiệp đang hoạt động. - Chấm điểm từ 1 đến 4 cho từng yếu tố với số điểm thể hiện mức độ phản

ứng của doanh nghiệp đối với yếu tố này. Điểm 4 là phản ứng tốt. Điểm 3 là phản

ứng trên trung bình. Điểm 2 là phản ứng trung bình và 1 là phản ứng ít.

- Xác định tổng số điểm quan trọng cho mỗi yếu tố (bằng tích số của các

điểm số ở bước 2 và bước 3)

- Xác định tổng số điểm về tầm quan trọng của doanh nghiệp (bằng tổng các

điểm có được ở bước 4). Tổng điểm cao nhất là 4 và thấp nhất là 1. Trung bình là

2,5. Điểm càng cao cho thấy doanh nghiệp càng phản ứng tốt với các yếu tố bên

ngoài. Nói cách khác, doanh nghiệp đang tối đa hóa các cơ hội và tối thiểu hóa ảnh

hưởng của các nguy cơ.

1.3.1.2 Ma trận hình ảnh cạnh tranh

Ma trận này nhận diện những đối thủ cạnh tranh chủ yếu của doanh nghiệp,

ma trận này là sự mở rộng của ma trận EFE với các mức độ quan trọng của các yếu

tố, ý nghĩa của điểm số của từng yếu tố và tổng số điểm quan trọng là có cùng ý

nghĩa. Ma trận hình ảnh cạnh tranh khác ma trận EFE ở chỗ: có một số yếu tố bên

trong có tầm quan trọng quyết định cũng được đưa vào để so sánh. Tổng số điểm

đánh giá các đối thủ cạnh tranh sẽ được so sánh với doanh nghiệp được chọn làm

mẫu.

1.3.1.3 Ma trận IFE

Việc thiết lập ma trận IFE cũng theo 5 bước như trên đối với ma trận EFE.

- Lập danh mục các yếu tố bên trong có vai trò quyết định.

- Đánh giá mức độ quan trọng của từng yếu tố theo thang điểm từ 0,0 đến

1,0 (mức độ quan trọng tăng dần) với tổng số điểm của tất cả các yếu tố bằng 1.

Mức độ quan trọng này dựa vào tầm quan trọng của yếu tố đó đối với doanh nghiệp,

không phân biệt yếu tố này đang là điểm mạnh hay điểm yếu của doanh nghiệp.

9

- Chấm điểm từ 1 đến 4 cho từng yếu tố với số điểm thể hiện đặc điểm nội bộ

của doanh nghiệp đối với yếu tố này. Điểm 1 là điểm yếu lớn nhất, điểm 2 là điểm

yếu nhỏ nhất, điểm 3 là điểm mạnh nhỏ nhất, điểm 4 là điểm mạnh lớn nhất.

- Xác định tổng số điểm quan trọng cho mỗi yếu tố (bằng tích số của các

điểm số ở bước 2 và bước 3)

Xác định tổng số điểm về tầm quan trọng của doanh nghiệp (bằng tổng các

điểm có được ở bước 4). Tổng điểm cao nhất là 4 và thấp nhất là 1. Trung bình là

2,5. Số điểm quan trọng thấp hơn 2.5 cho thấy doanh nghiệp yếu về nội bộ, điểm

cao hơn 2.5 cho thấy doanh nghiệp mạnh về nội bộ.

1.3.2 Giai đoạn kết hợp

1.3.2.1 Ma trận SWOT

Ma trận SWOT là cộng cụ kết hợp các điểm mạnh (S), điểm yếu (W), cơ hội

(O), thách thức (T) để hình thành 4 loại chiến lược:

- Chiến lược SO: sử dụng những điểm mạnh trong nội bộ doanh nghiệp để

khai thác các cơ hội của môi trường bên ngoài.

- Chiến lược WO: tận dụng những cơ hội bên ngoài để cải thiện những điểm

yếu bên trong. Những điểm yếu này ngăn cản doanh nghiệp khai thác các cơ hội, do

đó, doanh nghiệp cần khắc phục điểm yếu càng nhanh càng tốt.

- Chiến lược ST: sử dụng những điểm mạnh của doanh nghiệp để tránh hay

giảm các mối đe dọa từ môi trường bên ngoài.

- Chiến lược WT: đây là những chiến lược phòng thủ nhằm làm giảm đi

những điểm yếu bên trong và tránh những mối đe dọa từ bên ngoài. Một doanh

nghiệp gặp phải những mối đe dọa bên ngoài kết hợp với các điểm yếu nội tại đang

đứng trước những rủi ro rất lớn, có khả năng phải liên kết, sáp nhập, hạn chế chi

tiêu, hay thậm chí phải phá sản.

10

Bảng 1.1 Ma trận SWOT

S W

Liệt kê những điểm mạnh Liệt kê những điểm yếu

O (Liệt kê các cơ hội) Các chiến lược S-O Các chiến lược W-O

( Nguồn : Chiến lược & Sách lược kinh doanh- PGS.TS.Nguyễn Thị Liên Diệp

ThS. Phạn Văn Nam, 2010)

T (Liệt kê các mối đe dọa) Các chiến lược S-T Các chiến lược W-T

1.3.2.2 Ma trận SPACE

Ma trận SPACE nêu lên 4 yếu tố quyết định đối với vị trí chiến lược của

doanh nghiệp, gồm 2 yếu tố bên trong: sức mạnh tài chính (FS) và lợi thế cạnh tranh

(CA) và 2 yếu tố bên ngoài: sự ổn định của môi trường (ES) và sức mạnh của ngành

(IS).

Sơ đồ sau đây biểu thị cho ma trận SPACE (trong sơ đồ này, 4 mũi tên dùng

để minh họa kết quả sau khi tính toán sẽ thuộc nhóm chiến lược nào trong 4 nhóm.

Trong thực tế sau khi tính toán sẽ cho ra kết quả là 1 trong 4 mũi tên mà thôi.)

11

( Nguồn : Chiến lược & Sách lược kinh doanh- PGS.TS.Nguyễn Thị Liên Diệp

ThS. Phạn Văn Nam, 2010)

Hình 1.1: Sơ đồ ma trận SPACE

Ma trận SPACE được xây dựng qua những bước sau:

- Chọn một nhóm các biến số đại diện cho FS, CA, ES và IS

- Ấn định các giá trị từ 1 (xấu nhất) đến 6 (tốt nhất) cho FS và IS, từ -1 (tốt

nhất) đến -6 (xấu nhất) cho ES và CA.

- Tính số điểm trung bình cho FS, IS, ES và CA

- Đánh dấu số điểm trung bình cho mỗi khía cạnh

- Cộng 2 điểm trên trục hoành và đánh dấu kết quả, cộng 2 điểm trên trục

tung và đánh dấu kết quả. Đánh dấu tọa độ của điểm mới này.

- Vẽ vectơ có hướng từ điểm gốc đến điểm mới này.

Vectơ này biểu hiện loại chiến lược của doanh nghiệp: tấn công, cạnh tranh,

phòng thủ hay thận trọng: Khi vectơ nằm ở góc tấn công: doanh nghiệp đang ở vị trí

tốt nhất để sử dụng những điểm mạnh bên trong nhằm tận dụng cơ hội, vượt qua

12

điểm yếu, tránh các mối đe dọa. Các chiến lược: thâm nhập thị trường, phát triển thị

trường, phát triển sản phẩm, kết hợp về phía sau, kết hợp về phía trước, kết hợp

chiều ngang đều có thể khả thi tùy hoàn cảnh cụ thể của từng doanh nghiệp.

Nếu vectơ nằm ở góc thận trọng: doanh nghiệp nên hoạt động với những khả

năng cơ bản của mình chứ không nên liều lĩnh quá. Các chiến lược có thể lựa chọn

là: thâm nhập thị trường, phát triển thị trường, phát triển sản phẩm và đa dạng hóa

tập trung.

Nếu vectơ nằm ở góc phòng thủ: doanh nghiệp nên tập trung cải thiện những

điểm yếu và tránh các mối đe dọa từ ngoài. Các chiến lược phòng thủ bao gồm: hạn

chế chi tiêu, loại bỏ bớt, thanh lý và đa dạng hóa tập trung.

Nếu vectơ nằm ở góc cạnh tranh: các chiến lược cạnh tranh có thể là chiến

lược kết hợp về phía sau, về phía trước, theo chiều ngang, thâm nhập thị trường,

phát triển thị trường, phát triển sản phẩm và tham gia liên doanh.

1.3.3 Giai đoạn quyết định

Ma trận QSPM sử dụng các thông tin có được từ 3 ma trận ở giai đoạn 1

và 5 ma trận ở giai đoạn 2, từ đó đánh giá khách quan các chiến lược có thể thay

thế. Các chiến lược được lựa chọn để đưa vào ma trận QSPM không phải là tất cả

các chiến lược được tìm ra ở giai đoạn 2.

Để xây dựng ma trận QSPM cần thực hiện qua 6 bước:

- Bước 1: liệt kê các yếu tố S, W, O, T được lấy từ ma trận EFE, IFE

- Bước 2: phân loại cho mỗi yếu tố phù hợp với ma trận EFE, IFE

- Bước 3: nghiên cứu các ma trận ở giai đoạn 2 và xác định các chiến lược có

thể thay thế cần xem xét.

- Bước 4: xác định số điểm hấp dẫn (TAS) theo từng yếu tố: điểm được đánh

giá từ 1 đến 4, với 1 là không hấp dẫn, 2 hấp dẫn một ít, 3 khá hấp dẫn và 4 rất hấp

dẫn.

- Bước 5: tính tổng số điểm hấp dẫn (TAS) theo từng hàng bằng cách nhân

số điểm phân loại ở bước 2 với số điểm AS ở bước 4.

- Bước 6: tính tổng cộng số điểm hấp dẫn của từng chiến lược.

13

Chiến lược hấp dẫn nhất là chiến lược có tổng cộng số điểm ở bước 6 là cao nhất.

1.4. Kinh nghiệm thành lập và phát triển thị trường chứng khoán của một số

quốc gia trên thế giới

1.4.1 Thị trường chứng khoán Trung Quốc

TTCK Trung Quốc đã được hình thành, khôi phục lại và phát triển mạnh kể

từ những năm 1980 cùng với chính sách cải cách thị trường và tự do hóa nền kinh

tế. Thị trường sơ cấp được hình thành từ thập niêm 80, đây là giai đoạn mở đầu của

thời kỳ cải cách và mở cửa của nền kinh tế Trung Quốc. Trong thời kỳ này, việc

phát hành trái phiếu Chính phủ phát triển nhanh, trái phiếu kho bạc (T-Bond) đo

chính phủ Trung ương cũng phát hành, thị ưường sơ cấp chủ yếu phát hành trái

phiếu Chính phủ. Tiếp theo sự xuất hiện các trái phiếu kho bạc trong giai đoạn này

là sự phát hành trái phiếu của các doanh nghiệp địa phương vào năm 1982 và trái

phiếu của các DNNN (E-Bond) được chính quyền Trung ương hay chính quyền địa

phương bảo lãnh năm 1986, góp phần nâng cao tỷ trọng của trái phiếu trên 90%

lượng giao dịch. Tháng 11/1984, công ty Shanghai Fello Acoustic Ltd thực hiện

việc chào bán ra công chúng lần đầu tiên, khối lượng cổ phiếu được phát hành rất ít,

thông qua việc thí điểm cổ phần hóa các DNNN. Đến tháng 10/1987, hàng loạt các

xí nghiệp quốc doanh được CPH ở Thượng Hải và các thành phcí khác. Đặc trưng

của quá trình CPH DNNN ở Trung Quốc là:

• Chỉ phát hành cổ phiếu để huy động thêm vốn, không bán vốn hiện có

của Nhà nước, mở rộng huy mô hoạt động của công ty.

• Đa dạng hóa các loại cổ phiếu và các lĩnh vực phát hành cổ phiếu, cổ

phiếu được phát hành ở nhiều lĩnh vực, kể cả các chương trình phúc lợi

xã hội.

Nhằm tạo mọi điều kiện thu hút tối đa mọi nguồn lực (cả trong và ngoài

nước) cho công cuộc xây dựng nền kinh tế, Trung Quốc đã phát hành nhiều loại cổ

phiếu khác nhau, như: cổ phiếu A (bằng nhân dân tệ cho người bản xứ), cổ phiếu B

(bằng ngoại tệ bán cho người nước ngoài-niêm yết tại Thượng Hải hay Thẩm

Quyến), cổ phiếu H (niêm yết ở TTCK Hồng Kông), cổ phiếu N (niêm yết ở TTCK

14

New York). Tất cả các cổ phiếu này đều có cùng mệnh giá, đều được yết g iá bằng

NDT ( nhân dân tệ ), tất cả đều có quyền như nhau trừ một số quyền bảo vệ đối với

cổ phiếu H và cổ phiếu N.

Chính phủ Trung Quốc cho thực hiện thí điểm mua bán chứng khoán dưới

hình thức thị trường không qua quầy trước khi thành lập Sở giao dịch chứng khoán

và xúc tiến mạnh việc CPH các DNNN. Ngay sau đó, các giao dịch trên thị trường

này không đáp ứng được nhu cầu, nên Bộ tài chính phải mở thêm các quầy giao

dịch chứng khoán ngày 26/9/1986, thị trường thứ cấp cũng đã nổi lên ở Thượng hải.

Đến đầu năm 1990, Chính phủ cho phép mở mạng lưới các quầy mua bán lại trái

phiếu Chính phủ trên 60 thành phố iđn trong cả nước, đặc biệt sôi nổi là ở Thẩm

Quyến và Thượng Hải. Giai đoạn này cũng là thời kỳ mở đầu cho sự ra đời các

CTCK Trung Quốc. Vào 19/9/1990, S GDCK Thượng Hải (SSE) ra đời và chính

thức mở cửa vào 19/12/1990. Bên cạnh đó, SGDCK Thẩm Quyến được thành lập từ

năm 1987 trên cơ sở thử nghiệm không có sự phê chuẩn chính thức và nhận được sự

phê chuẩn chính thức của Nhà nước vào 3/7/1991. Ủy ban Giám quản chứng khoán

Trung Quốc (CSRC) là cơ quan quản lý TTCK được thành lập vào tháng 12/J992 để

quản lý toàn bộ TTCK Trung Quốc.

Hiện tại, TTCK Trung Quốc giao dịch 7 loại công cụ tài chính bao gồm: cổ

phiếu A, cổ phiếu B, trái phiếu kho bạc T- Bonds, trái phiếu kho bạc T- Bonds mua

lại (Repo), trái phiếu công ty E- Bond, trái phiếu chuyển đổi và chứng chỉ quỹ đầu

tư chứng khoán. Đến ngày 23/2/2005, SGDCK Thượng Hảì niêm yết chứng chỉ

Quỹ giao dịch tập trung (Exchange Traded Fund- ETF)- SSE50 ETF. SSE50 ETF sẽ

theo sát chỉ số SSE50 bao gồm cổ phiếu của 50 công ty hàng đầu trên SSE. Việc

đưa SSE50 ETF lên niêm yết sẽ tạo ra động lực đổi mới trong lĩnh vực tài chính tại

Trung quốc, tạo ra nhiều sản phẩm tài chính mới và thúc đẩy sự phát triển của thị

trường tài chính. Vấn đề bảo vệ quyền lợi NĐT luôn được cơ quan quản lý thị

trường quan tâm, đến 30/8/2005 Trung quốc đã thành lập Quỹ bảo vệ NĐT chứng

khoán dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn. Hoạt động chính của Quỳ là giải

ngân cho các chủ nợ theo đúng quy trình được luật pháp quy định trong trường hợp

15

các công ty chứng khoán bị đóng cửa, mất khả năng thanh toán hoặc thi hành các

biện pháp hành chính bắt buộc của CSRC như thâu tóm.

Sau khi gia nhập WTO, Trung Quốc đã đáp ứng đầy đủ các cam kết về lĩnh

vực dịch chứng khoán. Đến cuối tháng 12/2005, đã có 4 công ty chứng khoán liên

doanh và 14 công ty quản lý quỹ liên doanh được thành lập. Trung Quốc đã và đang

mở cửa thu hút vốn ĐTNN vào thị trường vốn, tháng 12/2002, Trung quốc đã mở

cửa thị trường cổ phiếu A cho các NĐT có tổ chức nước ngoài đủ tiêu chuẩn (QFI).

Đến cuối năm 2004, đã có 27 tổ chức tài chính nước ngoài đã được cấp giấy phép

QFI với tổng hạn mức đầu tư đạt 3,7 tỷ USD và 11 ngân hàng (gồm 4 ngân hàng

nước ngoài) đã được cấp phép làm ngân hàng ỉưu ký cho QFI. Từ năm 1992, Hội

đồng Nhà nước đã có chỉ thị về tăng cường quản lý vĩ mô đối với TTCK. Kết quả,

TTCK Trung Quốc đã phát triển nhanh chóng cả về quy mô thị trường, xây dựng cơ

sở hạ tầng, khuôn khổ pháp lý và kinh nghiệm thị trường, TTCK là thể chế quan

trọng đối với quá trình phát triển kinh tế Trung Quốc.

1.4.2 Thị trường chứng khoán Singapore

Quầy giao dịch đầu tiên ở Singapore được công ty British East India thành

lập vào nảm 1819. Vào thế kỷ thứ 19 các nhà môi giới chứng khoán đã tập t rung ở

Arcade ở mũi Cliffod để mua và bán cổ phiếu của các cồng ty cao su và thiếc của

Anh, Đến năm 1990, hoạt động mua bán cổ phiếu mới trở thành hoạt động chính ở

Singapore. Năm 1929, Hiệp hội những người môi giới chứng khoán được thành lập

để điều hành hoạt động của các nhà môi giới chứng khoán và để bảo vệ các NĐT.

Năm 1960, một số công ty từ Singapore, Kuala Lumpur, Penang và Ipoh đã cùng

nhau thành lập TTCK Malaysia để cung cấp các phòng giao dịch để các cổ phiếu

được mua và bán theo các mức giá ghi trên bảng. Khi nước Singapore là một phần

của Malaysia, thị trường có tên là TTCK Malaysia nhưng khi Singapore độc lập vào

năm 1965, thị trường đổi tên thành TTCK Malaysia và Singapore. Đến 24/3/1973,

TTCK Singapore dược tách ra và chính thức được thành lập và bắt đầu hoạt động

chính thức với tư cách độc lập vào ngày 4/7/1973. SGDCK là một tổ chức tự quản

16

đối với thực hiện các hoạt động của mình. Mục tiêu của SGDCK Singapore- SGX

được ghi nhận trong điều lệ của tổ chức này, bao gồm:

- Điều hành và quản lý hoạt động kinh doanh môi giới chứng khoán ở

Singapore

- Bảo vệ quyền lợi các thành viên trong SGDCK.

- Ghi nhận các giao dịch giữa các công ty thành viên.

- Cung cấp báo giá các cổ phiếu được giao dịch ỏ sở.

- Cung cấp cho các NĐT dịch vụ và khuyến khích sự quan tâm hơn nữa vào

thị trường chứng khoán nói chung.

- Hợp tác chặt chẽ với Hội đồng công nghiệp chứng khoán và cơ quan quản

lý tiền tệ của Singapore (Monetary Authority of Singapore- MAS).

- Giải thích và thi hành các quy tắc, quy chế của SGDCK và phân xử cho

các công ty thành viên.

- Cung cấp và ban hành các yêu cầu về niêm yết chứng khoán

- Thực hiện chính sách khảo sát thị trường

Trong những năm vừa qua, Singapore đã phát triển và gia nhập vào khu vực tài

chính thứ nhất của Châu Á Thái Bình Dương, với hơn 800 thể chế tài chính cung

cấp đủ loại các dạng dịch vụ tài chính. Niêm yết trên SGX sẽ cho phép các công ty

niêm yết thuận lợi hơn để thâm nhập thị trường. SGX đã tăng cường tính minh bạch

của thị trường, nâng cao năng lực điều hành tổng hợp và quảng cáo quốc tế, cho

phép nhà phát hành và NĐT nhìn nhận được tính không ổn định trong phương thức

quản lý thị trường tài chính của họ. Bên cạnh đó, SGX đang dẫn đầu việc cung câp

thiết bị kỹ thuật trên thế giới với những cồng cụ thuận tiện để gia nhập thị trường,

như tiếp tục mở rộng mạng lưới giao dịch toàn cầu và tăng quy mô thị trường, tính

thanh khoản và thành viên thị trường, tăng hơn tính hiệu quả tính hấp dẫn của thị

trường. Một công ty muốn niêm yết tại SGX phải được sự chấp thuận của Hội đồng

Công nghiệp chứng khoán-SIC và SGXế Các yêu cầu và thủ tục niêm yết đã được

hlnh thành và sửa đổi nhằm dơn giản hóa thỏ tục xin phép và nâng cao tính trung

thực trong hoạt động của các công ty trên thị trường, quy định niêm yết SGX theo

17

định hướng thị trường nên tạo sự linh động cho các doanh nghiệp muốn huy động

vốn tại Singapore SGX được vi tính hóa hoàn toàn bằng hệ thống đặt mua giới hạn

trung tâm- Central Limit Order Book- CLOB. Ngoài các hàng hóa trái phiếu, cổ

phiếu, hợp đồng tương lai, quyền chọn,... SGX đã cho phép các chứng chỉ lưu ký

chứng khoán toàn cầu- GDRs được niêm yết, giao dịch trên thị trường.

Singapore có ba trung tâm giao dịch chứng khoán: Trung tâm chính - SGX

Mainboard kinh doanh phần lớn các SGX; Trung tâm CLOB kinh doanh n hững

chứng khoán theo khu vực chọn lọn và trung tâm Sesdaq kinh doanh cổ phiếu của

những công ty nhỏ. Hiện nay, trên SGX áp dụng công nghệ cao đã đem lại hiệu quả

cao và sự tiện dụng cho việc giao dịch và thanh toán chứng khoán. SGX đã và đang

thực hiện mô hình liến kết song phương và đa phương với nhiều TTCK trong khu

vực và thế giới nên đã tạo sự thuận tiện trong giao dịch. Đề xuất kết nối giao dịch

giữa SGX và SGDCK Malaysia công bố vào tháng 6/2004 sẽ trở thành hiện thực

khi hệ thống giao dịch tại hai nước này đi vào hoạt động. Với tiến trình triển khai hệ

thống giao dịch hiện nay tại 2 SGDCK này; kết nối giao dịch sẽ khuyến khích tham

gia giao dịch chứng khoán niêm yết tại SGDCK Singapore của các NĐT Malaysia

và ngược lại, cho phép các công ty chứng khoán tiếp cận thông tin về giao dịch và

thị trường, cho phép chuyển thẳng lệnh từ trạm thiết bị giao dịch ở một nước lên hệ

thống giao dịch điện tử của SGDCK nước kia. Tính đến tháng 12/2004, SGX có tốc

độ vòng quay vốn là 60,8%, Liên đoàn TTCK thế giđi đã xếp SGDCK Singapore

đứng hàng thứ 9 trong khu vực Châu Á Thái Bình Dương sau Đài Loan, Hàn Quốc,

Thẩm Quyến, Thái Lan, Ấn Độ, Nhật Bản, Thượng Hải và Úc. Chứng khoán được

giao dịch trên SGDCK Singapore gồm: cổ phiếu, trái phiếu Chính phủ, trái phiếu

doanh nghiệp, các chứng khoán dẫn xuất và đặc biệt chứng chỉ lưu ký chứng khoán

toàn cầu- GDRs. Các công ty niêm yết trên SGX gồm công ty trong nước, các công

ty nước ngoài của các nước và các khu vực cố số lượng và giá trị vốn hóa thị trường

tăng trưởng mạnh.

18

1.4.3 Thị trường chứng khoán Hàn Quốc

Vào đầu năm 1950, Chính phủ Hàn quốc phát hành trái phiếu “Kunkuk”

nhằm trang trải các khoản thâm hụt tài chính vào thời điểm này; trái phiếu Chính

phủ Sanup Buhung để phát triển công nghiệp thông qua phương pháp phát hành qua

ngân hàng Hàn Quốc hoặc các tổ chức tài chính có nghĩa vụ mua bắt buộc. Trong

giai đoạn này, SGDCK Hàn Quốc ra đ ời từ ngày 3/3/1956, ban đầu chỉ giao dịch

trái phiếu Chính phủ. Tuy nhiên, đến 15/1/1962 Luật hướng dẫn hoạt động SGDCK

ra đời. Theo đạo Luật này, SGDCK Hàn Quốc được tổ chức như một công ty cổ

phần. Sau khi được tổ chức lại, SGDCK Hàn Quốc đã trải qua một sự bùng nổ về

các hoạt động giao dịch đầu cơ. Song, sự bùng nổ này đã nhanh chóng dẫn đến sự

sụp đổ sở và SGDCK Hàn Quốc đã phải đóng cửa trong 57 ngày sau đó. Tháng

4/1963, Luật chứng khoán và giao dịch chứng khoán nãm 1962 được sửa đổi, trong

đó đã đưa ra các biện pháp hữu hiệu hơn để kiểm soát TTCK.

Theo sửa đổi này, SGDCK Hàn Quốc - KSE được tổ chức lại và trở thành

một đơn vị trực thuộc Chính phủ. Để thúc đẩy sự phát triển của TTCK, tháng

11/1968, Luật thúc đẩy sự phát triển TTCK được thông qua, trong đó khuyến khích

phát hành chứng khoán ra công chứng với các hình thức ưu đãi, đặc biệt là ưu đãi

về thuế và thúc đẩy việc thành lập các công ty chứng khoán, phân phối cổ phiếu.

Trong bối cảnh này, để thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế 5 năm lần 2 (1967 -

1971) Chính phủ hàn Quốc đã tái phát hành trái phiếu từ năm 1968 để xây dựng các

tuyến đường cao tốc ở Seoul. Bên cạnh đó, với sự phục hồi nền kinh tế trong những

năm 1972 đã làm tăng nhanh nhu cầu vốn kinh doanh cho các công ty nhưng các

công ty đã rất khó khăn trong việc vay tiền của các tổ chức tài chính, tín dụng trong

vay ngoài nước, đây là động lực làm cho thị trường trái phiếu công ty phát triển

nhanh với việc giới thiệu hệ thống chào bán công khai. Mặt khác hệ thống Tín thác

đầu tư chứng đã được hình thành, các quy định về hệ thống bảo lãnh toàn bộ đối với

các trái phiếu công ty được phát hành đã làm cho tỷ ưọng thị trường trái phiếu công

ty Hàn Quốc tăng lên rất nhanh.

19

Năm 1980, việc cắt giảm bớt các giới hạn với trái phiếu công ty có bảo lãnh,

áp dụng các thỏa thuận mua lại, thực hiện việc tự định chế đối với việc phát hành

trái phiếu công ty và kỳ phiếu có lãi suất thả nổi-FRN. Đồng thời, để đáp ứng nhu

cầu phát triển thị trường thứ cấp, Nhà nước tiếp tục nâng cấp TTCK Tháng 6/1983,

việc phát hành chứng khoán theo giá thị trường được áp dụng nhằm cải thiện cơ chế

phát hành, gắn kết mối quan hệ chặt chẽ giữa thị trường sơ cấo và thị trường thứ

cấp. Tháng 9/1979 SGDCK Hàn Quốc được công nhận là thành viên của Liên đoàn

quốc tế các SGDCK (FIBV). Tháng 4/1987, hlnh thành thị trường OTC. Tháng

11/1987, tiếp tục cải cách Luật chứng khoán cho phép tư nhân hóa SGDCK Hàn

Quốc sau 25 năm tồn tại thuộc sở hữu Nhà nước. Cấc cổ phiếu được phát hành phải

đáp ứng tiêu chuẩn của Luật chứng khoán, sau khi phát hành có thể giao dịch tại

SGDCK Hàn Quốc hoặc ở thị trường ngoài quầy- OTC.

Trên SGDCK Hàn Quốc có 2 khu vực, các cổ phiếu mới đăng ký sẽ giao

dịch ở khu vực 2, sau đó nếu thoả các yêu cầu cao hơn sẽ được chuyển sang giao

dịch ở khu vực 1. Nhà ĐTNN được phép đầu tư vào chứng khoán hàn Quốc thông

qua Quỹ tín thác đầu tư vào nãm 1981, khi Chính phủ công bố chủ trương về quốc

tế hóa thị trường vốn . Tháng 12/1988, Chính phủ công bố chủ trương từng bước

mỏ cửa TTCK. Tháng 11/1990, các công ty chứng khoán nước ngoài được phép mở

vãn phòng đại diện và thành lập các công ty chứng khoán liên doanh tại Hàn Quốc.

Tháng 1/1992, NĐTNN được phép đầu tư trực tiếp vào cổ phiếu của các công ty

Hàn Quốc. Cơ quan quản lý TTCK Hàn Quốc là ủy ban chứng khoán và giao dịch

chứng khoán-SEC thuộc Bộ tài chính là cơ quan cao nhất trong tổ chức và quản lý

ngành công nghiệp chứng khoán. SEC chịu sự chỉ đạo của Bộ Tài chính, SEC thành

lập ủy ban giám sát chứng khoán - SSB với tư cách là cơ quan điều hành của mìnhể

Vào ngày 21/1/2005, SGDCK Hàn Quốc - KRX là SGDCK duy nhất tại nước này

đã được thành lập theo Luật SGDCK và Hợp đồng tương lai Hàn Quốc. Trên cơ sở

nhằm tăng cường hiệu quả hoạt động TTCK, SGDCK Hàn Quốc- KSE, SGD Hợp

đồng tương lai Hàn Quốc- KOFEX, thị trường cổ phiếu KOSDAQ -thị trường của

các DNV&N, các công ty mới thành lập và Ủy ban KOSDAQ (một tổ chức thuộc

20

Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán Hàn Quốc-KSDA) đă được sát nhập

thành một tổ chức duy nhất là KRX.

Với sự sát nhập này, SGDCK Hàn Quốc có thể cung cấp cho các NĐT tất cả

các dịch vụ có liên quan một cách thuận tiện. Từ ngày 28/3/2005, KRX cho phép

thực hiện giao dịch thoả thuận, giao dịch lô lớn trong giờ nhằm hoàn thiện hơn hệ

thống giao địch thoả thuận, theo hệ thống giao dịch hiện hành chỉ cho phép giao

địch thoả thuận ngoài giờ giao dịch chính thức và giá chứng khoán nằm trong khoản

giá phụ thuộc vào giá đóng cửa, hay được phép biến động trong khoản giá thấp nhất

và giá cao nhất trong ngày. Để quản lý và giám sát TTCK KRX đã áp dụng các biện

pháp nhằm ngăn chặn các giao dịch không công bằng. Sở đang củng cố Hệ thống

theo đõi chứng khoán thời gian thực -Real time StockWatch System để đưa ra các

tín hiệu cảnh báo cho các chi nhánh của các CTCK và Hợp đồng tương lai thành

viên, kể cả các tín hiệu về giao dịch bất thường được phát hiện. Ngày 21/7/2005,

KRX đã giảm phí giao dịch để tiết kiệm chi phí cho các NĐT và giúp các thành

viên cải thiện tình hình tài chính. Mức giảm phí đối với cổ phiếu và hợp đồng tương

lai là 10%.

Ngoài ra, còn giảm phí thành viên cho các thành viên mới và mở rộng hình

thức tham gia thị trường với các thành viên hiện hành, mức giảm phí thành viên cho

các thành viên mới là 2 2% hay mức phí thành viên là 900 tri ệu Won. Với nhiều

chính sách quản lý đổi mới về TTCK đã góp phần đẩy mạnh giao dịch chứng khoán

trên thị trường, cụ thể số lượng NĐTNN là cổ đông lớn (nắm giữ trên 5%) trong 6

tháng đầu nãm đã tăng mạnh, nếu tính theo vốn hóa thị trường thì giá trị cổ phần do

NĐTNN nắm giữ là 32.885 tỷ Won, tăng 3,65% so cùng kỳ năm trước. Mới đây,

KRX và SGDCK Tokyo (TSE) ký Biên bản Dự định về khả năng liên minh trong

việc niêm yết chéo giữa 2 Sở, cho phép thành viên của 2 Sở được gia nhập qua lại

giữa 2 thị trường trên cơ sở kết nôi hệ thông giao địch. Biên bản này là một quyết

định mang tính chiến lược đối với SGDCK Hàn Quốc. Sở kỳ vọng thoả thuận này

sẽ đẩy nhanh việc liên kết giữa KRX với các TTCK Châu Á, góp phần đẩy mạnh sự

tăng trưởng TTCK Hàn Quốc.

21

Bài học kinh nghiệm cho sự phát triển TTCK Việt Nam

Thứ nhất: về chính sách pháp lý, ở các nước cơ quan quản lý và giám sát

TTCK đều là cơ quan của Nhà nước, đại diện cho Nhà nước về quản lý TTCK

thông qua việc ban hành các văn bản pháp luật và điều hành các cơ chế hoạt động

trên TTCK. Khung pháp lý phải bao gồm: Luật chứng khoán, Luật SGDCK văn bản

pháp quy do Chính phủ ban hành, các quy chế hay điề u lệ về chứng khoán và

TTCK do UBCKNN, do SGDCK (TTGDCK ) ban hành. Luật đều được xây dựn g

sau khi TTCK được hình thành, trước mắt nhằm điều chỉnh các quan hệ giao dịch

về chứng khoán và TTCK trong nước, sau đó tiến tới điều chỉnh Luật để TTCK hội

nhập với thị trường các nước khu vực và thế giới, kết nối các SGDCK . Xu hướng

các quy chế về phá t hành, niêm yết và giao dịch chứng khoán phải được đơn giản

hóa về thủ tục, nâng cao tính trung thực của các công ty niêm yết nhằm đảm bảo

tính hiệu quả của thị trường. Luật được xây dựng tập trung về các vấn đề: giám sát

việc phát hành- niêm yết chứng kh oán, giám sát công bố thông tin và các hành vi

giao dịch bị cấm, quản lý các thành viên, các tổ chức tự quản SROs, quy định về

hoạt động đầu tư chứng khoán của các NĐTNN, đặc biệt phải đề cập đến cập đến

các yếu tố bảo vệ quyền lợi các NĐT.

Thứ hai: Hàng hóa chứng khoán được giao dịch trên thị ưường trong giai

đoạn đầu là trái phiếu Chính phủ, nguồn hàng chủ lực của thị trường. Cùng với quá

trình cải cách kinh tế, sắp xếp lại DNNN, CPH DNNN việc phát hành cổ phiếu

ngày càng được mở rộng, đẩy mạnh sự phát tr iển thị trường cổ phiếu, đa dạng hóa

các loại cổ phiếu về mặt số lượng, chủng loại và các lĩnh vực phát hành cổ phiếu.

Cổ phiếu được phát hành ở nhiều lĩnh vực, kể cả các chương trình phúc lợi xã hội

như ở Trung Quốc, cần phải giảm tỷ lệ cổ phiếu của công ty niêm yết do Nhà nước

nắm giữ. Cùng với quá trình quốc tế hóa thị trường vốn , đòi hỏi hàng hóa thị

trường phải được đa dạng hóa hơn, sự xuâ't hiện các công cụ dẫn xuất- Derivatives,

trong danh mục thị trường cần phải có chứng chỉ quỹ đầu tư sẽ tạo ra động lực đổi

mới trong lĩnh vực tài chính, tạo ra nhiều sản phẩm tài chính mới và thúc đẩy sự

phát triển thị trường tài chính.

22

Thứ ba: Sự tham gia của các NĐT có tổ chức đã đẩy mạnh hoạt động giao

dịch chứng khoán trên TTCK, việc tăng cường sự tham gia của các NĐT có tổ chức,

các tổ chức đầu tư chiến lược là cần thiết trong giai đoạn phát triển thị trường.

Ngoài ra, phát triển đội ngũ các nhà môi giới trung gian, tăng quy mô của các công

ty chứng khoán là vấn đề mang tính tất yếu

Thứ tư: Tăng cường hợp tác quốc tế nhằm thu hút NĐTNN, cho phép nước

ngoài thành lập công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ, phát triển các kênh đầu

tư để thu hút các NĐTNN với các sản phẩm đầu tư đa dạng, phong phú, không hạn

chế nghiêm nghặt về tỷ lệ sở hữu cổ phiếu của các NĐTNN, mở Room cho các

NĐT nước ngoài khi đầu tư cổ phiếu. Đối với Trung Quốc, cổ phiếu A được phát

hành bằng đồng nhân dân tệ cho người bản xứ nhưng cách đây 3 n ăm, vào tháng

12/2002, Trung quốc đã mở cửa thị trường cổ phiếu A cho các NĐT có tổ chức

nước ngoài đủ tiêu chuẩn (QFI). Có thể nhận thấy, thu hút các NĐTNN tham gia thị

trường là vấn đề thật cần thiết, chúng ta cần tạo đều kiện cho họ đầu tư vào TTCK

Việt Nam. Đồng thời khuyến khích các công ty niêm yết trong nước phát hành và

niêm yết chứng khoán tại thị trường nước ngoài, xúc tiến việc liên kết TTCK Việt

Nam với TTCK các nước trong khu vực và tiến tới việc kết nối TTCK Việt Nam

với TTCK các nước.

Thứ năm: Áp dụng công nghệ cao vào hệ thống thiết bị giao dịch và thanh

toán chứng khoán (KRX đã áp dụng các biện pháp nhằm ngăn chặn các giao dịch

không công bằng, Sở đang củng cố Hệ thống theo dõi chứng khoán thời gian thực -

Real time Stock Watch System để đưa ra các tín hiệu cảnh báo cho các chi nhánh

của các CTCK và Hợp đồng tương lai thành viên, kể cả các tín hiệu về giao dịch bất

thường được phát hiện). Tiến hành thực hiện mô hình liên kết song phương và đa

phương với nhiều TTCK trong khu vực và thế giới nhằm tạo sự thuận tiện trong

giao dịch.Với tiến trình triển khai việc kết nối các SGDCK, kết nối giao dịch sẽ

khuyến khích các NĐT tham gia giao dịch chứng khoán niêm yết tại các SGDCK,

cho phép các cổng ty chứng khoán tiếp cận thông tin về giao dịch và thị trường.

23

Kết luận chương 1

Các doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh phải luôn luôn xác định các

mục tiêu dài hạn và mục tiêu hàng năm cho mình. Chiến lược kinh doanh chính là

con đường và các bước đi trên con đường đạt đến các mục tiêu đó.

Để xây dựng chiến lược kinh doanh cho doanh nghiệp, chúng ta tuân theo

một quy trình bao gồm: xác định nhiệm vụ kinh doanh, phân tích các yếu tố bên

ngoài, phân tích các yếu tố bên trong, phân tích và lựa chọn chiến lược. Trong đó,

bước đầu tiên có thể được xác định tương đối dễ dàng đối với những doanh nghiệp

đặc thù, ngành nghề kinh doanh được ghi trong giấy phép thành lập, đã hoạt động

trên thương trường sau một thời gian. Trong quá trình xây dựng chiến lược cho

doanh nghiệp, một số công cụ riêng biệt cũng được sử dụng trong những giai đoạn

khác nhau. Ma trận EFE, ma trận hình ảnh cạnh tranh và ma trận IFE được sử dụng

trong giai đoạn nhập vào. Trong giai đoạn kết hợp, các công cụ ma trận SW OT,

SPACE và chiến lược lớn sẽ được sử dụng nhằm xác định nhiều chiến lược khả thi

cho doanh nghiệp lựa chọn. Cuối cùng, để quyết định xem chiến lược nào sẽ được

chọn trong vòng chung kết, người ta sử dụng một công cụ duy nhất là ma trận

QSPM.

Trong phạm vi luận văn này, các vấn đề về xác định nhiệm vụ kinh doanh,

phân tích các yếu tố bên ngoài, phân tích các yếu tố nội bộ của công ty chứng khoán

chứng khoán của các công ty chứng khoán đã niêm yết trên HNX và HSX sẽ được

giải quyết trong chương 2. Chương 3 sẽ giải quyết vấn đề xác định và lựa chọn

chiến lược kinh doanh khả thi và đầy triển vọng nhất cho sự phát triển của công ty

chứng khoán chứng khoán nói riêng và cho thị trường chứng khoán nói chung.

24

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG CỦA CÁC CÔNG TY CHỨNG KHOÁN ĐÃ

NIÊM YẾT TẠI VIỆT NAM

2.1 Giới thiệu khái quát

2.1.1 Về quy mô và hàng hóa của thị trường

Quy mô thị trường có bước tăng trưởng mạnh mẽ, vững chắc, từng bước

đóng vai trò là kênh dẫn vốn trung và dài hạn quan trọng, đóng góp tích cực cho sự

nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước. Trong suốt thời kỳ từ 2000-2005,

vốn hóa thị trường chỉ đạt trên dưới 1% GDP. Quy mô thị trường đã có bước nhảy

vọt mạnh mẽ lên 22,7% GDP vào năm 2006 và tiếp tục tăng lên mức trên 43% vào

năm 2007. Trước biến động của thị trường tài chính thế giới và những khó khăn của

nền kinh tế trong nước, chỉ số giá chứng khoán đã sụt giảm liên tục trong năm 2008

và làm mức vốn hóa thị trường giảm hơn 5 0%, xuống còn 18%. Khi nền kinh tế

trong nước và thế giới bắt đầu hồi phục nhẹ từ quý II/2009, chỉ số giá chứng khoán

đã bắt đầu tăng trở lại cùng với số lượng các công ty niêm yết trên thị trường cũng

gia tăng nhanh chóng. Giá trị vốn hóa thị trường cổ ph iếu tính đến cuối năm 2009

đã đạt 37,71% GDP. Ước tính đến cuối năm 2010 sẽ đạt khoảng từ 40-50% GDP.

Hoạt động phát hành huy động vốn trên TTCK thực tế chỉ mới phát sinh từ

năm 2006 trở lại đây. Trong năm 2006, có 44 công ty cổ phần thực hiện việc chào

bán hơn 203 triệu cổ phiếu và đến năm 2007, hoạt động phát hành mới thực sự bùng

nổ, khi có gần 200 đợt phát hành của 192 công ty và 4 ngân hàng thương mại được

đăng ký với UBCKNN với tổng lượng vốn huy động lên đến gần 40.000 tỷ VND.

Trong năm 2008, do sự s uy giảm của TTCK, tổng số vốn huy động chỉ đạt hơn

14.300 tỷ đồng thông qua hơn 100 đợt chào bán chứng khoán ra công chúng. Thị

trường hồi phục vào năm 2009 đã tạo điều kiện cho hoạt động phát hành qua thị

trường chứng khoán, đặc biệt là phát hành cổ phiếu. Tổng số vốn huy động qua phát

hành cổ phiếu năm 2009 đã tăng hơn 50% so với 2008, đạt 21.724 tỷ đồng. Ngoài

ra, công tác cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước (DNNN) đã được gắn kết với việc

huy động vốn từ công chúng đầu tư, góp phần thúc đẩy nhanh việc sắp xếp khu vực

25

DNNN theo tiến trình cải cách nền kinh tế của Chính phủ và huy động vốn cho

ngân sách nhà nước. Thực tế, việc gắn kết công tác cổ phần hóa DNNN với công

tác tạo hàng cho TTCK là nhân tố chủ đạo quyết định thành công trong việc tạo ra

một nguồn hàng phong phú, góp phần thúc đẩy tăng trưởng quy mô của thị trường.

Hoạt động phát hành trái phiếu qua Sở giao dịch chứng khoán dần trở thành

một kênh huy động vốn quan trọng cho Chính phủ. Dư nợ trái phiếu Chính phủ

(TPCP) tính đến cuối 2009 vào khoảng 16,9% GDP. Các trái phiếu doanh nghiệp

được phát hành chủ yếu theo hình thức phát hành riêng lẻ, do vậy, số trái phiếu

doanh nghiệp được niêm yết trên TTGDCK/SGDCK không nhiều.Tuy nhiên, hoạt

động phát hành của các công ty đại chúng vẫn còn mang tính tự phát, không hoàn

toàn dựa trên nhu cầu sử dụng vốn của doanh nghiệp, làm giảm hiệu quả sử dụng

vốn. Không ít tổ chức phát hành huy động vốn trên TTCK để đầu tư trở lại vào

chứng khoán mà không phải để mở rộng sản xuất kinh doanh, góp phần tạo nên

bong bóng thị trường và rủi ro mất vốn khi thị trường sụt giảm. Hoạt động chào bán

riêng lẻ không có sự điều chỉnh đầy đủ của pháp luật và quản lý của các cơ quan có

thẩm quyền dẫn đến các hành vi lạm dụng, ảnh hưởng đến sự lành mạnh của TTCK.

Bên cạnh đó, việc tuân thủ chào bán ra công chúng phải đăng ký với UBCKNN còn

hạn chế (đặc biệt vào thời kỳ ngay sau khi Luật chứng khoán mới ban hành) đã tạo

nên những rủi ro tiềm ẩn cho TTCK. Hoạt động phát hành TPCP còn nhiều bất cập,

công tác kế hoạch hoá phát hành trái phiếu chưa tốt, cơ chế phát hành trái phiếu còn

nhiều bất cập, chưa có các tổ chức tạo lập thị trường TPCP đúng nghĩa để đảm bảo

thành công cho các đợt phát hành cũng như tạo tính thanh khoản cho thị trường thứ

cấp. Thiếu đường cong lợi suất chuẩn và tổ chức định mức tín nhiệm.

Tổng lợi nhuận năm 2011 của 26 công ty chứng khoán đang niêm yết là -

1.408 tỷ đồng, giảm gần 3.200 tỷ so với năm 2010. SBS là dẫn đầu về mức lỗ còn

HSC có lãi lớn nhất. Với sự suy giảm mạnh của thị trường trong năm 2011, các

công ty chứng khoán lại có thêm một năm “ác mộng” như đã từng xảy ra trong năm

2008. Hiện tại, có 27 công ty chứng khoán đang niêm yết, chiếm ¼ tổng lượng công

ty chứng khoán. Kết quả kinh doanh của các công ty này cũng phần nào thể hiện

26

bức tranh chung của toàn ngành. Tính đến thời điểm thực hiện bài viết này, chỉ duy

nhất Chứng khoán SME chưa công bố kết quả kinh doanh Q4 và cả năm. Các số

liệu dưới đây chỉ gồm kết quả của 26 công ty còn lại.

Hình 2.1: Tổng doanh thu và lợi nhuận của các CTCK niêm yết

( Nguồn: www. cafef.vn)

Tổng doanh thu của 26 CTCK niêm yết trong năm vừa qua đạt 6.259 tỷ

đồng, giảm giảm 2.300 tỷ so với năm 2010. Lợi nhuận trước thuế cũng giảm 3.200

tỷ từ 1.758 tỷ xuống -1.408 tỷ đồng. Mặc dù mang cái tên rất chung chung là

“Doanh thu khác” nhưng đây đang là nguồn thu quan trọng nhất của hầu hết các

công ty chứng khoán. Nó bao gồm các khoản t hu nhập như lãi tiền gửi, cung cấp

các dịch vụ cho nhà đầu tư . Doanh thu từ cung cấp các dịch vụ liên quan chặt chẽ

với hoạt động môi giới đều dựa trên hoạt động giao dịch của khách hàng.

27

Hình 2.2: Cơ cấu doanh thu năm 2011 của các CTCK niêm yết

( Nguồn: www. cafef.vn)

Qua biểu đồ trên có thể thấy Doanh thu khác chiếm ½, Doanh thu tự doanh chiếm

1/3, Doanh thu môi giới chiếm 1/10 tổng doan h thu của các CTCK. Doanh thu môi

giới của SSI dẫn đầu với 96 tỷ đồng, đứng thứ 2 là HSC với 91 tỷ đồng

và BVS đứng thứ 3 với 65 tỷ đồng.Trong năm 2011, HSC đã vươn lên đứng thứ 2

về thị phần môi giới tại cả HoSE và HNX. SSI từ thứ 2 lên vị trí dẫn đầu tại HoSE

Hình 2.3: So sánh tổng lợi nhuận của các CTCK lãi và tổng lỗ của các CTCK

và đứng 7 tại HNX.

( Nguồn: www.cafef.vn)

28

Về lợi nhuận, ngoại trừ SME chưa có kết quả kinh doanh, có 10 công ty báo

lãi với tổng lợi nhuận trước thuế là 816 tỷ đồng. Phía ngược lại có 16 công ty báo lỗ

với tổng mức lỗ trước thuế là 2.234 tỷ đồng. Năm 2010, trong số 26 công ty trên chỉ

có 4 công ty báo lỗ với tổng mức lỗ 340 tỷ đồng (trong đó riêng KLS lỗ 173 tỷ

đồng). HSC là quán quân lợi nhuận, đạt 237 tỷ đ ồng, tăng 9 tỷ so với năm 2010. Ba

công ty khác có lợi nhuận trên 100 tỷ gồm KLS (184,5 tỷ), Agriseco (132 tỷ) và SSI

(126,6 tỷ). KLS lãi lớn không gây ngạc nhiên khi công ty đang có khoản tiền mặt

khổng lồ đi gửi tiết kiệm (tiền và tương đương tiền đến cuối năm là 1.833 tỷ đồng).

Với SSI, việc đưa 3 công ty Aquatex Bến Tre (ABT), Hùng Vương (HVG) và Pan

Pacific (PAN) thành công ty liên kết đã giúp công ty thoát lỗ. Trong khi LNTT của

riêng công mẹ là -59 tỷ đồng thì lợi nhuận hợp nhất lại đạt hơn 126 tỷ đồng. Năm

2010, lợi nhuận của SSI đạt 903 tỷ đồng – bỏ xa so với các công ty khác.

Nhìn chung, phần lớn những công ty lỗ lớn là những công ty có tỷ trọng hoạt

động tự doanh lớn, phải trích lập dự phòng giảm giá chứng khoán nhiều. Vì vậy,

nếu thị trường tốt lên trong năm 2012 thì có thể hoàn nhập dự phòng và có lãi lớn.

Có 3 công ty đã lỗ liên tiếp 2 năm 2010 -2011 là Chứng khoán Bảo Việt (BVS),

Chứng khoán Hải Phòng (HPC) và Chứng khoán Sao Việt (SVS). Nếu tiếp tục lỗ

trong năm nay thì các công ty sẽ rơi vào diện bị hủy niêm yết bắt buộc.

2.1.2 Về niêm yết và giao dịch chứng khoán

Năm 2000, với 02 công ty niêm yết khi đưa TTGDCK TP.HCM vào hoạt

động, TTCK đã có mức tăng trưởng nhanh về giá do nguồn cung hàng hóa khan

hiếm, chỉ số VN Index liên tục tăng và đạt tới đỉnh điểm là 571,04 điểm ngày

25/6/2001. Sau đó, thị trường đã liên tục sụt giảm trong suốt 3 năm sau đó, trước

khi tăng mạnh trở lại vào cuối năm 2003. Năm 2005, sau khi TTGDCK Hà Nội đi

vào hoạt động, tổng số các công ty niêm yết trên cả hai thị trường là 44 công ty với

tổng giá trị niêm yết là 4,94 nghìn tỷ đồng. Tuy nhiên, nhìn chung, giai đoạn 2000-

2005 là giai đoạn hoạt động khá trầm của TTCK Việt Nam.

29

Kể từ năm 2006 đến nay, TTCK Việt Nam bắt đầu khởi sắc và đã có bước

tăng trưởng mạnh mẽ cả về số lượng công ty niêm yết lẫn doanh số giao dịch. Tính

đến cuối năm 2009, đã có 541 doanh nghiệp niêm yết cổ phiếu trên cả hai SGDCK

và 4 chứng chỉ quỹ đại chúng niêm yết, với tổng giá trị niêm yết đạt 127,489 nghìn

tỷ đồng, tăng 66,5 lần so với cuối năm 2005. Tổng giá trị vốn hóa thị trường tính tại

thời điểm ngày 31/12/2009 ước đạt 620,551 ngàn tỷ đồng tương đương với gần 38%

GDP cả năm 2009.

Thị trường chứng khoán đã có sự tăng trưởng không chỉ về quy mô niêm yết

mà cả về tính thanh khoản của thị trường. Nếu như năm 2005, bình quân có 667.600

cổ phiếu được giao dịch một phiên, thì năm 2006, con số này tăng lên 2,6 triệu đơn

vị (tăng 3,93 lần), tiếp tục tăng lên 9,79 triệu và 18,07 triệu trong hai năm sau đó.

Tốc độ luân chuyển thị trường trong giai đoạn này liên tục tăng từ 0.43 lần (năm

2006) lên 0.64 lần (năm 2007), 0.68 lần (năm 2008) và ước đạt 1.13 lần (năm

2009).

Giai đoạn 2006 -2009 cũng chứng kiến những kỷ lục của TTCKVN. Tháng

3/2007, các chỉ số chứng khoán đạt được mức cao nhất. VNIndex đạt mức 1,170.67

điểm và HASTC-Index đạt 459.36 điểm. Trong khi đó, xét về khối lượng giao dịch,

tháng 5/2009 là tháng có khối lượng giao dịch lớn nhất, bình quân có 77 triệu cổ

phiếu được giao dịch mỗi phiên, với giá trị đạt 2.270,57 tỷ đồng.Đồng thời, với sự

mở rộng của các thị trường chính thức, có sự quản lý với số lượng ngày càng lớn

các tổ chức đăng ký niêm yết, đăng ký giao dịch là sự thu hẹp của thị trường tự do

(thị trường OTC). Mặc dù còn nhiều loại cổ phiếu giao dịch trên thị trường OTC,

chủ yếu từ các DNNN cổ phần hóa, tuy nhiên, tính thanh khoản của thị trường này

trong năm 2009 đã sụt giảm rõ rệt.

Ngoài ra, nhằm từng bước hoàn chỉnh cấu trúc thị trường, mở rộng thị trường

có tổ chức, có sự quản lý của Nhà nước, từng bước thu hẹp thị trường tự do, hệ

thống giao dịch UpCom trên SGDCK Hà Nội – hệ thống giao dịch cho các chứng

khoán của công ty đại chúng chưa niêm yết – cũng đã được đưa vào vận hành vào

ngày 24/6/2009. Cuối 2009, đã có 34 cổ phiếu được giao dịch trên hệ thống Upcom

30

với tổng giá trị giao dịch đạt gần 540 tỷ đồng. Giá trị thị trường ngày 31/12/2009

đạt 4.075 tỷ đồng.

Trong giai đoạn 2000-2002, TPCP là hàng hóa niêm yết chủ đạo trên

SGDCK Tp.HCM, tuy nhiên, số lượng không nhiều (40 mã). Trong giai đoạn này,

TPCP tương đối kém thanh khoản, giá trị giao dịch bình quân cũng rất thấp, với

khoảng 2% giá trị TPCP niêm yết. Giai đoạn 2004-2007, giá trị trái phiếu niêm yết

so với GDP tăng đáng kể, lên tới 11,3% GDP, đồng thời, nhiều quy định mới được

áp dụng nhằm thúc đẩy giao dịch trái phiếu như: không giới hạn tỷ lệ nắm giữ đối

với trái phiếu của các tổ chức, cá nhân nước ngoài; bỏ biên độ dao động giá; cơ chế

giao dịch thỏa thuận; rút ngắn thời gian thanh toán T+1. Vì vậy, tính thanh khoản

của thị trường cũng tăng dần. Trong thời gian gần đây, do biến động của lãi suất,

việc phát hành TPCP không được như mong muốn, dẫn đến tỷ lệ giá trị niêm yết so

với GDP giảm xuống và chỉ còn khoảng 10,81% vào cuối năm 2009. Tuy nhiên,

nếu so sánh với tổng dư nợ trái phiếu phát hành là 16,9% GDP thì vẫn còn một

lượng khá lớn trái phiếu chưa được đưa vào niêm yết và giao dịch trên các SGDCK.

Số trái phiếu này phần lớn là trái phiếu doanh nghiệp phát hành trong thời gian gần

đây.

Trước năm 2006, TPCP được giao dịch đồng thời tại HOSE và HNX. Tuy

nhiên, từ ngày 24/9/2009, hệ thống giao dịch TPCP chuyên biệt với gần 30 thành

viên, trong đó, có nhiều ngân hàng thư ơng mại và các công ty chứng khoán lớn đã

chính thức hoạt động. Hệ thống này tách biệt khỏi hệ thống giao dịch cổ phiếu và

với nhiều đặc điểm mới, được phát triển phù hợp với các đặc thù của giao dịch trái

phiếu đã khắc phục một số hạn chế của hệ thống giao dịch trái phiếu trước đây.

Mặc dù đã có những bước phát triển nhảy vọt nhưng thị trường giao dịch cổ

phiếu còn nhiều biến động và hạn chế về tính thanh khoản đặc biệt khi thị trường có

dấu hiệu suy giảm. Bên cạnh đó, hàng hóa niêm yết trên TTCK chưa đa dạng, chất

lượng chưa cao, chưa đáp ứng nhu cầu đầu tư và phòng ngừa rủi ro của nhà đầu tư

(chưa có các sản phẩm phái sinh, các sản phẩm đầu tư tập thể). Các dịch vụ tiện ích

cho nhà đầu tư trên thị trường còn nghèo nàn (chưa có nghiệp vụ bán khống, vay ký

31

quỹ, bán trước ngày hoàn thất giao dịch), tính minh bạch của thị trường chưa đáp

ứng nhu cầu của công chúng đầu tư.

2.1.3 Về hệ thống cơ sở nhà đầu tư

Số lượng các nhà đầu tư tham gia TTCK ngày càng đông đảo. Số lượng nhà

đầu tư cá nhân và tổ chức, trong nước và nước ngoài đã gia tăng đáng kể. Từ

khoảng gần 3000 tài khoản nhà đầu tư tham gia khi mới mở cửa thị trường vào năm

2000, tính đến nay đã có trên 90.000 tài khoản giao dịch, trong đó số nhà đầu tư tổ

chức trong nước là 2.662, số nhà đầu tư cá nhân trong nước là 807.558, số nhà đầu

tư nước ngoài là hơn 13.000 nhà đầu tư.

Tuy nhiên, hệ thống nhà đầu tư của chúng ta chưa đa dạng, cấu trúc cầu đầu tư hiện

tại chưa bảo đảm sự tăng trưởng một cách bền vững. Hệ thống nhà đầu tư tổ chức

chưa phát triển làm hạn chế sự phát triển của TTCK mà đặc biệt là thị trường TPCP.

Hệ thống các tổ chức kinh doanh, dịch vụ chứng khoán phát triển nhanh về

quy mô và năng lực nghiệp vụ, với hệ thống mạng lưới chi nhánh , phòng giao dịch

trải khắp các tỉnh, thành phố lớn trong cả nước, góp phần giúp công chúng đầu tư

tiếp cận dễ dàng hơn với TTCK. Khi thị trường bắt đầu đi vào hoạt động, toàn thị

trường mới chỉ có 7 công ty chứng khoán và cho đến tận năm 2004 vẫn chưa có một

công ty quản lý quỹ nào. Sau 10 năm hoạt động, tính đến thời điểm hiện tại, đã có

105 công ty chứng khoán và 46 công ty quản lý quỹ đang hoạt động tại Việt Nam.

Số thành viên lưu ký của Trung tâm Lưu ký Chứng khoán (TTLKCK) là 122 thành

viên, trong đó, có 8 ngân hàng lưu ký và 12 tổ chức mở tài khoản trực tiếp.

Số lượng người hành nghề tăng nhanh, phù hợp với sự tăng trưởng của các

Công ty chứng khoán. Từ năm 2007 đến 2009 đã có gần 8400 người hành nghề

được cấp chứng chỉ. Số lượng công ty quản lý quỹ gia tăng nhanh kể từ năm 2006

trở lại đây (năm 2005 mới chỉ có 6 công ty quản lý quỹ thì đến cuối 2009 đã có 47

công ty được cấp phép hoạt động). Nhìn chung, hoạt động kinh doanh của các Công

ty quản lý quỹ là không đồng đều và đang có sự phân hóa rõ rệt. Hiện nay, mới chỉ

có 33/46 Công ty đã triển khai hoạt động quản lý tài sản, trong đó, mới có 14 công

ty huy động được quỹ.

32

Tuy nhiên, số lượng các tổ chức kinh doanh và cung cấp dịch vụ cho TTCK

tăng quá nhanh, với năng lực về vốn và chuyên môn còn hạn chế , tiềm ẩn rủi ro hệ

thống và chưa tương xứng với hiệu quả hoạt động chung của thị trường. Nên ủy ban

chứng khoán sẽ kiểm tra định kỳ về an toàn tài chính và khả năng thanh toán của

các công ty chứng khoán, đặc biệt là các công ty chứng khoán có vốn góp từ ngân

hàng, các tập đoàn nhà nước, các doanh nghiệp bảo hiểm. Cơ quan này cũng tổ

chức thanh tra, kiểm tra định kỳ các công ty quản lý quỹ, tập trung thanh tra kiểm

tra về giám sát tuân thủ, quản lý tài sản của khách hàng nhằm nhăn ngừa xung đột

lợi ích, bảo vệ tài sản của khách hàng.Đối với thao túng thị trường và giao dịch nội

gián, Ủy ban Chứng khoán sẽ sớm nghiên cứu xây dựng cơ chế phối hợp chính thức

giữa Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhà nước, Bộ Bưu chính viễn thông, Bộ Công an

để hợp tác và trao đổi thông tin nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả của công tác thanh

tra và xử lý vi phạm trên thị trường chứng khoán.

2.1.4 Về tổ chức thị trường

Mặc dù việc tái cấu trúc lại thị trường bước đầu được thực hiện để khắc phục

sự thiếu đồng bộ và tạo sự phân định của thị trường, nhưng đây vẫn là hạn chế lớn

nhất của TTCK Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Về cơ cấu tổ chức, việc tách các

SGDCK và TTLKCK trở thành pháp nhân độc lập khỏi UBCKNN đã đạt được kết

quả nhất định trong việc tách bạch chức năng quản lý nhà nước trong hoạt động

chứng khoán và chức năng tổ chức vận hành TTCK.

Việc phân chia thị trường tập trung thành hai thị trường bộ phận với cùng một

phương thức giao dịch dựa trên các điều kiện niêm yết về lợi nhuận và vốn điều lệ

trong giai đoạn vừa qua đã góp phần quan trọng mở rộng thị trường có tổ chức, phát

huy tính năng động của các TTGDCK/SGDCK trong việc thu hút các doanh nghiệp

vào niêm yết, đăng ký giao dịch. Tuy nhiên, mô hình này đã và đang làm tăng chi

phí xã hội, chưa phù hợp với xu thế quốc tế là sáp nhập, hợp nhất để tăng sức cạnh

tranh và gây khó khăn cho công tác phát triển chiều sâu để khai thác tối đa hệ thống

công nghệ và đa dạng hóa các loại hình dịch vụ, sản phẩm, đáp ứng nhu cầu khác

nhau của thị trường.

33

Thị trường giao dịch cổ phiếu chưa niêm yết mới được hình thành dưới hình

thức hệ thống giao dịch Upcom, chưa phát huy được vai trò tạo lập thị trường theo

kiểu thị trường phi tập trung. Ngoài ra, số lượng cổ phiếu đưa vào giao dịch so với

số lượng công ty đại chúng chiếm tỷ trọng quá thấp và thiếu hấp dẫn đối với doanh

nghiệp cũng như công chúng đầu tư. Hiện tại, vẫn còn tồn tại một bộ phận thị

trường cổ phiếu được đăng ký với TTLKCK nhưng chưa có cơ chế giao dịch và

chuyển quyền sở hữu.

2.2 Phân tích các yếu tố bên ngoài ảnh hưởng đến công ty chứng khoán

2.2.1 Môi trường kinh tế

Hoạt động của công ty chứng khoán thương mại luôn luôn gắn bó chặt

chẽ với sự vận hành của nền kinh tế. Trong suốt 10 năm liên tục từ 2000 đến 2010,

nền kinh tế Việt Nam đạt tốc độ tăng trưởng cao và ổn định, tăng trưởng GDP qua

các năm đều đạt mức cao, cụ thể:

Hình 2.4: Tăng trưởng GDP qua các năm

( Nguồn: Báo cáo ngành của WSS)

Tuy nhiên, thu nhập bình quân đầu ngưới còn quá thấp so với khu vực và thế

giới. Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 5 năm 2006-2010 có vai trò đặc biệt quan

trọng trong việc thực hiện thắng lợi Chiến lược phát triển kinh tế xã hội 10 năm

2001-2010 của Đảng và Nhà nước. Giai đoạn 2006-2010 mang đặc điểm nổi bật là

tiến trình hội nhập quốc tế của Việt Nam sẽ trở nên sâu rộng hơn, quyết liệt hơn và

34

nhanh chóng hơn. Trong năm tới, Việt Nam sẽ hội nhập đầy đủ vào Khu vực mậu

dịch tự do ASEAN (AFTA), tiếp tục thực hiện lộ trình cam kết trong Hiệp định

thương mại Việt Nam Hoa Kỳ (BTA), Việt Nam cũng đặt mục tiêu gia nhập WTO

trong năm 2012. Tiến trình hội nhập sẽ có ảnh hưởng sâu sắc đến các doanh nghiệp,

các công ty chứng khoán, các nhà quản lý, các tầng lớp người lao động và hầu như

ảnh hưởng đến mọi mặt của đời sống kinh tế xã hội.

Dựa theo kinh nghiệm của các nước khác, việc mở cửa thị trường theo cam

kết WTO về lĩnh vực chứng khoán của Việt Nam sẽ thúc đẩy cạnh tranh. Cam kết

WTO đặt ra 2 giai đoạn tự do hóa thị trường chứng khoán. Giai đoạn 1 đã hoàn tất

năm 2007 bằng việc cho phép các công ty chứng khoán nước ngoài liên doanh với

công ty chứng khoán trong nước (nước ngoài góp vốn tối đa 49% trong liên doanh).

Giai đoạn 2 sẽ diễn ra từ tháng 1/2010 với việc cho phép công ty chứng khoán

100% vốn nước ngoài được thành lập và hoạt động tại Việt Nam. Trước hết, chúng

tôi sẽ xem xét tác động việc cho phép thành lập liên doanh đối với thị trường chứng

khoán trong nước, đặc biệt là cạnh tranh với các công ty trong nước. Sau đó, chúng

tôi sẽ xem xét những cơ hội và thách thức dự kiến đối với các công ty trong nước

khi các công ty chứng khoán 1 00% vốn nước ngoài được phép hoạt động tại Việt

Nam theo giai đoạn 2.

2.2.2 Môi trường văn hóa, xã hội, địa lý

Thực hiện đường lối đổi mới, trong những năm qua, môi trường đầu tư của

Việt Nam đã có nhiều biến đổi theo hướng ngày càng thông thoáng, bình đẳng, hấp

dẫn hơn đối với các nhà đầu tư. Đặc biệt, khi Luật Doanh nghiệp chung được ban

hành, mở ra một sân chơi chung đối với tất cả các chủ đầu tư, không phân biệt

nguồn vốn chủ sở hữu, thành phần kinh tế, không phân biệt chủ đầu tư trong nước

và nước ngoài đã tạo ra một khuôn khổ pháp lý thông thoáng cho các chủ đầu tư.

Tập quán sử dụng tiền mặt còn rất phổ biến trong xã hội Việt Nam, đa số

người dân thích nhận tiền mặt và chi trả bằng tiền mặt thay vì sử dụng các tiện tích

công ty chứng khoán hay khác đi đó là văn hóa giao dịch bằng tiền mặt. Điều này

vừa cho thấy những khó khăn trong việc thuyết phục người dân sử dụng dịch vụ

35

công ty chứng khoán, vừa cho thấy thị trường còn rất nhiều tiềm năng chưa khai

thác như giao dịch ký quỹ, bán khống, cầm cố và ứng trước tiền bán chứng khoán.

Tâm lý bầy đàn hay hành vi bầy đàn là xu hướng những cá nhân bắt chước

hành động (dù hành động đó hợp lý hay vô lý) của một nhóm lớn hơn, đặc biệt là

trong những hoàn cảnh mà có rất ít thời gian dể suy nghĩ đưa ra quyết định. Cũng

giống như hành động của một đàn động vật, hành động hoảng sợ của một con có thể

làm cả đàn dẫm đạp lên nhau bỏ chạy, thì hành động bầy đàn của con người có thể

dẫn tới sự sụp đổ của cả thị trường. Lý do của tâm lý bầy đàn có thể là lập luận cho

rằng khó mà một nhóm như vậy có thể sai. Sau cùng, ngay cả khi nhà đầu tư tin

rằng quyết định, ý kiến là dúng hay sai, nhà đầu tư vẫn hành động theo bầy, vì tin

rằng có lẽ họ biết điều gì đó mà mình không biết, đặc biệt là khi nhà đầu tư có ý

kiến thức. Một lý do khác là sức ép khi tham gia một nhóm nào đó. Và để được

chấp nhận là thành viên thì tốt nhất là hành động theo nhóm.

Bầy đàn theo thông tin: Nhà đầu tư có thể theo dõi hành động của nhà đầu tư

khác nhưng không thể biết rằng họ có nắm giữ thông tin bí mật gì không. Ngay cả,

khi những cá nhân có trao đổi với nhau thì vẫn có những hoài nghi, và họ giám sát

hành động thay vì chỉ bằng lời nói. Bằng cách giám sát, họ sẽ suy tính và đưa ra

quyết định riêng của mình. Trình độ dân trí và sự hiểu biết của người dân về hệ

thống công ty chứng khoán còn hạn chế cũng là yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến hoạt

động công ty chứng khoán. Bằng chứng cụ thể là việc nhà chỉ nghe một vài tin đồn

thiếu cơ sở (Tổng giám đốc SSI bỏ trốn) đã bán chứng khoán của SSI ồ ạt đã gây

nên “sự kiện SSI” vào ngày 13/03/2008 sau khi tin đồn được đính chính thì chứng

khoán tăng trần 3.500đ lên 83.000đ. Tương tự tin đồn cũng xuất hiện ở các công ty

chứng khoán VND; APEC … làm ảnh hưởng đến thông tin minh bạch trên thị

trường.

2.2.3 Môi trường chính trị, pháp luật

Môi trường pháp luật đang trong quá trình hoàn thiện dần, tuy nhiên, còn

nhiều yếu tố bất ổn như: sự thay đổi luật pháp thường là nhanh chóng và thiếu quan

tâm đến ý kiến các doanh nghiệp, luật pháp được thiết kế không chặt chẽ dẫn đến

36

tình trạng diễn giải luật pháp tùy tiện, tùy thuộc nhiều vào cán bộ hành xử, chi phí

không chính thức cho các giao dịch kinh doanh là rất lớn.

Uỷ ban chứng khoán Nhà nước và Bộ Tài chính ban hành một số giải pháp,

để tạo lập môi trường đầu tư giá trị. Như nâng tiêu chuẩn niêm yết của sàn HOSE,

sàn HNX, nhằm thanh lọc bớt những loại hàng hóa kém chất lượng, giảm rủi ro cho

các NĐT mới, NĐT chưa có kinh nghiệm. Việc phát hành chứng khoán ra công

chúng phải thực hiện bảo lãnh bắt buộc (có thể ở tỷ lệ 30% ), nhằm tăng cường

trách nhiệm của tổ chức tư vấn. Tránh tình trạng nhà đầu tư phải mua chứng khoán

phát hành với giá quá cao, hay cổ phiếu bị làm giá... Môi trường pháp luật còn nặng

tư duy pháp lý theo hướng hình sự hoá hoạt động công ty chứng khoán, tín dụng,

làm ức chế khả năng sáng tạo và năng động cùa các nhà quản trị và điều hành, nhất

là ở các công ty chứng khoán Việt Nam.

2.2.4 Môi trường công nghệ

Công nghệ thông tin tại Việt Nam đang phát triển với tốc độ chóng mặt. Các

ứng dụng của công nghệ thông tin trong đời sống và kinh doanh bắt đầu trở nên phổ

biến như: các trang web giới thiệu sản phẩm, giao dịch qua thư điện tử, gửi hình ảnh

qua đường truyền ADSL, …Tuy nhiên, trình độ phát triển của thương mại điện tử

còn rất sơ khai, khuôn khổ pháp lý cho các giao dịch điện tử chưa ra đời, tập quán

và văn hóa sử dụng máy tính chưa được phổ biến.

Hệ thống công ty chứng khoán Việt Nam trong những năm gần đây rất tích

cực đầu tư vào công nghệ như: hệ thống chuyển tiền điện tử liên thông giữa các

công ty chứng khoán với nhau; giữa nhà đầu tư với công ty chứng khoán và kết hợp

tài khoản chứng khoán vời tài khoản thanh toán cá nhân tại ngân hàng. Công ty

chứng khoán cho phép thanh toán tiền cho người nhận trong thời gian vài giây, hệ

thống máy ATM cho phép phục vụ tự động 24/24 các các ngân hàng và hệ thống

SWIFT thanh toán toàn cầu, … Có thể nói, trình độ công nghệ của ngành công ty

chứng khoán thuộc nhóm cao cấp và hiện đại nhất của nền kinh tế, tuy nhiên, khả

năng ứng dụng trong đời sống cũng còn hạn chế do không t hể thoát ra khỏi môi

trường công nghệ chung ở trình độ thấp của cả nền kinh tế.

37

Dịch vụ đặt lệnh mua bán chứng khoán qua Internet và dịch vụ đặt lệnh mua

bán chứng khoán qua tin nhắn SMS là các dịch vụ dựa trên nền tảng công nghệ mới

nhất hiện nay. Những dịch vụ cung cấp hiện đang là một giải pháp tối ưu về công

nghệ, tạo ra một phương thức mới để các nhà đầu tư tiếp cận với sàn CK: Dịch vụ

của online cho phép khách hàng mở tài khoản; theo dõi số dư tài khoản; đặt lệnh

mua; bán trực tuyến hoặc qua tin nhắn SMS. Khi sử dụng các dịch vụ trên, khách

hàng được đảm bảo tỷ lệ giao dịch thành công tối đa, không bị nghẽn mạng khi truy

cập hệ thống phục vụ của các công ty chứng khoán.

2.2.5 Môi trường cạnh tranh

Hệ thống công ty chứng khoán thương mại Việt Nam được chia ra 2 nhóm

căn cứ theo tính chất sở hữu, bao gồm: Các công ty chứng khoán cổ phần; các công

ty chứng khoán trách nhiệm hữu hạn. Trong hệ thống công ty chứng khoán cổ phần

lại được chia ra 3 phân nhóm căn cứ theo quy mô tổng nguồn vốn và vốn điều lệ:

nhóm các công ty chứng khoán có quy mô lớn gồm: SSI, SBS,KLS, HSC và các

công ty có tổng nguồn vốn vào khoảng trên 1.000 tỷ đồng; nhóm các công ty chứng

khoán nhỏ hơn gồm các công ty chứng khoán như: VIT, Trường Sơn, Hồng Bàng,

Hà Thành, …có mức vốn điều lệ dưới 100 tỷ và nhóm các công ty chứng khoán có

vốn điều lệ 100 – dưới 1.000 tỷ như các công ty chứng khoán: SME, ORS,

HBS,APG, …Theo báo cáo thị phần của các công ty chứng khoán trong thời gian

qua các công ty có vốn điều lệ trên 1.000 tỷ chiến 49 – 50% thị phần môi giới. Để

đánh giá tổng quan về tình hình và thực thi các chiến lược nên công ty chứng khoán

( CTCK ) của các công ty chứng khoán niêm yết trên Sở được đại diện như một

công ty độc lập để phân tích – so sánh với các công ty chứng khoán cùng chức

năng.

Nếu xác định đối thủ cạnh tranh căn cứ vào tính chất đa dạng của hoạt động

nghiệp vụ và quy mô vốn thì đối thủ cạnh tranh chủ yếu của CTCK được xác định

là: SSI, SBS và KLS . Tuy nhiên, do hoạt động nghiệp vụ của CTCK rất đa dạng và

mang tính đặc trưng của 1 nhóm công ty nên trên bất cứ một sản phẩm tài chính nào

thì các công ty chứng khoán khác, kể cả các công ty có vốn điều lệ nhỏ cũng đều là

38

đều là những đối thủ cạnh tranh rất đáng kể. Dưới đây là bảng so sánh các chỉ tiêu

tài chính của yếu của CTCK so với SSI, SBS và KLS. ( Tham khảo phụ lục 01).

Mức rủi ro do tập trung của CTCK là cao hơn hẳn SSI và SBS thông qua chỉ

số ROE: Tỷ lệ nợ xấu của CTCK do quá khứ để lại nên rất cao, gấp 10 lần các công

ty chứng khoán cạnh tranh, điều này làm tăng chi phí sử dụng vốn của CTCK. Tuy

nhiên , tỷ lệ ROE lại cao hơn hẳn. Điều này cho thấy khả năng sinh lợi của CTCK là

rất lớn. Nếu CTCK xử lý xong các khoản khấu trừ nhằm giảm chi phí tài chính thì

ROE của CTCK sẽ còn cao hơn nữa. Hơn nữa, l ợi nhuận bình quân của CTCK

(mức lợi nhuận hiện tại chia cho 27 công ty niêm yết) thì mức lợi nhuận của CTCK

nhỏ hơn SSI; SBS; KLS nên phần lớn các thành viên trong CTCK sẽ thuộc nhóm

các công ty vừa và nhỏ.

2.2.6 Đánh giá Cơ hội, Thách thức

Từ các yếu tố của môi trường bên ngoài như trên, CTCK đang đứng trước những

cơ hội và thách thức như sau:

Đánh giá cơ hội (O)

a. Cơ hội hợp tác với các công ty chứng khoán nước ngoài, học hỏi kinh

nghiệm quản lý, nâng cao trình độ nghiệp vụ.

b. Mở cửa thị trường tài chính tạo cơ hội cho CTCK tiếp nhận các nguồn tài

chính, đầu tư từ các tập đoàn tài chính nước ngoài, tái cấu trúc công ty chứng

khoán theo chuẩn mực quốc tế, phù hợp với quá trình hội nhập.

c. Tiềm năng của thị trường tài chính phục vụ dân cư và doanh nghiệp còn

rất lớn, khi thị trường dịch vụ tài chính mở cửa, áp lực cạnh tranh sẽ thúc đẩy

các công ty chứng khoán trong nước không ngừng tự đổi mới mình.

d. Tập quán, thói quen sử dụng các tiện ích công ty chứng khoán của người

dân đang bắt đầu hình thành và sẽ ngày càng rõ nét khi nhiều sản phẩm công ty

chứng khoán hiện đại được du nhập vào Việt Nam.

e. Các dòng tư bản từ nước ngoài dưới hình thức đầu tư gián tiếp (FPI – Foreign

Portfolio Investment) có khả năng chảy mạnh vào Việt Nam thông qua hệ thống

39

công ty chứng khoán sau khi Việt Nam mở cửa hoàn toàn thị trường dịch vụ

công ty chứng khoán theo các cam kết song phương và đa phương đã ký.

Đánh giá nguy cơ / thách thức (T)

a. Nguy cơ đối với khách hàng của công ty chứng khoán: quá trình hội nhập làm

gia tăng nguy cơ phá sản của các khách hàng truyền thống do suy giảm khả năng

cạnh tranh trong lộ trình cắt giảm hàng rào bảo hộ nhập khẩu, từ đó, làm suy yếu

tình hình tài chính của công ty chứng khoán.

b. Thách thức trực tiếp đối với công ty chứng khoán: quá trình mở cửa th ị

trường tài chính cho các công ty chứng khoán nước ngoài gia nhập thị trường tài

chính trong nước làm các công ty chứng khoán trong nước, trong đó có CTCK,

phải cạnh tranh đối với các đối thủ có ưu thế hơn hẳn về năng lực tài chính, trình

độ công nghệ, trình độ quản trị kinh doanh.

c. Năng lực tài chính của công ty chứng khoán quá nhỏ so với các đối thủ cạnh

tranh và so với yêu cầu phát triển trong môi trường hội nhập. Tỷ lệ nợ xấu còn

cao hơn rất nhiều so với chuẩn mực quốc tế làm tăng gánh nặng chi phí cho hoạt

động của công ty chứng khoán.

d. Trình độ quản trị, điều hành, văn hoá ứng xử theo các nguyên tắc thị trường

và chuẩn mực quốc tế của công ty chứng khoán còn rất yếu, chưa bắt kịp yêu

cầu của thời kỳ mới.

e. Cơ cấu sản phẩm dịch vụ chưa đa dạng, cò n quá nặng về sản phẩm truyền

thống là cho vay, bảo lãnh, các sản phẩm phi tín dụng chưa phát triển mạnh.

f. Thách thức do tính hệ thống của ngành công ty chứng khoán: Sự có mặt của

hàng trăm công ty chứng khoán nước ngoài trực tiếp kinh doanh trên thị tr ường

tiền tệ, tín dụng sẽ tạo nên sự phức tạp trong hệ thống và một khi năng lực kiểm

tra, kiểm soát của NHNN còn yếu kém, bất cứ rủi ro nào xảy ra đối với một

công ty chứng khoán cũng sẽ ảnh hưởng đến các công ty chứng khoán khác

trong hệ thống.

g. Sự yếu kém của hệ thống pháp luật, nhất là trong lĩnh vực tín dụng và thi hành

án dân sự, tạo nên những rào cản về tâm lý đối với các nhà quản trị công ty

40

chứng khoán, làm hạn chế khả năng phát triển, nhất là đối với các công ty chứng

khoán trong nước như CTCK.

2.2.7 Ma trận đánh giá các yếu tố bên ngoài (EFE) của CTCK

Sử dụng phương pháp định lượng hóa các yếu tố môi trường thông qua chấm

điểm quan trọng, chúng ta sẽ hình dung được khả năng ứng phó của CTCK đối với

các thay đổi môi trường qua ma trận EFE như sau:

41

Bảng 2.1: Ma trận EFE của CTCK

Số điểm quan Các yếu tố bên ngoài chủ yếu Mức độ quan Phân loại trọng trọng (2) (1) (3) (4) = (2)* (3)

1. Phương thức đầu tư chứng 0.05 1 0.05

khoán bằng tiền mặt

2. Môi trường chính trị ổn định 0.05 1 0.05

3. Kinh tế phát triển nhanh, liên 0.1 4 0.1

tục

4. Sự hỗ trợ của chính phủ cho 0.05 2 0.05

CTCK trong thời gian chấn chỉnh,

củng cố chính sách

5. Biến động tỷ giá ngoại tệ trong 0.15 3 0.45

phạm vi vừa phải

6. Tốc độ lạm phát của nền kinh tế 0.2 4 0.8

trong vòng kiểm soát của Chính

phủ

7. Sự xâm nhập thị trường của các 0.05 3 0.15

công ty chứng khoán nước ngoài.

8. Môi trường pháp lý hỗ trợ hoạt 0.05 1 0.05

động ngân hàng còn rất yếu

9. Sự biến động bất thường của thị 0.1 2 0.1

trường tài chính

10. Sự thay đổi lãi suất trên thị 0.2 4 0.2

trường

Tổng cộng 1 2.0

(Nguồn: Theo tính toán của tác giả)

42

Ma trận EFE cho thấy: tổng số điểm quan trọng của CTCK là 2.0, chứng tỏ CTCK

đang phản ứng ở mức dưới trung bình với các thay đổi của môi trường bên ngoài.

2.2.8 Ma trận hình ảnh cạnh tranh

Bảng 2.2: Ma trận hình ảnh cạnh tranh của CTCK

SSI SBS KLS CTCK Mức Số Số Số Số độ Phân điểm Phân điểm Phân điểm Phân điểm quan Các yếu tố cạnh tranh loại quan loại quan loại quan loại quan trọng trọng trọng trọng trọng

4 1. Vốn điều lệ 5% 0.2 4 0.2 2 0.1 3 0.15

15% 4 0.6 4 0.6 2 0.3 1 0.15

20% 3 0.6 2 0.4 3 0.6 4 0.8

5% 4 0.2 3 0.15 2 0.1 3 0.15

5% 4 2.Kênh phân phối (mạng lưới chi nhánh và hệ thống giao dịch ) 3. Chất lượng dịch vụ 4. Tổng tài sản có 5. ROE 0.2 3 0.15 3 0.15 3 0.15

10% 3 0.3 2 0.2 2 0.2 3 0.3 6. Sự nổi tiếng của thương hiệu

10% 4 0.4 4 0.4 4 0.4 1 0.1

15% 3 0.45 2 0.3 2 0.3 3 0.45

5% 3 0.15 2 0.1 3 0.15 3 0.15

5% 3 0.15 3 0.15 3 0.15 4 0.2

5% 1 7. Trích lập dự phòng 8. Mức độ quan tâm đến Quản trị chiến lược 9. Đầu tư cho nhân sự 10. Sự đa dạng dịch vụ 11. Tự doanh 0.05 1 0.05 1 0.05 4 0.2

100% 3.3 2.7 2.5 2.8 Tổng số điểm quan trọng

(Nguồn: Theo kết quả điều tra từ thị trường của tác giả)

43

Ma trận hình ảnh cạnh tranh so sánh 4 công ty chứng khoán cho thấy: trong

đó SSI đứng đầu với 3.3 điểm, SBS và CTCK gần tương đương nhau với 2.7 và 2.8

điểm, KLS đứng sau cùng với 2.5 điểm, tuy nhiên, mức độ khác biệt giữa CTCK,

SBS và CTCK là không lớn.

2.3 Phân tích các yếu tố nội bộ CTCK

2.3.1 Nguồn nhân lực

Để đánh giá chất lượng của một công ty dịch vụ, người ta thường căn cứ vào

thái độ phục vụ và tính linh hoạt trong hoạt động, tức là khả năng thực hiện một yêu

cầu nào đó của khách hàng nhanh hay chậm. Cùng một công việc, công ty nào có tổ

chức hợp lý hơn sẽ thực hiện nhanh hơn, chính xác, ít sai nhất và tốc độ truyền lệnh

của nhà đầu tư nhanh nhất sẽ là điều kiện ưu tiên hàng đầu để nhà đầu tư lựa chọn

giao dịch.

Các CTCK hiện nay đều có chức năng môi giới, vì hoạt động này được coi là

ít rủi ro, vốn pháp định không cao và được coi là hiệu quả nhất trong thời gian đầu.

Nhìn chung việc tổ chức thực hiện công ty chứng khoán ở các CTCK là tương tự

nhau và có thể mô tả theo sơ đồ sau: Trong sơ đồ này, nhân viên môi giới tại quầy

là người nhận và kiểm tra lệnh của khách hàng; nhân viên lưu ký có trách nhiệm

kiểm tra tài khoản vàn treo ký quỹ; trương phòng môi giới kiểm tra lại lệnh lần

cuối. Lệnh sau đó được chuyển vào sàn giao dịch cho nhân viên môi giới tại sàn

nhập lệnh vào hệ thống. Sau khi lệnh được thực hiện, các số liệu sẽ quay về nhân

viên lưuký để vào sổ sách, giải toả ký quỹ và ghi phát sinh tài khoản khách hàng.

Có thể nói, trong giai đoạn đầu, việc tổ chức giao dịch như vậy là khá chặt

chẽ, đảm bảo được các khâu kiểm soát theo quy định. Mối liên hệ giữa nhân viên

môi giới và nhân viên lưu ký là rất quan trọng vì số liệu về tài khoản khách hàng do

nhân viên môi giới cung cấp là cơ sở để nhân viên môi giới nhận lệnh. Các công ty

chứng khoán ở Việt nam hiện nay đều nhập bộ phận lưu ký với bộ phận kế toán.

Điều này có thể tiện cho việc hạch toán và theo dõi thống nhất các tài khoản của

khách hàng, tuy nhiên với cách tổ chức như vậy có thể tạo gánh nặng cho bộ phận

44

kế toán, mối liên hệ giữa kế toán và lưu ký không chặt chẽ, nếu khối lượng nhiều dễ

dẫn đến sai sót và thao tác chậm.

Khách hàng muốn giao dịch thường được miễn phí mở tài khoản, miễn phí

duy trì tài khoản, thủ tục cũng khá nhanh chóng. Khách hàng chỉ cần mang theo thẻ

chứng minh thư nhân dân, hoặc hộ chiếu và ảnh, sau khi điền các thông tin cá nhân

vào form sẵn của công ty thì có thể bắt đầu giao dịch. Tuy nhiên, nếu khách hàng

muốn mua chứng khoán thì họ phải có đủ số tiền cần thiết trong tài khoản.

Tình hình nhân sự là yếu tố quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động

của công ty. Sau khi thành lập, các công ty đã tiến hành tuyển chọn nhân viên để

đáp ứng nhu cầu công việc. Việc tuyển chọn nhân vi ên môi giới cũng được thực

hiện chung với các nhân viên cho các nghiệp vụ khác. Các công ty thường tuyển

chọn thông qua ba bài thi: nghiệp vụ, tiếng Anh và phỏng vấn. Ngoài việc hoàn

thành tốt bài thi, yêu cầu đối với nhân viên môi giới là tính trung thực, thẳng thắn.

Khả năng giao tiếp với khách hàng tuy có được nhắc đến nhưng chưa được coi

trọng. Riêng đối với nhân viên môi giới tại sàn, quan điểm được thống nhất trong

tuyển chọn thời điểm hiện nay thì thao tác nhanh nhẹn, chính xác là yếu tố quan

trọng nhất.

Các CTCK đều yêu cầu trình độ đại học đối với các ứng viên. Sau khi được

tuyển chọn, họ sẽ được tham gia các khoá đào tạo do UBCKNN tổ chức hoặc do

công ty tổ chức. Điều bất cập là ở chỗ, cho đến nay các công ty vẫn chưa tổ chức

các khoá riêng cho từ ng nghiệp vụ. Khi thị trường phát triển, nếu các CTCK vẫn

duy trì cách thức đào tạo như thế này thì không thể đáp ứng được yêu cầu của thị

trường, kéo theo đó, khả năng cạnh tranh và phục vụ của công ty cũng bị giảm sút.

So với các công ty chứng khoán trên thế giới thì số lượng các nhà môi giới

chứng khoán ở Việt Nam là rất nhỏ và trình độ nghiệp vụ cũng còn nhiều hạn chế.

Nhân viên môi giới của công ty được chia làm 2 loại là nhân viên môi giới thực

hiện chức năng trong FO và nhân viên môi giới thực hiện chức năng BO. không có

nhân viên chuyên trách về marketing. Nghiệp vụ này chưa được coi là một lĩnh vực

45

chuyên môn đòi hỏi những phẩm chất và kỹ năng đặc thù cần được xem xét đến

trong quá trình tuyển dụng, đào tạo và sử dụng.( Tham khảo phụ lục 02 )

Mức lương cứng trung bình của một nhân viên môi giới là từ 5 đến 8 triệu

đồng /tháng, chưa có thù lao theo doanh số đem lại cho công ty. So với mặt bằng

thu nhập của xã hội thì mức lương như vậy có thể xem là khá cao song nó không

phản ánh đóng góp thực tế cũng như tiềm năng của từng cá nhân cho nguồn thu của

công ty. Với một thị trường rộng mở và áp lực cạnh tranh, nổ lực của mỗi cá nhân

dường như không có mấy ý nghĩa. Hơn nữa, chế độ thù lao như vậy không thể tạo

ra động lực cho các cá nhân cố gắng tìm kiếm thêm khách hàng để có cơ hội tăng

thu nhập nhờ hoạt động môi giới. Trong tương lai, các CTCK nên chăng có chế độ

thưởng hợp lý để khuyến khích mỗi nhà môi giới mở rộng và tăng cường khai thác

khách hàng, làm phong phú thêm các loại hình dịch vụ cho khách hàng . Để thu hút

người đầu tư, các công ty chứng khoán đã đầu tư khá tốt cơ sở vật chất cho hoạt

động môi giới như xây dựng hệ thống sàn giao dịch rộng rãi với đầy đủ các thiết bị

công bố thông tin như bảng giao dịch điện tử, bảng công bố thông tin, xây dựng

website để giúp người đầu tư tiếp cận thông tin mọi lúc mọi nơi.

Ngoài ra, các công ty chứng khoán đã thực hiện một số chính sách nhằm thu

hút người đầu tư đến với công ty, như cung cấp dịch vụ tư vấn đầu tư miễn phí, đa

dạng các hình thức nhận lệnh giao dịch (qua điện thoại, fax ..), áp dụng chính sách

thu phí linh hoạt theo hướng khuyến khích giao dịch (giảm phí môi giới cho khách

hàng có giá trị giao dịch lớn theo từng lệnh hoặc theo cộng dồn định kỳ theo khoảng

thời gian ), kết hợp với các ngân hàng thương mại cung cấp thêm một số dịch vụ

phụ trợ cho khách hàng (cầm cố chứng khoán, ứng trước tiền bán chứng khoán).

Nhờ đó, số lượng người đầu tư đến mở tài khoản giao dịch tại các công ty chứng

khoán và giá trị giao dịch chứng khoán trong thời gian qua đã k hông ngừng tăng

lên.

2.3.2 Yết tố Marketing

Trong thời gian qua, do những khó khăn về tài chính cùng với sự giám sát

chặt chẽ của Bộ Tài chính nên công ty chứng khoán chưa triển khai các chương

46

trình marketing rộng lớn, gây tiếng vang trong công chúng, xâ y dựng hình ảnh của

công ty chứng khoán trên thị trường. Công tác marketing chỉ mới dừng lại ở những

hoạt động ít tốn kém chi phí như: gửi thư giới thiệu, thăm viếng trực tiếp khách

hàng, biếu lịch vào dịp cuối năm. Tuy nhiên, nhờ phục vụ tốt khách hàng nên các

thông tin truyền miệng từ khách hàng này qua khách hàng khác cũng giúp CTCK

phát triển được một số lượng khách hàng nhất định.

Cơ sở khách hàng: CTCK là một trong những công ty chứng khoán cổ phần

đầu tiên của việt Nam. Qua 11 năm hoạt động, trải qua những giai đoạn thăng trầm,

những khó khăn tưởng chừng không thể vượt qua, đến nay CTCK đã trưởng thành

và đang phát triển mạnh. Với mạng lưới chi nhánh tuy không nhiều nhưng trải rộng

từ Bắc chí Nam, CTCK hiện có một số lượng khách hàng ổn định và ngày càng tăng

thêm, số lượng khách hàng chấm dứt giao dịch là rất ít so với số lượng khách hàng

mới tăng thêm do các nỗ lực tiếp thị và chất lượng phục vụ của công ty chứng

khoán.

Kênh phân phối: Đối với một công ty chứng khoán hiện đại, có 2 hệ thống

kênh phân phối ; kênh cổ điển qua mạng lưới các chi nhánh và kênh phân phối mới

dựa trên sự phát triển của công nghệ hiện đại.

Thương hiệu: Tuy còn nhỏ về quy mô, song về chất lượng dịch vụ, công ty

chứng khoán chứng khoán tại các công ty luôn phát triển về số lượng lẫn chất lượng

dịch vụ.

2.3.3 Năng lực tài chính

Bộ Tài chính vừa có quyết định phê duyệt đề án tái cấu trúc các công ty

chứng khoán, theo đó mục tiêu của việc tái cấu trúc các công ty chứng khoán là để

nâng cao chất lượng hoạt động, năng lực tài chính, quản trị doanh nghiệp và khả

năng kiểm soát rủi ro của các công ty chứng khoán. Trên cơ sở đó, từng bước thu

hẹp số lượng các công ty chứng khoán.

Theo đề án này, tái cấu trúc các công ty chứng khoán cũng nhằm mục đích

tăng cường khả năng, hiệu quả quản lý, giám sát đối với hoạt động công ty chứng

khoán; đồng thời mở cửa thị trường dịch vụ tài chính theo lộ trình hội nhập đã cam

47

kết. Việc tái cấu trúc các công ty chứng khoán được thực hiện theo lộ trình, có bước

đi thận trọng, chắc chắn, không làm xáo trộn hoạt động của thị trường chứng khoán

cũng như các hoạt động kinh tế - xã hội của đất nước, đảm bảo lợi ích hợp pháp

khách hàng.

Về phương án tái cấu trúc, trên cơ sở các quy định hiện hành cũng như kết

quả kinh doanh đã kiểm toán của các công ty chứng khoán, sẽ tiến hành rà soát

phân nhóm các công ty chứng khoán theo mức độ rủi ro giảm dần dựa trên 2 chỉ

tiêu: vốn khả dụng/tổng rủi ro (bao gồm rủi ro thị trường, rủi ro thanh toán và rủi ro

hoạt động) và tỉ lệ lỗ lũy kế/vốn điều lệ. Theo đó, sẽ có 3 nhóm công ty chứng

khoán.

Nhóm 1 - Nhóm bình thường : Nhóm này bao gồm các công ty chứng khoán

có tỉ lệ vốn khả dụng/tổng rủi ro trên 150% và có lãi hoặc lỗ lũy kế dưới 30% vốn

điều lệ.

Nhóm 2 - Nhóm kiểm soát: Nhóm này bao gồm các công ty chứng khoán có tỉ

lệ vốn khả dụng/tổng rủi ro dưới 150% tới trên 120% và có lỗ lũy kế từ 30-50% vốn

điều lệ.

: Nhóm này bao gồm các công ty chứng Nhóm 3 - Nhóm kiểm soát đặc biệt

khoán có tỉ lệ vốn khả dụng/tổng rủi ro dưới 120% và có lỗ lũy kế từ trên 50% vốn

điều lệ.

Đề án được phê duyệt bởi Bộ Tài chính cũng nêu rõ một số biện pháp tái cấu

trúc các công ty chứng khoán.

Cụ thể, các biện pháp xử lý trước mắt (từ nay đến 1/4/2012), đối với những

công ty chứng khoán có tỷ lệ vốn khả dụng/tổng rủi ro không đảm bảo quy định của

Thông tư 226/2010/TT-BTC, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước sẽ yêu cầu các công

ty chứng khoán này thực hiện chế độ báo cáo hằng tuần (đối với những công ty

chứng khoán có tỷ lệ vốn khả dụng/tổng rủi ro dưới 150%), hằng ngày (đối với

những công ty chứng khoán có tỷ lệ vốn khả dụng/tổng rủi ro dưới 120%).

Đồng thời, cử đoàn kiểm tra đến nắm tình hình hoạt động của công ty, nếu

phát hiện công ty chứng khoán chưa thực hiện tách biệt tài sản của nhà đầu tư thì

48

yêu cầu cô ng ty chứng khoán thực hiện trong thời hạn tối đa 2 tháng; đề nghị hội

đồng quản trị (hội đồng thành viên) xem xét, trình đại hội đồng cổ đông (chủ sở

hữu) xem xét phương án tăng vốn điều lệ.

Hai sở giao dịch chứng khoán, Trung tâm Lưu ký chứng khoán Việt Nam sẽ

kiểm soát chặt chẽ vấn đề thanh toán giao dịch của công ty. Trường hợp liên tục vi

phạm thiếu tiền thanh toán, lạm dụng tiền gửi của khách hàng sẽ xem xét rút phép

công ty chứng khoán chứng khoán theo quy định pháp luật.

Các biện pháp áp dụng theo n hóm từ sau ngày 1/4/2012, đối với nhóm 1 -

nhóm bình thường là tiếp tục rà soát và giám sát tình hình tài chính của nhóm này

để có giải pháp kịp thời nếu thị trường tiếp tục khó khăn.

Đối với nhóm 2- nhóm kiểm soát và nhóm 3- nhóm kiểm soát đặc biệt sẽ áp

dụng các nhóm giải pháp hành chính và kinh tế theo quy định của Thông tư

226/2010/TT-BTC.Biện pháp triển khai từ sau năm 2012, tăng cường năng lực quản

trị và hoạt động của các công ty chứng khoán dựa trên ba trụ cột chính: quy định về

mức độ đủ vốn; quy định về hướng dẫn thông lệ khuôn khổ quản lý rủi ro cho các

công ty chứng khoán; đánh giá, xếp hạng các tổ chức kinh doanh chứng khoán theo

thông lệ quốc tế từ đó phân loại và giám sát các tổ chức này.

Ủy ban chứng khoán Nhà nước cho biết trong năm 2012 sẽ liên tục đẩy mạnh

công tác thanh tra, kiểm tra hoạt động kinh doanh và cung cấp dịch vụ của các công

ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán. Riêng với các công ty

chứng khoán, Ủy ban chứng khoán sẽ định kỳ kiểm tra năng lực tài chính, khả năng

thanh toán. Trong đó, các công ty chứng khoán có vốn góp từ ngân hàng, các tập

đoàn nhà nước, các doanh nghiệp bảo hiểm sẽ được kiểm tra gắt gao và kỹ lưỡng.

Những hoạt động này nhằm hỗ trợ quá trình tái cơ cấu công ty chứng khoán trong

năm 2012.

Đối với hành vi thao túng thị trường và giao dịch nội gián, Ủy ban chứng

khoán sẽ sớm phối hợp chính thức giữa Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhà nước, Bộ

Bưu chính viễn thông, Bộ Công an để thanh tra và xử lý. Thị trường chứng khoán

Việt Nam hiện có hơn 1.000 công ty đại chúng, gần 700 công ty niêm yết, 105 công

49

ty chứng khoán, 47 công ty quản lý quỹ và hơn 1 triệu tài khoản đầu tư. Năm 2011,

Ủy ban chứng khoán ban hành 164 quyết định xử phạt vi phạm hành chính Tổng số

tiền phạt lên tới gần 11 tỷ đồng 63 trường hợp vi phạm các quy định về chào bán

chứng khoán, chế độ báo cáo và công bố thông tin. 9 cá nhân có hành vi thao túng thị trường 1.

2.3.4 Cơ cấu tổ chức và Quy trình nghiệp vụ

CTCK được tổ chức theo mô hình các phòng ban chức năng, phân chia theo

loại hình sản phẩm dịch vụ:

+ Phòng kế toán giao dịch: thực hiện các giao dịch thanh toán bù trù.

+ Phòng môi giới: thực hiện các công việc kế toán nội bộ và tổng hợp toàn

hệ thống

+ Phòng chăm sóc khách hàng: giao dịch với khách hàng trong các dịch tạo giá trị tăng thêm như thông tin của doanh nghiệp hay giải đáp thắc mắc của khách hàng. Tuy nhiên, nhược điểm lớn nhất của mô hình này là sự phối hợp giữa các

phòng ban rất lỏng lẻo và thiếu cơ sở thực tế, mỗi bộ phận chỉ lo chu đáo công việc

bộ phận mình mà thiếu sự hợp tác theo mục tiêu chung của cả hệ thống.

Nhận lệnh giao dịch của nhà đầu tư không chỉ đơn thuần là việc đưa một tờ

phiếu lệnh cho khách hàng điền vào mà nó còn liên quan đến nhiều công việc khác

như tư vấn cho khách hàng về diễn biến thị trường, thao tác xử lý tài khoản để đảm

bảo lệnh đặt đúng quy định.

Nhận lệnh từ khách hàng - Tư vấn đặt lệnh: Nhà môi giới tốt phải biết cách

tìm hiểu nhu cầu và lý do đặt lệnh của khách hàng. Nếu nhà môi giới có uy tín cao

với khách hàng thì lệnh của khách hàng sẽ theo chỉ dẫn của nhà môi giới đó. Trên

1 http://taichinh.vnexpress.net/tin-tuc/song-tai-chinh/chung-khoan/2012/02/2012

thực tế, có nhiều trường hợp khách hàng gần như uỷ quyền cho nhà môi giới quyết

50

định thời điểm mua bán, họ sẵn sàng đến công ty để ghi phiếu lệnh nếu nhà

môi giới nói rằng cần phải mua bán vào thời điểm đó. Nhưng nhìn chung, ở các

công ty chứng khoán Việt Nam hiện nay, vai trò tư vấn của nhà môi giới chưa phát

huy được. Các nhà đầu tư tự mình theo dõi diễn biến của thị trường và đặt lệnh dựa

vào tâm lý là chủ yếu. Nhà đầu tư hiện nay không phải là đều là những người am

hiểu sâu sắc về thị trường chứng khoán, những người có được kiến thức đó chỉ là số

ít. Hầu hết nhà đầu tư tham gia thị trường với ý định đầu có giá ngắn hạn mà không

quan niệm đầu tư theo giá trị, dẫn đến những hiện tượng mua bán ồ ạt làm giá cổ

phiếu lên quá cao hay xuống quá thấp. Họ không có được những lời tư vấn từ phía

những người môi giới để có thể đặt giá chứng khoán ở mức hợp lý nhất. Đây là hạn

chế trong việc thực hiện công ty chứng khoán của các công ty chứng khoán hiện

nay. Trên thị trường chứng khoán của các nước phát triển, hàm lượng tư vấn trong

hoạt động môi giới là rất đáng kể, nhất là dịch vụ môi giới đầy đủ. Còn ở Việt Nam

thì sao? Do không được tư vấn từ các chuyên gia nên hầu hết các nhà đầu tư đều

thua lỗ và mất niềm tin vào thị trường. Vì vậy, điều quan trọng là nhà môi giới nên

có những lời tư vấn, khuyến cáo cho nhà đầu tư để họ có thể đầu tư hiệu quả hơn.

Tháng 3 năm 2003, nhằm thu hút khách hàng và phục vụ nhà đầu tư tốt hơn,

Công ty chứng khoán Ngân hàng Á Châu đã đưa phòng chăm sóc khách hàng đặc

biệt vào hoạt động. Chức năng phòng này là “ Phục vụ những yêu cầu đặt lệnh đặc

biệt về giao dịch của khách hàng” như đáp ứng các yêu cầu về giao dịch thoả thuận,

tư vấn đầu tư. Những khách hàng nằm trong danh sách” được chăm sóc đặc biệt” sẽ

được giảm phí giao dịch và mức phí được giảm tuỳ theo giá trị giao dịch mà khách

hàng đó đạt được.

Địa điểm, thời gian và phương thức nhận lệnh: vào thời điểm hiện nay, theo

quy chế tổ chức và hoạt động của công ty chứng khoán, công ty chứng khoán chỉ

được phép nhận lệnh tại trụ sở chính, chi nhánh hay phòng giao dịch.Phiên giao

dịch diễn ra từ 8g30 – 10g45 tại HSX và 8g30- 11g00 tại HNX. Nhà đầu tư có thể

đặt lệnh qua điện thoại( Nếu là khách hàng quen của công ty), hoặc qua mạng trực

tuyến, và hầu hết họ đến công ty trực tiếp đặt lệnh.

51

Việc sắp xếp thứ tự ưu tiên lệnh cũng giống như tất cả các hệ thống giao dịch

khác trên thế giới, nghĩa là ưu tiên về giá và thời gian. Trong thời gian đầu hoạt

động, các nhà môi giới cho biết lệnh chỉ có thể thực hiện được nếu nó được nhập

vào hệ thống trong 10 giây đầu tiên kể từ lúc trung tâm bắt đầu mở cửa. Vào thời

gian đó, gía chứng khoán lên liên tục qua các phiên do đó, nếu nhà đầu tư mua được

chứng khoán phiên trước thì phiên sau đã có lãi. Với tâm lý như vậy, các nhà đầu tư

đổ xô nhau mua chứng khoán và điều này đã gây áp lực rất lớn cho các nhà môi giới

thực hiện lệnh. Để tránh tình trạng lộn xộn, các công ty đã có sáng kiến cho khách

hàng bốc thăm xếp thứ tự đặt lệnh. Tuỳ mỗi công ty, người ta làm các lá thăm có số

thứ tự từ 1 đến 50, trước khi đặt lệnh, khách hàng phải bốc thăm xem số thứ tự lệnh

của mình. Tuy nhiên, tình trạng này đã hoàn toàn thay đổi trong năm 2002. Năm

2002 là một năm khó khăn cho thị trường chứng khoán nói chung và công ty chứng

khoán nói riêng.Giá chứng khoán liên tục giảm và k éo dài tới năm 2003. Chỉ số

VN-Index rớt xuống chỉ còn dưới 150 điểm. Các nhà đầu tư đã nản lòng và không

còn mặn mà với thị trường chứng khoán như trước nữa. Thực tế là, đầu mỗi phiên

giao dịch, các nhà đầu tư chủ yếu đến thăm dò thị trường và xem biến động giá cả.

Đến những phút cuối của mỗi phiên thì họ mới bắt đầu đặt lệnh. Đây cũng là khó

khăn cho các nhà môi giới khi có nhiều lệnh đặt vào phút cuối vì như vậy có thể

dẫn tới những sai sót trong quá trình nhập lệnh.

Quản lý tài khoản của khách hàng bao gồm quản lý cả 2 nội dung về nhân

thân và hiện trạng của người đầu tư trong quá trình giao dịch. Trong đó hiện trạng

giao dịch lại chia thành hiện trạng về tiền và hiện trạng về chứng khoán. Quá trình

này liên quan đến nhiều khâu và nhiều bộ phận hoạt động trên thị trường, trải dài từ

khi bắt đầu mở tài khoản giao dịch cho đến khi hoàn thành cả chu trình thanh toán

giao dịch.

Công ty chứng khoán hiện nay đang gặp phải vấn đề khó khăn trong quản lý.

Đã xảy ra những vi phạm của nhà đầu tư mà công ty chứng khoán không kiểm soát

được như: bán khống, đặt lệnh nhưng chưa đủ tiền ký quỹ để mua, mở tài khoản tại

nhiều công ty khác nhau, cùng một phiên giao dịch nhưng thực hiện đồng thời nhiều

52

lệnh mua và bán. Công ty chứng khoán yếu kém không thể kiểm soát được trạng

thái khách hàng ngay khi nhập lệ nh với tốc độ thời gian thực, khả năng nhầm lẫn

cao về việc xác định khách hàng được khớp lệnh sau khi được thông báo kết quả

khớp lệnh của trung tâm giao dịch, thông tin chậm làm ảnh hưởng vòng quay của

nhà đầu tư.

Nguyên nhân chủ yếu của vấn đề là công t y chứng khoán dựa vào công tác

thủ công để quản lý khách hàng đầu tư của mình trong khi yêu cầu cho việc xử lý

vấn đề trong giao dịch cần tốc độ nhanh và chính xác, các nguồn dữ liệu liên quan

đến việc quản lý lại được quản lý một cách phân tán, không tập trung. Công ty

chứng khoán chưa có một phương thức quản lý hiệu quả khắc phục tình trạng trên.

Công ty chứng khoán cần phải cải tiến công tác này nhằm mang lại hiệu quả công

tác quản lý, tránh rủi ro cho công ty đồng thời mang lại sự công bằng cho nhà đầu

tư trên thị trường.

2.3.5 Nghiên cứu và phát triển

Mô hình này có ưu điểm là rất gọn nhẹ, ít tốn chi phí, huy động được trí tuệ

của nhiều chuyên gia trong nhiều lĩnh vực của công ty chứng khoán. Song nó có

một nhược điểm rất lớn là thiếu tính chuyên trách, thiếu chuyên nghiệp. Các thành

viên chủ yếu tập trung vào công việc hàng ngày của mình hơn là lo cho nghiên cứu

và phát triển sản phẩm mới. Do mang tính chất pháp lý và tùy thuộc vào sự cấp

phép của hai sở giao dịch và Ủy ban chứng khoán ban hành nghiệp vụ margin nên

các công ty chứng khoán còn trong quá trình hoàn thành qui trình và khung kiểm

soát. Tuy nhiên mức độ triển khai và thực hiện nghiệp vụ này còn nhiều hạn chế do

quy mô vốn và tình hình khả quan của thị trường chứng khoán.

Nghiên cứu, hợp tác và liên kết với các công ty chứng khoán quốc tế nhằm

hoàn thiện hệ thống phầm mềm giao dịch và qui trình kiểm soát rủi ro để góp phần

thúc đẩy sự minh bạch hóa và tránh rủi ro cho công ty.

Ngoài ra, cần nghiên cứu và phát triển nhiều sản phẩm khác nhằm t hỏa mãn

các yêu cầu của nhà đầu tư như các nghiệp vụ: các loại hình giao dịch hợp đồng

tương lại, quyền chọn và giao dịch cận biên như các nước trên thế giới đã áp dụng.

53

Nhằm hỗ trợ cho các nghiệp vụ chính như mua và bán chứng khoán như hiện nay.

Củng cố và đa dạng hóa sản phẩm và loại hình dịch vụ nhằm thỏa mãn tối đa nhu

cầu giao dịch của nhà đầu tư để thu hút ngày càng nhiều người dân tham gia giao

dịch chứng khoán.

2.3.6 Công nghệ thông tin

Phần cứng máy tính. Để đáp ứng nhu cầu kết nối thông tin với Trung tâm

giao dịch, tất cả các công ty đều trang bị một máy chủ và nhiều máy tính cá nhân.

Tuy nhiên, công suất của máy này chưa cao do nhiều công việc vẫn được làm thủ

công. Các máy tính được sử dụng chủ yếu trong công tác thống kê, lưu ký nhưng

mới ở trình độ sơ khai.

Phần mềm tiện ích. Liên quan đến việc quản lý khách hàng đầu tư và phục

vụ cho hoạt động môi giới, công ty chỉ mới thực hiện bán thủ công, kết hợp việc

quản lý trên giấy với phần mềm bảng tính Excel cùng với một số Module do công

ty tự viế t bằng Visual Basic. Hiện tại do khối lượng công việc chưa lớn và đang

hoạt động cầm chừng, các công ty vẫn chần chừ khi đầu tư thuê viết phần mềm tin

học phục vụ cho hoạt động của mình.

Phần mềm ứng dụng: Công ty Bảo Việt, Công ty chứng khoán Sài Gòn đã

cài đặt chương trình Front office được xây dựng và phát triển bởi các công ty trong

nước. Chương trình này đã đáp ứng được phần nào công việc tự động hoá một số

khâu công việc. Tuy nhiên do được phát rời rạc để giải quyết từng sự vụ cụ thể và

những đơn vị khác nhau nên thống nhất chưa cao, khả năng đồng bộ còn nhiều hạn

chế. Hơn nữa, một số công ty chưa thực hiện kết nối trực tuyến với ngân hàng nên

các nghiệp vụ phát sinh phải xử lý thủ công; làm lãng phí tái nguyên và nhân lực.

Nhìn chung việc triển khai ứng dụng công nghệ tin học trong hoạt động môi

giới chứng khoán ở các công ty còn nhiều bất cập, chưa theo quan điểm chung và

còn rất manh mún, chưa có công ty nào đáp ứng được yêu cầu đặt ra về quản lý. Đối

với các ứng dụng đã được xây dựng hầu hết chỉ với trình độ đơn giản nên chỉ đáp

ứng được nhu cầu hiện tại mà chưa tính đến sự phát triển của TTCK trong tương lai.

Các phần mềm cũng chưa đáp ứng được yêu cầu tính mở, hầu hết được xây dựng

54

một cách độc lập, chưa liên kết được với nhau trong việc trao đổi dữ liệu. vì vậy các

công ty cần có giải pháp ứng dụng công nghệ thông tin giúp cho hoạt động công ty

nói chung và hoạt động môi giới nói riêng hoạt động hiệu quả, chính xác và có khả

năng quản lý.

2.3.7 Đánh giá điểm mạnh, điểm yếu

Điểm mạnh Điểm yếu

1. Sự đoàn kết và thống nhất tư 1. Quy mô vốn điều lệ và tổng nguồn

tưởng và hành động từ Hội đồng quản vốn còn nhỏ so với thị trường.

trị, Ban điều hành, lãnh đạo trung gian 2. Mạng lưới chi nhánh còn quá mỏng

cho tới nhân viên. so với ngân hàng.

3. Tỷ lệ trích lập dự phòng còn lớn. 2. Các cán bộ lãnh đạo và điều hành

4. Trình độ bình quân chung của cán là những người có trình độ, kinh nghiệm

bộ chưa cao. và quan hệ trong và ngoài ngành.

5. Cơ cấu tổ chức định hướng theo sản 3. Nhân viên tác nghiệp trẻ, nhiệt

phẩm chứ chưa định hướng theo khách tình trong công tác.

hàng, dẫn đến sự chậm trễ trong phục vụ 4. Được sự ủng hộ của các cơ quan

và sự cục bộ trong công tác chăm sóc chính quyền, thông tin đại chúng.

khách hàng. 5. Uy tín giao dịch trên thị trường

6. Công nghệ: đội ngũ cán bộ IT còn thế giới.

yếu, chưa đủ đáp ứng yêu cầu phát triển. 6. Chi phí vốn bình quân (cost of

7. Khả năng cạnh tranh của công ty capital) thấp so với các ngành khác.

chứng khoán còn rất kém xét trên nhiều 7. Chính sách khách hàng linh hoạt,

yếu tố: tài chính, công nghệ, nhân lực, gần gũi khách hàng.

mạng lưới, tư duy quản lý, quan hệ quốc 8. Hệ thống công nghệ phục vụ

tế. khách hàng hiện đại, cho phép thực hiện

rất nhanh các giao dịch với khách hàng.

9. Mức độ uy tín và thương hiệu

được đánh giá cao hơn so khi thực hiện

niêm yết trên HXS và HNX.

55

Từ những phân tích trên, chúng tôi cho rằng năng lực cốt lõi của CTCK

chính là: thái độ và chất lượng phục vụ khách hàng. Chính điều này tạo nên sự khác

biệt của CTCK so với các công ty chứng khoán khác hay nói cách khác đó là sự

khác biệt về năng lực cạnh tranh của các công ty chứng khoán về nguồn nhân lực.

2.3.8 Ma trận đánh giá nội bộ (IFE) của CTCK

Bảng 2.3: Ma trận IFE của CTCK

Mức độ Phn Số điểm Cc yếu tố bn ngồi chủ yếu quan quan loại trọng (1) trọng (2) (3) (4) = (2)* (3)

1. Vốn điều lệ 0.05 3 0.15

2. Mạng lưới chi nhánh 0.15 1 0.15

3. Trích lập dự phòng 0.05 1 0.05

4. Tư duy chiến lược của 0.1 2 0.2

đội ngũ quản trị

5. Trình độ và thái độ phục 0.15 4 0.6

vụ của nhân viên

6. Uy tín thương hiệu 0.15 4 0.6

7. Sự thống nhất ý chí, hành 0.05 2 0.1

động trong toàn hệ thống

8. Chính sách đào tạo nhân 0.05 2 0.1

viên

9. Chế độ lương bổng, phúc 0.1 2 0.2

lợi xã hội

10. Chiến lược marketing 0.15 1 0.15

Tổng số điểm quan trọng 1 2.3

( Nguồn: Theo tính toán của tác giả)

Ma trận IFE cho thấy tổng số điểm quan trọng của công ty chứng khoán là

2.3, chứng tỏ hiện nay công ty chứng khoán chỉ ở mức trung bình trong việc huy

động các nguồn nội lực của mình.

56

Kết luận chương 2

Sự phân tích thị trường phát hành chứng khoán trong thời gian qua ghi

nhận việc tạo hàng hóa cho TTCK có sự thay đổi lớn, như nhằm tạo hàng có

chất lượng cao cho thị trường để phù hợp cho tiến trình phát triển của thị

trường tài chính. Thông qua sự phân tích và đánh giá các CT CK ở chương II

là một chuỗ i sự kiện ma ng tính lịch sử phù hợp với quốc gia có nền kinh tế

chuyển đổi, thể hiện qua hoạt động thực tiễn của thị trường trong thời gian

qua. Cụ thể giá trị vốn hóa lớn, giá trị giao dịch tăng cao và số lượng nhà

đầu tư đã đăng ký mở tài khoản nhiều sau khi được Ủy ban cho phép nhà đầu

tư mở nhiều tài khoản và có thể mua bán chứng khoán trong phiên.

TTCK tăng trưởng đáng kể về mặt quy mô so với thời kỳ đầu mới

thành lập thị trường. Bên cạnh việc phân tích thực tiễn hoạt động TTCK Việt

Nam, luận án cũng đã nêu rõ những ưu điểm và khuyết điểm thông qua ma

trận SWOT. Qua đó, căn cứ vào nội dung của CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN

CHO CÁC CÔNG TY CHỨNG KHOÁN ĐÃ NIÊM YẾT TẠI VIỆT NAM

GIAI ĐOẠN 2011 -2015 - TẦM NHÌN 2020 để hoạch định hệ thống các

chiến lược đồng bộ cho các CTCK Việ t Nam.

Phân tích các yếu tố bên ngoài và các yếu tố bên trong thông qua các công cụ

ma trận EFE, IFE và hình ảnh cạnh tranh cho thấy CTCK hiện chỉ nằm ở nhóm

trung bình trên thị trường. Bên cạnh một số điểm mạnh như: uy tín thương hiệu, nền

tảng khách hàng truyền thống, hệ thống giao dịch được nâng cấp … CTCK vẫn còn

nhiều điểm yếu cơ bản: trình độ của đội ngũ cán bộ, hệ thống và đại lý giao dịch,

khả năng cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ, ... Với thực trạng như vậy, CTCK cần

phải xác định các mục tiêu và chiến lược như thế nào cho phù hợp với các cơ hội và

nguy cơ trước mắt và lâu dài? Vấn đề này sẽ được phân tích trong chương 3 dưới

đây.

57

CHƯƠNG III: CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN CHO CÁC CÔNG TY CHỨNG

KHOÁN ĐÃ NIÊM YẾT ĐẾN 2020

3.1 Định hướng và mục tiêu kinh doanh

3.1.1 Định hướng

Xây dựng và vận hành Sở giao dịch chứng khoán Việt Nam trên cơ sở các

TTGDCK hiện có với quy mô hiện đại, hiệu quả.Có chiến lược quy hoạch và tạo

hàng hoá cho thị trường, đảm bảo đủ hàng hóa cho thị trường vận hành liên tục trên

cơ sở đưa các doanh nghiệp Nhà nước đã thực hiện CPH vào niêm yết tại

TTGDCK, nhằm thúc đẩy tiến trình đổi mới, sắp xếp DNNN theo hướng hoàn

thiện, hiệu quả.

Đẩy mạnh thị trường trái phiếu Chính phủ trên cơ sở phát hành thường xuyên

Trái phiếu chính phủ huy động vốn trong và ngoài nước thông qua TTCK để huy

động vốn ch NSNN, đáp ứng nhu cầu vốn cho xây dựng đầu tư cơ bản. Nâng cấp

mở rộng hoạt động công ty chứng khoán:

• Về số lượng: Nâng số lượng công ty chứng khoán xuống 40 – 60 công

ty đến năm 2015.

• Về chất lượng : Chất lượng hoạt động công ty môi giới gắn với chất

lượng dịch vụ cung cấp cho khách hàng, dự kiến được phát triển trên

các mặt như: Mở rộng mạng lưới chi nhánh nhận lệnh của khách hàng ở

64 tỉnh thành trong cả nước; hiện đại hoá hệ thống giao dịch và cung

cấp thông tin phục vụ cho hoạt động nhận và thực hiện lệnh cho khách

hàng; tăng cường kỹ năng chuyên môn nghiệp vụ của nhân viên hành

nghề.

Hoàn thiện một bước hệ thống quản lý thị trường với trọng tâm là hoàn thiện

hệ thống pháp luật CK& TTCK. Định hướng này thể hiện trên nội dung cơ bản như

: Trước mắt tập trung rà soát, chỉnh sửa Nghị định 48/1998/NĐ-CP về CK& TTCK

và các quy chế hướng dẫn bao quát rộng hơn mọi hoạt động của thị trường, phù hợp

hơn với những vấn đề phát sinh trong hoạt động thực tiễn và mang tính hệ thống

58

hơn. Tiến tới triển khai xây dựng pháp lệnh về CK&TTCK nhằm thúc đẩy thị

trường chứng khoán ngày càng phát triển mạnh hơn và bền vững hơn.

3.1.2 Mục tiêu

Mục tiêu chiến lược cho việc phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam,

trước hết là xây dựng và phát triển thị trường chứng khoán đồng bộ, bao gồm thị

trường sơ cấp và thị trường thứ cấp, thị trường tập trung và thị trường giao dịch qua

quầy, thị trường giao ngay và thị trường kỳ hạn. Thị trường này được vận hành theo

cơ chế thị trường có sự quản lý vĩ mô của nhà nước trên nguyên tắc đảm bảo sự

phát triển lành mạnh, ổn định và bình đẳng giữa các chủ thể tham gia thị trường.

Thị trường chứng khoán phải là kênh dẫn vốn trung và dài hạn của nền kinh

tế và là công cụ đắc lực để kinh tế Việt Nam từng bước hội nhập khu vực và quốc

tế, khai thác tối đa các tác động tích cực trong việc huy động vốn trong và ngoài

nước, là cầu nối để các nhà đầu tư Việt Nam tham gia đầu tư trên thị trường tài

chính quốc tế, hạn chế những tác động tiêu cực của quá trình toàn cầu hoá và hội

nhập quốc tế, góp phần đảm bảo an ninh về tài chính trong quá trình phát triển.

Để thực hiện các mục tiêu chiến lượt đó, mục tiêu cụ thể trước mắt 2011-

2015 là: Hoàn chỉnh và đưa vào vận hành Sở giao dịch chứng khoán t ại thành phố

Hà Nội và Hồ Chí Minh, đồng thời xây dựng và hoàn thiện các thể chế của thị

trường như Trung tâm lưu ký và thanh toán chứng khoán, trung tâm máy tính, các

tổ chức định mức tín nhiệm, trung tâm thông tin chứng khoán.

3.2 Cơ sở hình thành và lựa chọn chiến lược kinh doanh

Mặc dù trong cơ cấu tổ chức của CTCK bao gồm nhiều bộ phận nghiệp vụ

khác nhau, song sự độc lập giữa các bộ phận này chỉ là tương đối mà chúng gắn bó

và có quan hệ hỗ tương với nhau một cách chặt chẽ. Do vậy, trong phần dưới đây ,

tác giả không sử dụng ma trận BCG và IE mà chủ yếu sử dụng 3 công cụ ma trận:

SWOT, SPACE và ma trận chiến lược lớn để phân tích chiến lược nhằm phát triển

CTCK.

59

3.2.1 Phân tích ma trận SWOT

Bảng 3.1: Phân tích ma trận SWOT

MA TRẬN ĐIỂM MẠNH (S) ĐIỂM YẾU (W) SWOT

KẾT HỢP S – O KẾT HỢP W – O

Áp dụng chiến lược xâm nhập thị - Hợp tác, liên kết với

trường, phát triển thị trường và công ty chứng khoán nước

phát triển sản phẩm: ngoài để khắ c phục các

- Tăng cường quan hệ giao dịch với hạn chế về trình độ công

khách hàng truyền thống, tập trung nghệ và quản lý. Thay đổi CƠ HỘI (O) phương thức quản trị, điều vào nhóm SME, khách hàng cá

hành cho phù hợp với nhân.

chuẩn mực quốc tế. - Đưa ra các sản phẩm dịch vụ mới

- Kêu gọi các định chế tài cho các khách hàng hiện nay.

chính nước ngoài mua cổ - Mở rộng kênh phân phối thông

phần để tăng vốn điều lệ qua chi nhánh và công nghệ hiện

đại nhằm thu hút khách hàng mới.

KẾT HỢP S – T KẾT HỢP W – T

Áp dụng chiến lược phát triển sản - Tăng vốn điều lệ, đầu tư

phẩm, phát triển thị trường: công nghệ để khắc phục

- Giới thiệu các dịch vụ công ty điểm yếu trước đối thủ.

chứng khoán mới, hiện đại cho các - Đa dạng hóa sản phẩm.

khách hàng truyền thống - Thu hút nhân lực giỏi từ NGUY CƠ (T) - Mở rộng chi nhánh, thu hút thêm các công ty chứng khoán

nhiều khách hàng cá nhân, doanh khác.

nghiệp vừa và nhỏ.

- Tận dụng ưu thế chi phí quản lý

thấp hơn để duy trì chính sách định

giá cạnh tranh so với đối thủ

60

3.2.2 Phân tích ma trận SPACE

Vị trí chiến lược của CTCK sẽ được phân tích qua 4 yếu tố của ma trận

SPACE được tổng hợp các yếu tố từ IFE và EFE như sau:

Bảng 3.2: Ma trận SPACE của CTCK

Nội dung Điểm số Điểm trung bình

2,3 Các biến số của FS

1. Vốn điều lệ 3

2. Tổng tài sản có 2

3. ROE 2

-3,7 Các biến số của CA

1. Mạng lưới -5

2. Trình độ nhân viên -4

3. Uy tín thương hiệu -2

-3,5 Các biến số của ES

1. Môi trường chính trị -1

2. Hệ thống luật pháp -3

3. Lạm phát, tỷ giá, lãi suất -6

4. Hàng rào gia nhập ngành -4

2,7 Các biến số của IS

3 1. Tốc độ tăng trưởng ngành

2 2. Quy mô vốn của ngành

3. Vai trò quan trọng đối với nền 3

kinh tế

(Nguồn: Theo tính toán của tác giả)

Ta có: FS + ES = 2,3 + ( – 3,5) = – 1,2

IS + CA = 2,7 + ( – 3,7) = – 1,0

61

0

FS

CA

IS

-1.2

-1.0

CHIẾN LƯỢC PHÒNG THỦ ES

Hình 3.1: Chiến lược CTCK trên ma trận SPACE

Theo hình vẽ ta thấy vị trí chiến lược của CTCK phòng thủ được thực hiện

vì: Công ty chứng khoán được vững mạnh về tài chính và có lợi thế cạnh tranh nên

chiến lược chủ đạo trong tình hình hiện nay là tấn công chiếm ưu thế hơn hẳn so với

các chiến lược còn lại như: chiến lược thận trọng, chiến lược tấn công, chiến lược

cạnh tranh. Vì thế, chúng ta nên thực thi chiến lược phòng thủ để mở rộng thị phần

và phát triển.

3.2.3 Phân tích ma trận chiến lược lớn

Qua các phân tích ở chương 2, chúng tôi nhận định:

- Về vị trí cạnh tranh trên thị trường: CTCK thuộc nhóm tương đối mạnh,

trên nhiều sản phẩm dịch vụ.

62

- Về sự tăng trưởng của thị trường: thị trường dịch vụ công ty chứng khoán

trong thời gian qua tăng trưởng rất nhanh.

Với 2 yếu tố trên, trong ma trận chiến lược lớn , CTCK nằm ở vị trí góc

vuông thứ I. Sau khi sử dụng 3 công cụ ma trận nói trên để phân tích chiến lược

CTCK, chúng tôi đi đến nhận xét rằng các chiến lược kinh doanh khả thi của CTCK

cần phải mang các đặc điểm như sau: Tối đa hoá điểm mạnh của CTCK là kinh

doanh hướng ngoại, phát huy năng lực cốt lõi là thái độ và chất lượng phục vụ

khách hàng. Từ điểm mạnh này cần khai thác các cơ hội phát triển kinh doanh do

việc hội nhập và mở cửa thị trường mang lại, đồng thời, khắc phục nguy cơ bị “cá

lớn nuốt cá bé”.

Khắc phục điểm yếu về năng lực tài chính, vốn điều lệ, quy mô mạng lưới

chi nhánh, trình độ nhân viên, ... trên cơ sở tận dụng các cơ hội mở cửa thị trường,

khắc phục nguy cơ bị mất thị phần trong thị trường cạnh tranh ngày càng gay gắt.

Do công ty chứng khoán là một ngành kinh doanh rất đặc thù của nền kinh tế, đặc

biệt là trong tình hình Việt Nam, chịu sự giám sát chặt chẽ của Chính phủ và

NHNN, không thể tự do thực hiện các chiến lược tăng trưởng đa dạng (ví dụ: đầu tư

trực tiếp vào các ngành công nghiệp, dịch vụ, bất động sản, …nhằm tạo ra tập đoàn

tài chính – công nghiệp có quan hệ ràng buộc về tài chính ). Mặt khác, như phân

tích ở trên, tiềm năng cho thị trường các sản phẩm dịch vụ công ty chứng khoán là

còn rất lớn. Do đó, CTCK cần theo đuổi các chiến lược tăng trưởng tập trung: thâm

nhập thị trường (phát triển thêm khách hàng), phát triển thị trường (mở rộng thêm

chi nhánh và mạng lưới khách hàng với những sản phẩm hiện có), phát triển sản

phẩm (nghiên cứu và phát triển thêm các sản phẩm công ty chứng khoán mới để

phục vụ các khách hàng hiện có), có thể kết hợp với chiến lược phát triển hội nhập

theo chiều ngang (đầu tư cổ phần vào các công ty chứng khoán khác, sáp nhập, mua

lại các công ty chứng khoán khác).

Theo giáo sư M. Porter, có 3 chiến lược cạnh tranh để doanh nghiệp theo

đuổi: chiến lược chi phí thấp (low cost), chiến lược tạo sự khác biệt (differentiation)

và chiến lược tập trung (focus). Trong trường hợp cụ thể của CTCK: với quy mô

63

không lớn so với các công ty chứng khoán khác, không thể tạo lợi ích kinh tế theo

quy mô (economy of scale) nên CTCK không nên theo đuổi chiến lược chi phí thấp;

chiến lược tập trung cũng là không phù hợp vì công ty chứng khoán cần đa dạng

hóa sản phẩm dịch vụ và phân tán rủi ro; Như vậy, các chiến lược phù hợp phải

xoay quanh vấn đề tạo sự ra khác biệt thông qua năng lực cốt lõi của CTCK: “thái

độ và chất lượng phục vụ khách hàng”.

Với việc kết hợp các đặc điểm trên, để đạt được các mục tiêu dài hạn đã đề

ra đến năm 2010, có thể có nhiều chiế n lược khác nhau để CTCK lựa chọn. Tuy

nhiên, xét trên các đặc điểm chủ yếu, có thể hình thành nên 2 nhóm chiến lược kinh

doanh khả thi có khả năng thay thế như sau:

* Chiến lược thứ 1: có tên gọi “chiến lược PHÁT HUY NỘI LỰC ”

Nội dung chủ yếu của Chiến lươc 1 - Sử dụng các nguồn lực hiện có của

công ty chứng khoán để tăng cường năng lực tài chính; - Tăng vốn điều lệ thông

qua các cổ đông tư nhân và đại chúng trong nước; - Nghiên cứu và phát triển các

sản phẩm mới; - Tự xây dựng mạng lưới các chi nhánh ; - Duy trì sự ổn định nhân

sự nghiệp vụ và lãnh đạo; - Tăng cường đào tạo và tự đào tạo để nâng cao trình độ

nghiệp vụ cho nhân viên; - Hợp tác kinh doanh với các công ty chứng khoán trong

và ngoài nước trên cơ sở hợp đồng hợp tác. Chiến lược 2 dựa trên tư duy “hướng

ngoại”, chứa đựng những giải pháp cách tân, táo bạo, chấp nhận sự cải tổ về cơ cấu,

tổ chức, nhân sự để dạt đến mục tiêu kinh doanh theo những bước nhảy vọt.

* Chiến lược thứ 2: có tên gọi “chiến lược TÁI CẤU TRÚC CÔNG TY CHỨNG

KHOÁN”

Nội dung chủ yếu của Chiến lược 2

Chiến lược 1 dựa trên tư duy “hướng nội”, sử dụng các giải pháp truyền

thống và ôn hòa, nhấn mạnh sự ổn định về cơ cấu cổ đông, tổ chức, nhân sự, đạt đến

các mục tiêu kinh doanh thông qua con đường tiệm tiến.

- Tăng vốn điều lệ thông qua việc bán cổ phần cho các tập đoàn tư bản tài

chính nước ngoài.

64

- Minh bạch hóa, công khai hóa, tiêu chuẩn hóa các báo cáo tài chính theo

chuẩn mực của một công ty niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán.

- Mở rộng kênh phân phối truyền thống (chi nhánh, phòng giao dịch, quỹ tiết

kiệm, …) thông qua 2 con đường: tự phát triển và mua lại, sáp nhập các công ty

chứng khoán yếu kém hơn vào CTCK;

- Phát triển mạnh kênh phân phối trực tiếp dựa trên sự phát triển công nghệ

hiện đại.

- Chấp nhận sự biến động về nhân sự , sự lên xuống của các vị trí lãnh đạo

thông qua cơ chế thu nhập gắn với hiệu quả công việc, bổ nhiệm có kỳ hạn, cạnh

tranh thu hút chất xám từ các công ty chứng khoán khác.

Câu hỏi đặt ra là chiến lược nào trong 2 chiến lược trên được xem là tốt nhất

đối với CTCK? Trong phần sau đây của luận văn, tác giả sẽ sử dụng công cụ

QSPM để tìm câu trả lời. Thực hiện chiến lược với mức tối ưu hóa nhất và hoàn

thiện chiến lược phù hợp với giai đoạn hiện nay.

65

3.2.4 Ma trận QSPM

Bảng 3.3: Ma trận QSPM của CTCK

Các yếu tố quan trọng Phân Các chiến lược có thể thay thế

loại Chiến lược 1 Chiến lược 2

AS TAS AS TAS

(1) (2) (3) (4)=2*3 (5) (6)=(2)*(5)

Các yếu tố bên ngoài

1 1 2 2 1. Tập quán sử dụng tiền mặt 1

còn rất phổ biến.

4 4 4 4 2. Môi trường chính trị ổn định 1

3 12 4 16 3. Kinh tế phát triển nhanh, liên 4

tục

4. Sự hỗ trợ của chính phủ cho 2 - 2 2 4

CTCK trong thời gian chấn

chỉnh, củng cố

3 9 4 12 5. Biến động tỷ giá ngoại tệ 3

trong phạm vi vừa phải.

3 12 4 16 6. Tốc độ lạm phát của nền kinh 4

tế trong vòng kiểm soát của

Chính phủ.

7. Sự xâm nhập thị trường của 3 2 6 4 12

các công ty chứng khoán nước

ngoài.

8. Môi trường pháp lý hỗ trợ 1 1 1 1 1

hoạt động công ty chứng khoán

còn rất yếu.

9. Sự biến động bất thường của 2 1 2 1 2

thị trường bất động sản (lúc

66

nóng, lúc lạnh).

10. Sự thay đổi lãi suất trên thị 4 2 8 3 12

trường

Các yếu tố bên trong

2 3 1. Vốn điều lệ 6 2 6

1 1 2. Mạng lưới chi nhánh 2 3 3

3 1 3. Nợ khó đòi 3 2 2

3 2 4. Tư duy chiến lược của đội 6 2 4

ngũ quản trị

2 5. Trình độ và thái độ phục vụ 4 8 4 16

của nhân viên

2 4 6. Uy tín thương hiệu 8 4 16

3 2 7. Sự thống nhất ý chí, hành 6 4 8

động trong toàn hệ thống

1 8. Chính sách đào tạo nhân viên 2 2 3 6

2 9. Chế độ lương bổng, phúc lợi 2 4 3 6

1 10. Chiến lược marketing 1 1 3 3

Tổng cộng 103 151

Nguồn: Theo tính toán của tác giả

Ma trận QSPM được hình thành từ yếu tố kết hợp EFE và IFE để tổng hợp

các yếu tố quan trọng tác động đến CTCK. Qua bảng phân tích trên ta thấy: Chiến

lược 1: 103 điểm. Chiến lược 2: 151 điểm.

Kết luận: Chiến lược thứ 2: có tên gọi “chiến lược TÁI CẤU TRÚC CÔNG

TY CHỨNG KHOÁN” sẽ là chiến lược được lựa chọn. Chiến lược này được Ủy

ban chứng khoán và 2 sở giao dịch chứng khoán thực thi quyết luyệt trong năm

2012 nhằm thúc đẩy thị trường chứng khoán phát triển lành mạnh và bền vững. Vì

thế các công ty chứng khoán hiện nay thực hiện chiến lược tái cấy trúc lại công ty

trong chiến lược tổng thể là phòng phủ để phát triển.

67

3.3 Các giải pháp thực hiện chiến lược

3.3.1 Giải pháp tài chính

Xử lý toàn bộ nợ tồn đọng nội bảng (on-balance sheet) từ nhiều nguồn khác

nhau: thu nợ từ khách hàng, bán tài sản thế chấp, khởi kiện để thu hồi nợ, bán nợ

với giá thấp hơn dư nợ gốc, dùng quỹ dự phòng rủi ro để xử lý nợ (tức là chuyển

thành nợ ngoại bảng – off balance sheet). Tăng vốn điều lệ theo 2 hướng: bán cho

các cổ đông hiện có, cổ đông trong nước và cán bộ công nhân viên, đồng thời, đàm

phán với các đối tác chiến lược (các quỹ đầu tư, công ty bảo hiểm, các công ty

chứng khoán nước ngoài) phương án bán cổ phần để tăng vốn điều lệ. Bình quân

mỗi năm CTCK phải tăng vốn điều lệ lên trên 300 tỷ VND để lành mạnh hóa hoạt

động và cạnh tranh với các công ty chứng khoán nước ngoài tại Việt Nam.

- Nghiên cứu các công ty chứng khoán trên địa bàn TPHCM và Hà Nội để

thực hiện chiến lược sáp nhập hoặc mua lại. Mục tiêu là các công ty chứng khoán

có mạng lưới rộng nhưng quy mô còn bé nhỏ, đang thu hẹp nghiệp vụ và gặp khó

khăn về tài chính như các công ty chứng khoán sau: Công ty chứng khoán Trường

Sơn; Hà Thành; Hùng Vương; Đông Dương … và một số công ty chứng khoán yếu

kém khác. Thực hiện kiểm toán quốc tế hàng năm các báo cáo quyết toán của công

ty chứng khoán. Minh bạch hóa các hoạt động tài chính, kinh doanh của công ty

chứng khoán nhằm tạo sự tin tưởng của công chúng. Xây dựng tiền đề cần thiết để

niêm yết CTCK trên thị trường chứng khoán vào năm 2020.

Thành lập các tổ chức định mức tín nhiệm ở Việt Nam: Để đảm bảo hàng

hoá trên TTCK Việt Nam ngày càng nâng cao về chất lư ợng, cần phải có sự

tham gia của các tổ chức định mức tín nhiệm (CRA) để đánh giá và xếp hạng

tín nhiệm cho các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường kể cả trái phiếu Chính

phủ, từng bước hoà nhập TTCK Việt Nam theo thong lệ quốc tế ể Chính phủ

cần tăng cường việc huy động vốn trên thị trường vốn quốc tế, trưđc kết quả

thắng lợi của việc phát hành trái phiếu trên TTCK New York trong 2005 vừa

qua. Khi Chính phủ muôn phát hành trái phiếu quốc tế thì điều kiện cơ bản cần

phải có là việc xếp hạng hệ số tín nhiệm, đây là một tiêu chuẩn rất quan trọng

68

khi vay nợ. Hiện nay, tất cả các nước trong khu vực (trừ Lào và Campuchia)

đều đã thiết lập CRA trên dưới 15 năm. Khối ASIAN cũng đã thành lập diễn

đàn doanh nghiệp CRA như một tổ chức doanh nghiệp ngành nghề của các

nước Đông Nam Á. CRA là một định chế tài chính trung gian độc lập rất quan

trọng trong việc phát triển thị trường tài chính.

Do vậy, xúc tiến xây dựng một mô hình hoạt động của CRA đã được

Hiệp hội các nhà tài chính xem là một trong những nhiệm vụ trọng t âm. Các

công ty xếp hạng tín nhiệm nổi tiếng trên thế giới đang chú ý đến thị trường

Việt Nam và muốn tìm hiểu hoạt động này ở Việt Nam. Bên cạnh đó, hệ số tín

nhiệm là hệ số đánh giá hiện thời về khả năng và tính sẩn sàng của người đi

vay về việc hoàn trả đúng hạn gốc và lãi của một khoản nợ nhất định, nó là kết

quả của sự tổng hợp các rủi ro hệ thống và không hệ thông của nhà phát hành

trong thời hạn thanh toán món nợ. Như vậy nếu nhà phát hành có hệ số tín

nhiệm càng cao sẽ tạo được sự tin tưởng cao của các NĐT và thu hút được

nhiều NĐT mua trái phiếu của mình. Trường hợp ngược lại, hệ số tín nhiệm

thấp thì phạm vi huy động vốn sẽ thu hẹp lại, dặc biệt nếu phát hành không có

hệ số tín nhiệm thì khả năng thu hút các NĐT mua trái phiếu của mình là rất

thấp (một số thị trường còn không chấp nhận phát hành trái phiếu quốc tế nếu

không có hệ số tín nhiệm). Hệ số tín nhiệm còn cho phép nhà phát hành xác

định mức lãi suất trái phiếu hợp lý, vừa đảm bảo phản ảnh mức độ rủi ro, vừa

đảm bảo khả năng thanh toán của n hà phát hành. Một số công ty sử dụng hệ số

định mức tín nhiệm như là kim chỉ nam để cải tiến hoạt động và thăm dò xem

họ có nên phát hành công cụ nợ hay không.

Định mức tín nhiệm và công ty định mức tín nhiệm là một khái niệm và

một mô hình tổ chức còn mới ở Việt Nam. Tuy nhiên, trong quá trình phát

triển, thị trường tài chính nói chung và TTCK nói riêng rất cần đến vai trò của

hệ thống trung gian này. Do đó, Chính phủ cần thành lập tổ chức tín nhiệm để

đánh giá cho các nhà phát hành Việt Nam và các vấn đề cần xem xét là: Ai cần

định mức tín nhiệm; CRA cần những loại thông tin nào để đưa ra được ý kiến

69

định mức chính xác (thông tin từ phân tích ngành, phân tích kinh doanh, phân

tích tài chính) và phải giữ bí mật kinh doanh như thế nào?; quá trình định mức

tín nhiệm bắt đầu và kéo dài trong bao lâu; các thành viên của CRA là ai?; kết

quả dịnh mức tín nhiệm được công bố như thế nào,... Trên cơ sở đó, hệ số tín

nhiệm sẽ là công cụ đắc lực cho nhà phát hành, kể cả NĐT khi tham gia TTCK.

Tăng cường sự hoạt động củ a các Định chế tài chính trung gian trên thi

trường chứng khoán: Các định chế tài chính trung gian có vai trò huy động vốn,

thu hút tiền nhàn rổi trong dân cư cho việc phát triển nền kinh tế, cung cấp các

công cụ để huy động nội lực trong nước, đẩy mạnh qu á trình đầu tư, đầu tư vào

các chứng khoán đă và sẽ niêm yết trên TTCK góp phần phát triển TTCK một

cách ổn định. Với sự tham gia các quỹ đầu tư chứng khoán sẽ góp phần bình ổn

TTCK về mặt cung lẫn mặt cầu, làm gia tăng các NĐT chuyên nghiệp trên thị

trườn g, góp phần tăng tính thanh khoản của các chứng khoán trên thị trường,

củng cố lòng tin của các NĐT đối với TTCK Việt Nam trong điểu kiện thị

trường Việt Nam chưa ổn định và có hiệu qủa. Chứng chĩ quỹ là hàng hoá

mang lại cơ hội đầu tư an toàn cho các NĐT, giảm thiểu được rủi ro, còn là

công cụ trung gian để kiểm soát danh mục đầu tư dễ dàng hơn. Sự xuất hiện các

quỹ đầu tư nước ngoài đã đánh dâu mức độ phát triển của TTCK Việt Nam

“Một TTCK mới nổi” đầy tiềm năng, gây được lòng tin đối với NĐTNN. Đối

với hoạt động dịch vụ tư vấn tài chính cần hoàn thiện và nâng cao chất lượng

các dịch vụ hiện tại; đồng thời áp dụng các nghiệp vụ tư vấn tài chính mới như

tái câu trúc doanh nghiệp, tái cấu trúc vốn, mua bán và sát nhập -M&A. Theo

các nhà phân tích của TTCK các nước, trong năm 2005, hoạt động M&A gia

tăng mạnh đã tạo điều kiện cho các NĐT săn tìm cổ phiếu của các doanh

nghiệp đang đẩy mạnh quá trình tái cơ cấu và hợp nhất để trở thành những tên

tuổi lớn theo ngành nghề. Đây là dịch vụ mới cho các CTCK Việt Nam nên

UBCKNN cần xem xét CTCK thành viên nào có đủ năng lực và tình độ thực

hiện, ban hành các văn pháp lý hướng dẫn thực hiện hay xây dựng chính sách

phát triển rõ ràng cho loại dịch vụ này.

70

Sự tham gia các quỹ đầu tư nước ngoài vào thị trường đã góp phần thu

hút các NĐT trong nước trở lại thị trường, thu hút về vòn và công nghệ cho quá

trình phát triển kinh tế. Do đó, UBCKNN cần ban hành đầy đủ cơ sở pháp lý

cho việc hình thành và phát triển quỹ đầu tư chứng khoán, trong tưdng lai

chúng ta phải thành lập quỹ đầu tư dạng mở còn được gọi là quỹ tương hỗ

(Mutual funds). Quy chế về tổ chức và hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán

và công ty quản lý quỹ đã được ban hành, ban đầu đã tạo ra khung pháp lý cơ

bản cho sự ra đời quỹ đầu tư. Tuy nhiên, để cho quỹ đầu tư hình thành và phát

triển lành mạnh, vững chắc thì còn nhiều vấn đề cần phải cụ thể hoá, bổ sung

và hoàn thiện. Chẳng hạn như: huy động vốn của quỹ, cơ chế hoạt động của

quỹ, việc phân chia lợi nhuận của quỹ cho người đầu tư, đại hội của những

người đầu tư, chuyển nhượng chứng chỉ quỹ trên thị trường.

Các quỹ đầu tư chứng khoán Việt Nam cồn thiếu đội ngũ các nhà quản lý

đầu tư chuyên nghiệp: đây là một khó khăn rất lớn trong việc hình thành và

phát triển quỹ đầu tư chứng khoán. Sư thành công hay thất bại của một quỹ đầu

tư phụ thuộc rất lớn vào trình độ điều hành của các nhà quản lý đầu tư chuyên

nghiệp. Một nhà quản lý chuyên nghiệp thực thụ của quỹ đầu tư phải có một

kiến thức sâu rộng và đạo đức nghề nghiệp trong sáng, tạo cơ sở niềm tin cho

công chúng. Điề u đó đòi hỏi UBCKNN cần phải có kế hoạch, chương trình đào

tạo có hệ thống và kỷ lưỡng để xây dựng đội ngũ các nhà quản lý chuyên

nghiệp của quỹ đầu tư, Hiện nay, ở Việt Nam hầu như chưa có đội ngũ các nhà

quản lý đầu tư chuyên nghiệp được đào tạo một cách rất cơ bản; do đó sẽ ảnh

hưởng rất lớn đến hiệu qủa hoạt động của Quỹ, sự tồn tại của Quỹ do thị trường

chứng khoán Việt Nam mới đi vào giai đoạn đầu thành lập so với các thị trường

chứng khoán trên thế giới.

Ngoài ra, các quỹ đầu tư chứng khoán v ới quy mô tài chính lớn và kỹ

năng chuyên nghiệp cần được khuyến khích hoạt động mạnh mẽ hơn nhằm

chuyên môn hoá hoạt động đầu tư chứng khoán và tạo định hướng cho các

NĐT nhỏ, k inh nghiệm thấp kém khi tham gia TTCK. Khuyến khích thành lập

71

các quỹ đầu tư chứng k hoán của các địch chế tài chính trung gian như NHTM,

công ty tài chính, công ty bảo hiểm . Các tổ chức này là các quỹ tiền tệ tập thể

của xã hội có khả nãng tích tụ và tập trung vốn lổn bằng những phương thức

khác nhau, nhưng đều là những tác nhân quan trọn g đầu tư chứng khoán. Đề

nghị những biện pháp khuyến khích như giảm thuế thu nhập trong thời gian đầu

kinh doanh chứng khoán, giảm các chi phí thành lập , đơn giản các thủ tục. Bên

cạnh đó cũng khuyến khích thành lập các công ty quản lý quỹ; nên có những c ơ

chế thông thoáng hơn trong việc thành lập các công ty quản lý quỹ của Việt

Nam cũng như có vốn đầu tư nước ngoài.

3.3.2 Giải pháp quản trị - Điều hành - Nhân lực

Xây dựng bảng mô tả công việc và bảng tiêu chuẩn công việc cho từng vị

trí trong công ty chứng khoán. Khảo sát và phân loại lực lượng lao động gần 1.000

người hiện nay theo 2 nhóm: nhóm đủ tiêu chuẩn và nhóm chưa đủ tiêu chuẩn. Từ

đó, đưa ra kế hoạch đào tạo lại cho nhóm thứ hai và quy định rõ thời gian để tự

hoàn thiện các kỹ năng làm việc. Có chế độ trả lương và đãi ngộ hấp dẫn để thu hút

chất xám từ các nơi khác về CTCK. Xây dựng cơ chế đề bạt cán bộ lãnh đạo theo

năng lực chứ không theo thâm niên, đánh giá năng lực cán bộ lãnh đạo qua các chỉ

tiêu kinh doanh, từ đó, xây dựng môi trường tâ m lý chấp nhận sự lên xuống theo

nhiệm kỳ ở các cương vị lãnh đạo. Quy hoạch đội ngũ cán bộ quản lý cao cấp và

cán bộ quản lý cấp trung gian trong thời gian 5 năm tới. Từ đó, có kế hoạch đào tạo,

bồi dưỡng để đủ điều kiện kế thừa công tác điều hành công ty chứng khoán, thực

hiện chiến lược đến năm 2020 của CTCK. Cơ cấu lại mô hình tổ chức theo định

hướng khách hàng, chia ra 2 khối nghiệp vụ: khối khách hàng doanh nghiệp, khối

khách hàng cá nhân. Mỗi khối do Giám đốc khối đứng đầu có toàn quyền quyết

định các vấn đề nghiệp vụ liên quan. Đồng thời, Xây dựng phương án trả lương,

thưởng và phụ cấp theo kết qủa kinh doanh kèm theo cơ chế phân quyền mạnh mẽ

cho các đơn vị kinh doanh chiến lược (Strategy Business Unit – SBU).

Trong thời gian qua U BCKNN, Trung tâm nghiên cứu và đào tạo chứng

khoán đã tổ chức nhiều khoá đạo tạo ngắn hạn cho công chúng nhằm tuyên

72

truyền chứng khoán và TTCK, các buổi tập huấn, hội thảo cho các CTNY,

CTCK về CPH và niêm yết, Luật chứng khoán,… Tuy nhiên, trong điều kiện

hội nhập kinh tế quốc tế, các kiến thức về chứng khoán và TTCK cùng cần phải

được nâng cao nên UBCKNN cần mở các lớp bồi dưỡng nâng cao về kiến thức

TTCK của Việt Nam và các nước khu vực, phát hành một số tài liệu như: Giáo

dục pháp luật về chứng khoán, cẩm nang đầu tư chứng khoán, Phân tích cơ bản

về TTCK, Quản trị rủi ro trong đầu tư chứng khoán,... có thể mở các game

show trên chương trình truyền hình về các trò chơi liến quan đến TTCK.

Bên cạnh, những vấn đề về tín thác đầu tư và quỹ đầu tư là những vấn đề

còn rất mới ở Việt Nam. Do vậy, một mặt cần tiếp tục nghiên cứu về mặt lý

luận và kinh nghiệm thực tiễn của các nước trên thế giới trong việc phát triển

hệ thống tín thác đầu tư. Do đối tượng tham gia vào quỹ đầu tư chỏ yếu là công

chúng, vì thế, sự thành công của quỹ phụ thuộc rất lớn vào trình độ hiểu biết về

quỹ và sự tham gia của công chúng đầu tư vào quỹ. Hiện nay các thông tin về

quỹ còn rất hạn chế, các quy định về cơ chế hoạt động của quỹ đa phần các

NĐT trên thị trường còn có sự hiểu biết rất thấp nên cần phải đẩy mạnh công

tác phổ biến rộng rãi những kiến thức cơ bản và thông tin về quỹ đầu tư cho

công chúng qua sách báo, phương tiện thông tin đại chúng hoặc các khoá đạo

tạo ngắn hạn có như vậy sẽ phổ cập được nhanh chóng các kiến thức về quỹ đối

với chúng. Một yếu tố có tính chất quyết định đến sự thành công của một quỹ

đầu tư đó là trình độ năng lực của nhà quản lý đầu tư chuyên nghiệp.

Ở nhiều nước, các NĐT riêng lẻ thường chọn quỹ đầu tư dựa trên cơ sở

xem xét tài năng của các nhà quản lý chuyên nghiệp của quỹ, người ta cũng sẩn

sàng rút ra khỏi quỹ khi nhà quản lý chuyên nghiệp suất sắc đó không còn làm

việc cho quỹ nữa Thông thường ở một số nước quỹ đầu tư do một nhà quản lý

đầu tư chuyên nghiệp điều hành, vừa thực hiện chiến lược đầu tư, vừa chịu

trách nhiệm điều hành cồng việc hằng ngày. Hỗ trợ cho sự hoạt động của nhà

quản lý chuyên nghiệp còn có đội ngũ chuyên viên phân tích tài chính. Những

điều kiện trên cho thấy, một nhà quản lý chuyên nghiệp thực thụ của quỳ đầu tư

73

chứng khoánphải có một kiến thức sâu rộng và đạo đức nghề nghiệp trong sáng,

tạo cơ sở niềm tin cho công chúng. Điều đó đòi hỏi phải có kế hoạch, chương

trình đào tạo có hệ thống và kỷ lưỡng để xây dựng đội ngũ các nhà quản lỹ

chuyên nghiệp của quỹ đầu tư .

Hiện nay, các CTCK trên Sở GDCK TP.HCM và Hà Nội đều thực hiện

các dịch vụ tư vấn đầu tư chứng khoán, dịch vụ tư vấn tài chính. Theo Nghị

định 144/2003/NĐ-CP, CTCK được phép thực hiện nghiệp vụ tư vấn tài chính

và đầu tư chứng khoán nhưng Dự thảo Luật chứng khoán thì chỉ được phép

thực hiện tư vấn đầu tư chứng khoán. Thực tế, các CTCK đã thực hiện nghiệp

vụ tư vấn đầu tư chứng khoán, tư vấn CPH, làm đại lý phát hành và thực hiện

đâu giá bán cổ phần nhưng dịch vụ tư vấn tài chính là chủ yếu, bao gồm : tư

vấn thực hiện các chính sách tài chính doanh nghiệp, tư vấn CPH và xác định

giá trị doanh nghiệp kết hợp với tư vân niêm yết, tư vấn chuyển đổi các doanh

nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thành CTCP như CTCK Sài Gòn, Bảo Việt,

Đầu tư và Công thương. Các dịch vụ tư vấn đầu tư chứng khoán chưa thật sự

mang lại hiệu quả cao cho các NĐT nên khi đầu tư chứng khoán NĐT vẫn còn

e ngại kết quả tư vấn từ các CTCK, dịch vụ tư vấn tài chính chưa vẫn còn thiếu

tính chuyên nghiệp, chất lượng hoạt động tư vấn chưa cao. Các dịch tư vâ'n còn

mang tính đơn lẻ, cục bộ và rời rạc, chưa đa dạng. Một số dịch vụ đặc thừ, tạo

ra năng lực cạnh tranh cao cho doanh nghiệp như thâu tóm, sáp nhập, tái câu

trúc doanh nghiệp,... chưa có điều kiện triển khai.

Bên cạnh, các CTCK còn thiếu một đội ngũ cán bộ được đào tạo chuy ên

sâu cho từng Loại hình địch vụ, thiếu kinh nghiệm trong công tác hoạt động tư

vấn. Để góp phần phát triển TTCK, đẩy mạnh khả năng huy động vốn của các

doanh nghiệp nâng cao khả năng mở rộng cung cấp dịch vụ của các CTCK, giải

pháp đề xuất như sau: Đối v ới hoạt động dịch vụ tư vấn đầu tư chứng khoán

cần mở rộng các hình thức kết hợp tư vấn đầu tư và môi giới chứng khoán, tạo

niềm tin cho NĐT, thể hiện trách nhiệm của CTCK. CTCK triển khai hình thức

môi giới toàn phần dịch vụ, là loại môi giới có thể cung cấp đầy đủ các dịch vụ

74

như: mua bán chứng khoán, giữ hộ cổ phiếu, thu cổ tức, cho khách hàng vay

tiền mua chứng khoán cung câp các tài liệu về phân tích chứng khoán, phân

tích tài chính theo từng doanh nghiệp, ngành nghề cho các NĐT. Ngoài ra, tuỳ

theo trình độ chuyên môn và kinh nghiệm của NĐT, CTCK cũng có thể cung

cấp môi giới bán phần dịch vụ như: mua bán hộ chứng khoán cho khách hàng

còn tư vấn đầu tư chứng khoán là nghiệp vụ độc lập. Ngoài ra, các CTCK cần

đẩy mạnh hoạt động xây dựng và quản lý danh mục đầu tư cho khách hàng, tư

vấn về vấn đề kiểm soát rủi ro trong đầu tư chứng khoán. Tại một số quốc gia, ví

dụ như Trung Quốc, Hồng Kông , Đài Loan, các công ty chứng khoán phối hợp với

các trường, cơ sở đào tạo để nâng cao kiến thức , trình độ nghiệp vụ rất hiệu quả.

Họ có chương trình thi tuyển nhân viên môi giới giỏi, tiến hành xuất bản các tài liệu

phổ cập nghiệp vụ cho các nhân viên môi giới. Họ cũng cử một số cán bộ có năng

lực, có triển vọng phát triển trong tương lai đi đào tạo tại nước ngoài. Với những

kiến thức mới mẻ và cập nhật, kết hợp với thực tế trong nước, các chuyên gia sẽ

đóng góp phần nào cho hiệu quả của bản thân công tác của chuyên gia đó, đồng thời

thúc đẩy hơn nữa sự nghiệp đào tạo thế hệ tiếp theo hoặc những người đi sau trong

ngành nghề đầy cam go và đòi hỏi nhiều trí lực này. Đây là kinh nghiệm quý báu

cho các công ty chứng khoán học tập và đúc rút kinh nghiệm. Trong điều kiện mới

thành lập, các công ty chứng khoán Việt Nam gặp rất nhiều khó khăn trong công tác

đào tạo nhân lực xuất phát từ sự nhỏ bé về khả năng tài chính và non trẻ của thịt

trường chứng khoán Việt Nam chưa tạo thuận lợi để các chuyên viên trau dồi kiến

thức tiên tiến về chứng khoán và thị trường chứng khoán.

Trước thực tế này, các công ty chứng khoán phải tự tìm cách khai thác mọi

nguồn lực, kết hợp tận dụng mô hình đào tạo và các nguồn tài trợ khác nhau để

phục vụ cho công tác xây dựng và phát triển đội ngũ nhân viên của công ty.Công ty

chứng khoán cần có những chương trình phù hợp để đào tạo các nhà môi giới có

trình độ chuyên môn cao, có đạo đức nghề nghiệp, tạo được sự đồng cảm và lòng

tin từ phía những nhà đầu tư. Có như vậy, thì mới hy vọng phát triển công ty chứng

khoán trong tương lai. Một số biện pháp công ty có thể áp dụng là:

75

o Cử cán bộ tham gia các chương trình đào tạo và khoá huấn luyện ở trong

và ngoài nước về phục vụ cho công ty.

o Phối hợp với các đơn vị nghiên cứu, tận dụng các nguồn tài trợ để tổ chức

các khoá học nâng cao trình độ cho nhân viên của công ty.

o Khuyến khích và tạo điều kiện cho nhân viên tự túc đi học tập và nghiên

cứu sau đó về phục vụ cho công ty.

o Thực hiện các chương trình tự nghiên cứu, tổ chức các cuộc hội thảo phổ

biến kiến thức trong nội bộ công ty.

o Chuẩn hoá các tiêu chuẩn về nhân viên công ty, về bộ máy nhân lực, từ

đó có những hình thức khen thưởng thích đáng.

o Hàng năm trích lập quỹ đào tạo để phục vụ cho các mục đích về nguồn

nhân lực.

3.3.3 Giải pháp marketing:

Trong giai đoạn đầu mới đi vào hoạt động, cơ sở khách hàng của các công

ty chứng khoán Việt Nam còn mỏng. Những người này chủ yếu tự tìm đến công ty

để xin mở tài khoản. Có người có thể có sự hiểu biết nhất định về thị trường chứng

khoán song cũng có người chỉ là làm quen với một loại hình thị trường mới mẻ. Tuy

nhiên, về lâu dài, các công ty chứng khoán không thể ngồi chờ cơ may khách hàng

tìm đến mở tài khoản mà họ có thể lựa chọn công ty tốt nhất cho mình để gửi gắm

tài sản. Đại diện bán hàng phải chủ động tiếp cận với khách hàng tiềm năng, thuyết

phục khách hàng mở tài khoản và giao dịch bằng chính sự hiểu biết của mình và

bằng sự trung thực tận tuỵ của một người môi giới tài chính. Không phải dễ dàng để

thuyết phục khách hàng song người môi giới phải tỏ rõ là người có kiến thúc, có

nghiệp vụ và đạo đức nghề nghiệp. Họ phải tích cực thể hiện mình, tiếp thị và làm

cho công chúng hiểu hơn về thị trường chứng khoán, tạo niềm tin cho khách hàng

mạnh dạn đầu tư. Các giải pháp marketing xoay quanh 4 P: Sản phẩm (Product),

Giá cả (Price), kênh phân phối (Place) và Xúc tiến bán hàng (Promotion).

* Về sản phẩm: đa dạng hoá các sản phẩm ở cả 3 nhóm: nghiệp vụ giao dịch;

nghiệp vụ margin và nghiệp vụ ứng trước tiền bán trong công ty chứng khoán.

76

Nghiệp vụ giao dịch: đưa ra nhiều hình thức huy động vốn phù hợp với tính

chất thu nhập của các cá nhân, hộ gia đình và doanh nghiệp, áp dụng cơ chế chi phí

linh hoạt cho từng nhóm đối tượng khác hàng.

Nghiệp vụ margin: đa dạng hoá danh mục đầu tư vốn vào nhiều lĩnh vực

khác nhau của nền kinh tế theo nguyên tắc phân tán rủi ro. Áp dụng hệ thống chấm

điểm tín dụng dành cho khách hàng cá nhân (Credit Scoring System) và hệ thống

phân loại tín dụng dành cho khách hàng doanh nghiệp (Credit Rating System) nhằm

rút ngắn thời gian phục vụ khách hàng và định lượng hoá rủi ro tín dụng. Nghiên

cứu áp dụng hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ (Credit Grading System) nhằm quản

lý rủi ro danh mục đầu tư một cách có hiệu quả. Và thu hồi nhanh khoản Margin

của khách hàng khi danh mục đầu tư giảm hơn 25 – 40% theo thỏa thuận giữa

khách hàng với công ty.

Dịch vụ ứng trước tiền bán: là nghiệp vụ được đa số các công ty chứng

khoán áp dụng khi thực hiện công ty chứng khoán giao dịch nhằm hỗ trợ tiền bán

chứng khoán cho khách hàng. Đồng thời, giảm hạn chế về thời gian thanh toán T +

3 tiền về cho các khách hàng có nhu cầu ứng trước tiền bán và cũng là góp phần tạo

tính thanh khoản trong giao dịch.

* Về kênh phân phối:

Phát triển mạng lưới các điểm giao dịch theo hướng đa dạng, với nhiều quy

mô và mức độ dịch vụ khác nhau, bao gồm: Hội sở, Sở giao dịch, chi nhánh, phòng

giao dịch, điểm giao dịch để phù hợp với các phân khúc thị trường khác nhau.

* Về giá cả ( phí ):

Xây dựng chương trình định giá (pricing) các loại sản phẩm, dịch vụ của

công ty chứng khoán phục vụ công tác quản trị. Theo đó, công ty chứng khoán cần

tính toán được giá vốn từng loại sản phẩm, dịch v ụ, từ đó xác định giá đảm bảo

nguyên tắc cạnh tranh và có lãi.

Chiến lược giá cả được xây dựng ở mức tương đương hoặc rẻ hơn nhằm thúc

đẩy tính cạnh trang linh hoạt trong từng nghiệp vụ cũng như chính sách của từng

công ty chứng khoán. Người môi giới đồng thời cũng phải có trách nhiệm cá nhân

77

trước tài sản của khách hàng, theo dõi quá trình thực hiện lệnh, thông báo kết quả

giao dịch cho khách hàng và sau đó thường xuyên giữ liên hệ với khách hàng để có

những ý kiến đúng đắn và cần thiết.

* Về xúc tiến bán hàng:

Các chương trình xúc tiến bán hàng cần được tiến hành thường xuyên dưới 2

hình thức: quảng cáo (advertisement) và quan hệ công chúng (PR - public relation).

Công ty chứng khoán cần xây dựng chiến lược quảng cáo và chiến lược PR cho

từng năm nhắm vào mục tiêu quảng bá cho thương hiệu CTCK trên thị trường.

Đưa phương thức “outsourcing” (khai thác nguồn lực bên ngoài) vào chiến

lược quảng cáo và PR. Theo đó, công ty chứng khoán ký hợp đồng với một công ty

quảng cáo và PR chuyên nghiệp để tư vấn, triển khai và đánh giá hiệu quả của các

chương trình xúc tiến bán hàng một cách bài bản, thay vì tư làm theo kiểu “do it

yourself” (tự làm) như từ trước đến nay.

Hiện nay, ở Việt Nam, do tính chất sơ khai của thị trường do đó chức danh”

nhân viên môi giới chứ ng khoán “ tại công ty được hiểu chung cho những người

làm ở phòng môi giới với nhiệm vụ như ghi phiếu lệnh, nhận lệnh, nhập lệnh vào hệ

thống. Và cũng chính đội ngũ nhân viên này là những người tìm kiếm xây dựng cơ

sở khách hàng. Nếu người môi giới được hiểu như các nước trên thế giới thì họ có

chức năng hoàn toàn khác với đội ngũ nhân viên xử lý lệnh. Do đó, các công ty

chứng khoán cũng cần phải chú trọng việc tuyển chọn và đạo tạo những người môi

giới thực thụ với nhiệm vụ quan trọng là tìm kiếm khách hàng đến với công ty càng

nhiều càng tốt.

3.3.4 Giải pháp công nghệ

Các giải pháp công nghệ được từng bước nâng cấp cơ sở vật chất kỹ thuật

dưới 2 góc độ: hệ thống (phần cứng, đường truyền, phần mềm, bản quyền chương

trình, ...) và nhân sự IT:

Hệ thống: với thành công của chương trình hiện đại hoá giai đoạn 1, sang

năm 2006, công ty chứng khoán cần triển khai ngay chương trình hiện đại hoá giai

đoạn 2 với các mục tiêu: đầu tư nâng cao năng lực xử lý của phần cứng, đầu tư cho

78

hệ thống phần mềm để làm nền tảng kỹ thuật tung ra các sản phẩm công ty chứng

khoán hiện đại dựa trên. Cơ sở vật chất kỹ thuật cũng là một trong những yếu tố

quan trọng, góp phần nâng cao năng lực phục vụ, giảm chi phí và tăng cường hình

ảnh, uy tín cho công ty chứng khoán. Trong điều kiện khách hàng không nhiều, việc

đầu tư quá nhiều vào cơ sở vật chất kỹ thuật trong thời gian đầu thì có thể hiệu quả

thu được sẽ thấp do số tiền đầu tư lớn và kết quả thu được không đáng là bao. Do

vậy, việc nâng cấp cơ sở vật chất kỹ thuật phải được tiến hành từng bước, phù hợp

với sự phát triển của thị trường. Trước hết, các công ty tiến hành hoàn thiện trụ sở

chính và các cơ sở vật chất kỹ thuật kèm theo như hệ thống thông tin nội bộ, tin học

hoá công tác văn phòng và kế toán. Tiếp đến, các công ty ph át triển các phần mềm

tin học phục vụ cho hoạt động quản lý tài khoản, thanh toán với khách hàng, tiến tới

quản lý toàn bộ hoạt động môi giới qua máy tính. Việc này có sự phối hợp giữa

Trung tâm giao dịch với công ty chứng khoán và giữa các công ty với nha u để

thống nhất chung một hệ chương trình, tránh gây ra lãng phí không cần thiết. Xây

dựng phần mềm phải đáp ứng yêu cầu: đảm bảo tính độc lập của các ứng dụng để

giữ tính an toàn bảo mật dữ liệu, để phát triển và xây dựng các ưng dụng độc lập;

Cấu trúc hệ thống mở đảm bảo không phụ thuộc vào các nhà cung cấp thiết bị và sử

dụng các tiêu chuẩn quốc tế về xây dựng phần mềm. Hệ thống phải có khả năng

quản trị. Sử dụng các bộ tiêu chuẩn chung đảm bảo khả năng vận hành tương tác, dễ

thay đổi và nâng cấp khi hệ thống phát triển. Sau đó, phát triển hệ thống mạng lưới

và nối mạng giữa trụ sở chính và các chi nhánh, văn phòng giao dịch, tiến tới phục

vụ khách hàng theo hướng” khách hàng có tài khoản tại một chi nhánh của công ty

có thể đặt lệnh tại một chi nhánh khách”. Cấu trúc mạng hiện đại và sử dụng hiệu

quả, có dung lượng lưu trữ hợp lý đảm bảo khả năng tăng trưởng trong tương lai về

mặt dữ liệu.

Nhân sự IT: khả năng hoạt động hữu hiệu của hệ thống công nghệ và việc

đua ra các sản phẩm mới phụ thuộc rất lớn vào đội ngũ nhân viên IT, do đó, công ty

chứng khoán cần tuyển chọn và đãi ngộ hợp lý với các cán bộ chuyên môn trong

lĩnh vực này. Chuyển Phòng xử lý thông tin hiện nay thành Trung tâm Công nghệ

79

Thông tin đứng đầu là Giám đốc Công nghệ thông tin (Chief Inform ation Officer -

CIO) nhằm tăng cường sức mạnh và sự năng động cho bộ phận IT. Cơ sở vật chất

kỹ thuật của công ty có thể giúp cho hoạt động môi giới hiệu quả hơn, chính xác

hơn. Trong môi trường cạnh tranh như hiện nay thì các công ty càng phải đầu tư

hợp lý vào cơ sở vật chất kỹ thuật để nâng cao chất lượng môi giới chứng khoán.

Các công ty phải tiến tới tự động hoá trong tất cả các khâu như truyền lệnh từ công

ty, ghép lệnh tự động, công bố thông tin. Tin học hóa hoạt động công ty giúp cho

công tác quản lý tài khoản khách hàng được hiệu quả hơn, hạn chế vi phạm của nhà

đầu tư về quy định hiện hàng về chứng khoán và kinh doanh chứng khoán như: bán

khống, mở nhiều tài khoản tại công ty chứng khoán khác nhau, cùng một phiên

giao dịch nhưng thực hiện nhiều lệnh mua bán.

Ngoài ra, cần thực thi chương trình liên kết và nâng cấp phần mềm giao dịch

nhằm tạo ra các mô hình kết nối là một phương thức cho phép NĐT của một

nước nước và ở tại nước này có thể mua, bán chứng khoán của một công ty

thuộc SGDCK của nước kh ác. Kết nối giao dịch sẽ khuyến khích tham gia giao

dịch chứng khoánNY tại SGDCK đối tác và ngược lại, cho phép các công ty

chứng khoán tiếp cận thông tin về giao dịch và thị trường, cho phép chuyển

thẳng lệnh từ trạm thiết bị giao địch ở một nước lên hệ thống giao dịch điện tử

của SGDCK nưđc kia. Mô hình liên kết SGDCK song phương và đa phương là

mô hình liên kết SGDCK trên cơ sở thoả thuận song phương hoặc đa phương

giữa các SGDCK để hình thành nên một cơ chế kết nối giao dịch điện tử giữa

các bên tham gia. Qua cơ chế này, NĐT ở thị trường này có thể mua bán chứng

Trên thực tế, việc kết nối TTCK giữa các nước rất đa khoán tại thị trường khác

dạng, do đặc thù về trình độ phát triển và mức độ hội nhập khác nhau và phụ

thuộc nhiều vào công nghệ kết nối của nh au.

3.3.5 Giải pháp Nghiên cứu – Phát triển

Thành lập Bộ phận R & D độc lập, chuyên trách trong việc nghiên cứu và

phát triển các sản phẩm mới. Bộ phận R & D này phải thường xuyên nghiên cứu các

đối thủ cạnh tranh trong nước và các sản phẩm tài chính hiện đại ở các công ty

80

chứng khoán nước ngoài, thiết kế và triển khai các sản phẩm mới cho công ty chứng

khoán như: Custodian Service (bảo quản các chứng từ, tài sản quý), Financial

Derivatives (sản phẩm tài chính phái sinh), Assets Management (Quản lý t ài sản),

Homebanking, Internetbanking, Mobilebanking, … Giải pháp nghiên cứu và phát

triển của CTCK cũng cần được dựa vào phương thức “Outsourcing” thông qua hợp

tác với các trường đại học như: Đại học kinh tế TPHCM, Đại học công ty chứng

khoán TPHCM, Học viện Tài chính. Với phương thức này, các dự án nghiên cứu

phát trển sẽ vừa mang hàm lượng học thuật, vừa mang tính thực tiễn.

Để hoạt động môi giới có hiệu quả và phát triển đúng hướng, các công ty

chứng khoán cần phải xây dựng cho mình một chiến lược kinh doanh phù hợp và

mục tiêu phát triển thật vững chắc. Công ty cần đặt ra chiến lược về khách hàng, về

đào tạo người môi giới chuyên môn cao, về sản phẩm dịch vụ Các công ty có thể

định hướng hoạt động của mình theo mô hình công ty môi giới giảm giá hoặc công

ty cung cấp dịch vụ đầy đủ. Trong giai đoạn đầu của thị trường chứng khoán Việt

Nam, về cơ bản hầu như các công ty chứng khoán mới chỉ đơn thuần làm nhiệm vụ

nhận lệnh và xử lý lệnh cho khách hàng. Để thu hút được đông đảo lực lượng công

chúng đầu tư mà mặt bằng tri thức về thị trường chứng khoán còn rất thấp, các công

ty chứng khoán cần có chiến lược hướng tới cung cấp các dịch vụ đầy đủ cho khách

hàng với chi phí thấp. Dịch vụ đầy đủ có thể bao gồm việc hướng dẫn, giải thích

cho khách hàng, thảo luận phương án đầu tư với khách hàng, đưa ra những lời tư

vấn có sử dụng các kết quả nghiên cứu phân tích của công ty, thực hiện lệnh của

khách hàng, sau đó là việc tiếp tục quan tâm tới tài khoản của họ. Xây dựng chiến

lược cho hoạt động môi giới sẽ giúp cho công ty có khả năng nâng cao năng lực

cạnh tranh và phát triển không ngừng.

• Chiến lược khách hàng: Xác định đối tượng khách hàng tiềm năng,

tăng cường quan hệ và tư vấn cho nhóm khách hàng này.

• Chiến lược sản phẩm: Tìm hiểu và lựa chọn những loại chứng khoán

phù hợp với khách hàng đồng thời tìm hiểu nhu cầu của khách hàng để đưa ra

những dịch vụ phù hợp, thu hút khách hàng tham gia đầu tư chứng khoán.

81

• Chiến lược kinh doanh: Mở rộng phạm vi hoạt động của công ty qua

việc mở các chi nhánh, phòng giao dịch, đại lý nhận lệnh.

Thiết lập quy trình thống nhất về giám sát nội bộ: Đây là công việc của

người quản lý công ty và văn phòng chi nhánh công ty. Mỗi công ty, trong quá trình

hoạt động đều phải có những quy định về giám sát nội bộ để kịp thời phát hiện,

ngăn chặn và xử lý những sai phạm. Quy trình giám sát nội bộ có thể bao gồm

những nội dung:Kiểm tra các đơn xin mở tài khoản mới: Người quản lý phải kiểm

tra để đảm bảo rằng tất cả các mục trong tờ khai đều đúng và đầy đủ. Việc kiểm tra

nhằm tránh những xung đột về lợi ích sau này.Kiểm tra hoạt động trong ngày: gồm

hai việc chính là kiểm tra các phiếu lệnh đã thực hiện và kiểm tra sổ cái ghi lại các

hoạt động giao dịch của ngày hôm trước.Kiểm tra phiếu lệnh phải phát hiện được

các vấn đề: Các phiếu lệnh có chứa đủ thông tin cần thiết không, phân loại được

những lệnh được uỷ thác tuỳ ý xử lý, các lệnh do gợi ý và không do gợi ý để làm cơ

sở tra cứu khi phát sinh tranh chấp; kiểm tra các phiếu lệnh có tẩy xóa, sữa chữa

không.

Hiện nay các công ty đều xây dựng cho mình một quy trình giám sát nội bộ

riêng, song hoạt động giám sát này cần phải tăng cường và có hiệu quả hơn nữa.

Nhà quản lý phải thường xuyên kiểm tra sổ sách của nhân viên môi giới. Với tài

khoản bình thường thì có thể kiểm tra theo quý, trong khi tài khoản tuỳ ý xử lý cần

phải được kiểm tra thường xuyên hơn. Việc kiểm tra này cho phép người quản lý

nhận diện được kiểu giao dịch của khách hàng, và cũng có thêm thông tin để đưa ra

những khuyến nghị kịp thời cho khách hàng của mình.

3.4 Các kiến nghị

3.4.1 Kiến nghị với chính phủ

Những vấn đề về hoàn thiện khuôn khổ pháp lý; vấn đề hoàn thiện khuôn

khổ pháp lý cho tổ chức và hoạt động kinh doanh của công ty chứng khoán nói

chung và hoạt động môi giới nói riêng là hết sức quan trọng.

Thứ nhất: Mở rộng hoạt động kinh doanh cho các công ty chứng khoán

82

Cho đến nay, văn bản pháp luật cao nhất về lĩnh vực chứng khoán và thị

trường chứng khoán là Nghị định 48/1998/NĐ-CP của Chính phủ. Trong nghị định

này nêu rõ, các công ty chứng khoán được phép thực hiện dịch vụ môi giới đối với

các chứng khoán được niêm yết. Đối với trường hợp chứng khoán không được niêm

yết, công ty chứng khoán chỉ được phép thực hiện dịch vụ lưu ký hoặc bảo quản

chứng khoán. Để tạo thuận lợi cho hoạt động kinh doanh của công ty chứng khoán,

các cơ quan quản lý cần xem xét cho phép các công ty chứng khoán mua và bán cổ

phiếu chưa niêm yết. Nói cách khác, cơ quan quản lý cho phép công ty chứng khoán

tham gia vào thị trường OTC.

Văn bản pháp luật cao nhất về lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứn g

khoán là Nghị định 48/1998/NĐ -CP của Chính phủ. Trong nghị định này nêu rõ,

các công ty chứng khoán được phép thực hiện dịch vụ môi giới đối với các chứng

khoán được niêm yết. Đối với trường hợp chứng khoán không được niêm yết, công

ty chứng khoán chỉ đư ợc phép thực hiện dịch vụ lưu ký hoặc bảo quản chứng

khoán. Để tạo thuận lợi cho hoạt động kinh doanh của công ty chứng khoán, các cơ

quan quản lý cần xem xét cho phép các công ty chứng khoán mua và bán cổ phiếu

chưa niêm yết. Nói cách khác, cơ quan quản lý cho phép công ty chứng khoán tham

gia vào thị trường OTC.

Thứ hai: Nới lỏng các quy định hạn chế việc mở chi nhánh đối với công ty

chứng khoán.

Hiện nay, hầu hết các trụ sở và chi nhánh của các công ty chứng khoán đều

đặt tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh. Do vậy, người dân ở các địa phương

khác không thể mua và bán các cổ phiếu niêm yết. Trong trường hợp các công ty

chứng khoán mở chi nhánh tại địa phương thì vấn đề này sẽ đơn giản hơn. Tuy

nhiên thực tế là các công ty chứng khoán đều có vốn nhỏ và hoạt động kinh doanh

chứng khoán còn xa lạ đối với nhà đầu tư Việt Nam, và khó có hy vọng rằng các

CTCK sẽ đầu tư một cách tích cực vào việc mở các chi nhánh của họ trong tương

lai gần.

83

Để giải quyết vấn đề này, nên chăng cho phép các hệ thống sẵn có của các

định chế tài chính khác để cho phép các cá nhân trong vùng tiếp cận với hoạt động

kinh doanh chứng khoán. Mặc dầu theo luật Việt Nam, các ngân hàng không được

phép trực tiếp tham gia vào hoạt động kinh doanh chứng khoán nhưng trong thời

điểm hiện nay nên cho các ngân hàng được phép thực hiện nhiệm vụ đại lý cho

công ty chứng khoán trong môi giới. Để tránh tranh chấp giữa khách hàng và các

chi nhánh ngân hàng, các chi nhánh môi giới lập tại ngân hàng sẽ mở một trung tâm

nhận lệnh mà tại đó tất cả các lệnh của khách hàng sẽ được ghi lại và lưu giữ trong

một khoảng thời gian nhất định. Người Việt Nam sẵn có thói quen và cũng chỉ có

quan hệ tốt, tin tưởng vào ngân hàng đặc biệt là ngân hàng quốc doanh, hơn nữa,

ngân hàng có mạng lưới rộng khắp, do đó nếu giải p háp này được áp dụng trong

thực tiễn, chắc chắn các ngân hàng thương mại và thị trường chứng khoán Việt

Nam sẽ có những bước ngoặt quan trọng trong tiến trình phát triển chung của nền

kinh tế đất nước.

Thứ ba: Đề ra nguyên tắc về dịch vụ môi giới

Trong điều 38, khoản 2, về quyền và nghĩa vụ của công ty chứng khoán, nghị

định 48 có ghi” Phải thu thập đầy đủ thông tin về tình hình tài chính và mục tiêu

đầu tư của khách hàng”. Điều 20, Quy chế tổ chức và hoạt động của Công ty chứng

khoán do UBCKNN ban hành cũn g ghi nguyên tắc hoạt động của công ty chứng

khoán là “ Giao dịch trung thực vì lợi ích khách hàng”. Những nội dung này cần

được bổ sung và cụ thể hoá hơn trong những quy định của công ty. Cần phải làm rõ,

tránh lý thuyết chung chung để giúp ngăn chặn nhữn g hành vi tách trách hay lạm

dụng của người môi giới, và cũng tạo cơ sở pháp lý để thanh tra và xử lý mỗi khi

những hành vi đó xảy ra.

3.4.2 Kiến nghị với Ủy ban chứng khoán - Ngân hàng nhà nước

Hoàn thiện hệ thống đào tạo và cấp giấy phép hành nghề môi giới chứng

khoán. Theo quy định của UBCKNN, công dân Việt Nam được cấp giấy phép hành

nghề kinh doanh chứng khoán khi đáp ứng các điều kiện: Có đủ năng lực pháp luật

và hành vi dân sự, đáp ứng các tiêu chuẩn về đạo đức, về trình độ chuyên môn. Yêu

84

cầu về trình độ chuyên môn là tối thiểu phải có bằng phổ thông trung học và có đủ

chứng chỉ chuyên môn về chứng khoán do UBCKNN cấp.

Tuy nhiên, yêu cầu này là chưa đủ đối với một nghề như nghề môi giới. Mặt

khác, Việt Nam hiện nay chưa có một chương trình riêng để đào tạo các nhà môi

giới chứng khoán, hơn nữa, kiến thức đã học mới ở trình độ cơ bản nhất chưa thể

đáp ứng những nhu cầu rất đặc thù của loại hình nghiệp vụ này. Nội dung chưa

mang tính chuyên sâu về nghiệp vụ, chưa đề cập đến kỹ năng trong quá trình th ực

hiện, chưa có phần sát hạch về đạo đức nghề nghiệp. Vì vậy, phải hết sức quan tâm

đến vấn đề này vì sát hạch có vai trò quan trọng trong việc lựa chọn nhân viên có

chuyên môn giỏi để tác nghiệp tốt trong lĩnh vực môi giới chứng khoán, có đạo đức

nghề nghiệp vì chính họ tạo niềm tin trực tiếp tới công chúng đầu tư. UBCKNN nên

xây dựng kế hoạch lâu dài và có sự chỉ đạo thống nhất để xây dựng chương trình

đào tạo phục vụ cho việc thi sát hạch cấp giấy phép hành nghề ( ở một số nước, cá

nhân muốn cấp giấy ph ép hành nghề phải học 17 chương trình đào tạo). Cuộc sát

hạch được tiến hành không phải mang tính hình thức mà những kiến thức của nhân

viên phaỉ được chứng minh qua cuộc kiểm nghiệm thực sự. Từ đó, giấy phép hành

nghề mới có giá trị đích thực của nó.

Chương trình đào tạo người môi giới chứng khoán phải đáp ứng các điều

kiện: Trang bị kiến thức về chứng khoán và thị trường chứng khoán, kỹ năng

nghiệp vụ. Loại kiến thức này cần thiết để người môi giới bên cạnh việc hoàn thành

chức năng của mình thì có thể trở thành người đào tạo khách hàng. Ngoài ra, vấn đề

hết sức quan trọng là cơ quan có thẩm quyền cần

xây dựng chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp của người môi giới chứng khoán Việt

Nam làm cơ sở để mỗi người tự đánh giá mình và để khách hàng đánh giá.

Để thực hiện vấn đề này cần nghiên cứu va xác định rõ một số nội dung

sau:Xác định vị thế của cơ quan quản lý Nhà nước trong việc quản lý và giám sát

thị trường. Cần củng cố bộ máy tổ chức, chức năng nhiệm vụ thực hiện nhiệm vụ

này kể cả việc phân định trách nhiệm, quyền hạn của cơ quan Nhà nước trong xây

dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

85

Xây dựng cơ chế giám sát hoạt động thị trường theo cấp độ khác nhau: Các

CTCK hướng dẫn nhà đầu tư tuân thủ chế độ quy định. TTGDCK TP.KCM giám

sát hoạt động giao dịch trên sàn, quản lý công ty niêm yết, quản lý công ty thành

viên theo quy định; UBCKNN quản lý, giám sát tòan bộ thị trường, phối hợp cơ

quan chức năng xử lý vi phạm.

3.4.3 Kiến nghị các công ty chứng khoán

Các công ty chứng khoán Việt Nam hiện đang phụ thuộc nặng vào hoa hồng

từ khách hàng nhỏ lẻ nhằm tạo thu nhập. Hoạt động này sẽ tạo ra nguồn thu nhập

không ổn định vì lợi nhuận từ hoạt động môi giới giao động theo tình hình thị

trường chứng khoán luôn biến động. Thêm vào đó, sự thể chế hoá các hoạt động

giao dịch và sự cạnh tranh giữa hệ thống giao dịch sẽ làm giảm khả năng sinh lời từ

doanh thu của hoạt động môi giới.

Trên thị trường chứng khoán phát triển, các ngân hàng đầu tư và công ty

kinh doanh chứng khoán thường là những công ty kinh doanh có vốn lớn và một

phần hoạt động của họ là đầu tư vào một loạt các hoạt động. Những công ty này

kinh doanh một số lớn chứng khoán, các công cụ phái sinh và thường đầu tư mạo

hiểm vào các hoạt động của thị trường sơ cấp. Kiến thức tổng hợp dựa trên nghiên

cứu thị trường là một phần quan trọng trong kỹ năng của những trung gian tài chính

này. Để hoàn thiện hoạt động, họ có một hệ thống rủi ro nội bộ. Từ những hoạt

động như vậy, họ phát huy sáng kiến và tạo ra lợi nhuận cao hơn.

Vì vậy, các công ty chứng khoán cần phải cạnh tranh và chuyên môn hoá

hơn. Một vài công ty sẽ duy trì và phát triển hoạt động kinh doanh chính là môi

giới, nhưng những công ty khác cần phải tập trung vào các hoạt động kinh doanh

chứng khoán có nhiều rủi ro hơn như là bảo lãnh phát hành, kinh doanh...Vì những

công ty chỉ tập trung vào hoạt động môi giới, họ sẽ có ít rủi ro hơn so với công ty

kia; dự tính sẽ có nhiều công ty môi giới chứng khoán, và sẽ có ít công ty kinh

doanh tất cả loại hình nghiệp vụ.

Để đánh giá việc thực hiện chiến lược: Hội đồng quản trị cần thành lập Uỷ

ban quản lý rủi ro để kiểm tra, theo dõi và đánh giá việc thực hiện chiến lược của

86

Ban điều hành và tại các sở giao dịch, kiểm tra các mục tiêu đã đặt ra và xem xét

mức độ hoàn thành các mục tiêu trong từng năm, từ đó đưa ra những giải pháp thích

hợp trong quản trị chiến lược. Tầm nhìn (viễn cảnh) đến 2020: chiến lược kinh

doanh đến 2015 chưa phải là cột mốc cuối cùng của chứng khoán. CTCK cần thực

hiện cho mình một tầm nhìn (hay viễn cảnh - vision) đến 2020 ngay từ bây giờ. Tác

giả cho rằng, đến 2020, CTCK của các công ty chứng khoán Việt Nam chẳng những

phát triển mạnh và có thể giao dịch liên thông với các thị trường chứng khoán trong

khu vực như: Singapore, ASEAN … theo xu hướng hội nhập chung của ngành tài

chính và theo lộ trình gia nhập WTO của Việt Nam

Kết luận chương 3

Giai đoạn 2000 – 2010 đối với nền kinh tế Việt Nam nói chung và thị trường

chứng khoán nói riêng đã có nhiều sự thay đổi về chất trong môi trường cạnh tranh:

đó là sự dịch chuyển từ cạnh tranh theo chiều hướng mở rộng sang hình thức mở

rộng kết hợp với chuyên sâu. Áp lực hội nhập kinh tế quốc tế không cho phép các

doanh nghiệp bước đi hờ hững và thong thả trên con đường đi tới. CTCK chứng

khoán của các công ty chứng khoán cũng không nằm ngoài phạm vi điều chỉnh đó.

Chương 3 đã phân tích và kết hợp các yếu tố: cơ hội, nguy cơ, điểm mạnh,

điểm yếu trong mối tương quan so sánh lực lượng giữa các công ty chứng khoán

nhằm xây dựng các chiến lược có khả năng thay thế. Hai chiến lược đã được chọn:

chiến lược “Phát huy nội lực” với những bước đi từ tốn, chậm rãi có xu hướng bảo

thủ và chiến lược “Tái cấu trúc” với những bước nhảy vọt về chất, chấp nhận cọ xát,

có xu hướng cách tân.

Theo ý kiến đánh giá của tác giả qua công cụ ma trận QSPM, chiến lược

“Tái cấu trúc” là chiến lược mà CTCK cần thực hiện để đạt những kết quả như kỳ

vọng của các công ty chứng khoán cũng như của Ủy Ban chứng choán đề ra trong

năm 2012 là tái cấu trúc công ty chứng khoán và hệ thống ngân hàng Việt Nam.

87

KẾT LUẬN

***

Để huy động vốn cho tăng trưởng kinh tế dài hạn, trong đó một nhiệm vụ

quan trọng là thu hút vốn nhàn rỗi trong cộng đồng dân cư, hoạt động môi giới

chứng khoán có ý nghĩa to lớn. Môi giới chứng khoán không chỉ đơn thuần là làm

cho người mua và người bán một loại chứng khoá n nào đó gặp nhau, người môi

giới còn phải giúp cho các bên tham gia thỏa mãn nhu cầu ở mức cao nhất, giao

dịch được tiến hành một cách trọn vẹn. Đồng thời trong quá trình thực hiện nghiệp

vụ, những người môi giới còn từng bước góp phần hình thành nên một nền văn hoá

đầu tư, một yếu tố nền tảng tích cực đối với sự nghiệp tăng trưởng kinh tế, và cũng

là một yếu tố đang thiếu vắng trong nền kinh tế Việt Nam. Như vậy, rõ ràng môi

giới chứng khoán là nghiệp vụ rất quan trọng của công ty chứng khoán, hoạt động

nghiệp vụ này cần phải được củng cố, nâng cao chất lượng và phải được xem là

nghiệp vụ trọng tâm. Với nhận thức như vậy: Giải pháp phát triển công ty chứng

khoán tại công ty chứng khoán Việt Nam với các mục tiêu đặt ra:

Thứ nhất, hệ thống hoá các vấn đề lý luận về công ty chứng khoán và hoạt

động môi giới chứng khoán, tư vấn , bảo lãnh phát hành.

Thứ hai, phân tích thực trạng hoạt động của các công ty chứng khoán và

công ty chứng khoán chứng khoán của công ty trong tiến trình xây dựng và phát

triển thị trường chứng khoán Việt Nam, từ đó đánh giá những thuận lợi và khó khăn

hạn chế sự phát triển của nghiệp vụ này trên thị trường.

Thư ba, đề xuất một số giải pháp để thúc đẩy sự phát triển công ty chứng

khoán chứng khoán cho các công ty chứng khoán Việt Nam hiện nay.

Mục tiêu lớn nhất của việc hình thành và phát triển TTCK tại các quốc

gia là phục vụ cho chiến lược phát triển kinh tế, khai thác tiềm lực tài chính

thông qua TTCK phục vụ cho đầu tư phát triển kinh tế, thu hút các nguồn vốn

trong và ngoài nưổc được tập trung sử dụng cho các dự án đầu tư, nhu cầu mở

rộng sản xuất, phát triển kinh tế....Để thực hiện được mục tiêu huy động vốn

88

cho đầu tư phát triển, TTCK phải làm được vai trò của nó đôi với các doanh

nghiệp, với nền kinh tế. Đặc biệt là đối với các nhà đầu tư, đảm bảo mang lại

lợi ích, bảo vệ quyền lợi nhà đầu tư, thỏa mãn thị hiếu đầu tư của khách hàng

thông qua việc cung cấp đa dạng các loại chứng khoán, các dịch vụ t ài chính,

dịch vụ chứng khoán. UBCKNN cần phải có một khung pháp lý đầy đủ, đồng

bộ và nhất quán để tạo ra cơ chế hoạt động cho TTCK theo định hướng kinh tế

thị trường, hoà nhập với kinh tế thế giới theo tiến trình hội nhập kinh tế thế

giới.

Với cam kết của Việt Nam về hội nhập thị trường tài chính, thị trường

chứng khoán thì thị trường chứng khoán Việt Nam phải hội đủ các yếu tố cần

thiết, điều quan tr ọng phải có hàng hóa nhiều về số lượng, đa dạng, phong phú

về chủng loại, đảm bảo về chất lượng mới tạo được sự thu hút, hấp dẫn nhà đầu

tư, cung cấp thị trường dịch vụ tài chính, chứng khoán hoàn hảo. Vấn đề quan

trọng là phải thực hiện việc kết nối thị trường Việt Nam với thị trường chứng

khoán các nước nhằm đảm bảo việc lưu chuyển vốn giữa các quôc gia được

thông suốt. Như vậy nguồn vốn đầu tư trong và ngoài nước được khơi thông,

tạo điều kiện giải quyết nhu cầu về vốn cho các dự án đầu tư thuộc cơ sở hạ

tầng của Chính phủ, các dự án đầu tư và phương án sản xuất kinh doanh của

doanh nghiệp. Thực hiện được điều này sẽ góp phần thúc đẩy quá trình công

nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước .

89

TÀI LIỆU THAM KHẢO

A. TÀI LIỆU 1. Nguyễn Thị Liên Diệp và Phạm Văn Nam (2010), Chiến lược và chính sách kinh doanh, Nhà xuất bản Thống Kê, TPHCM. 2. Lê Thanh Hà (1998), Ứng dụng lý thuyết hệ thống trong quản trị doanh nghiệp, Nhà xuất bản Trẻ, TPHCM. 3. Tôn Thất Nguyễn Thiêm (2004), Thị trường, chiến lược, cơ cấu, Nhà xuất bản TPHCM. 4. Fred R. David (2003), Khái luận về quản trị chiến lược, Nhà xuất bản Thống Kê, TPHCM. 5. Michael E. Porter (1996), Chiến lược cạnh tranh, Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội. 6. Peter F. Drucker (2003), Những thách thức của quản lý trong thế kỷ 21, Nhà xuất bản Trẻ, TPHCM. 7. Rowan Gibson (2004), Tư duy lại tương lai, Nhà xuất bản Trẻ, TPHCM. 8. Vũ Công Tuấn (2002), Thẩm định dự án đầu tư, Nhà xuất bản TPHCM. 9. Vũ Công Tuấn (1999), Quản trị dự án, Nhà xuất bản TPHCM. 10. Trường Đại học kinh tế quốc dân (2002), “Giáo trình thị trường chứng khoán”, Nhà xuất bản tài chính, Hà Nội 11. Noly Trầ n Hồ (2001), Thị trường chứng khoán-phân tích và chiến lược, Nhà xuất bản Thống Kê, TPHCM. 12. Brian J.Millard (2000), Thị trường chứng khoán và cổ phiếu, Nhà xuất bản Thống Kê, TPHCM. 13. Neil F Stapley (1994), Thị trường chứng khoán và cẩm nang cho các nhà đầu tư tư nhân, Nhà xuất bản TPHCM. 14. Phạm Văn Quan (2001), Chứng khoán và tìm hiểu thị trường chứng khoán, Nhà xuất bản Thống kê, TPHCM. 15. Đặ ng Quang Gia (1996), Hỏi đáp về thị trường chứng khoán, Nhà xuất bản Thống kê, TPHCM. 16.Phan Lan (2005), Cẩm nang dành cho nhà đầu tư chứng khoán, Nhà xuất bản tài chính, Hà Nội 27. TS.Trần Đắc Sinh (2004), Huy động vốn đầu tư hạ tầng qua thị trường chứng khoán, Nhà xuất bản tổng hợp TPHCM. 18. TS.Trầ n Đắc Sinh (2002), Định mức tín nhiệm tại Việt Nam, Nhà xuất bản TPHCM 19. PGS. TS Trần Ngọc Thơ (2003), Tài chính doanh nghiệp hiện đại, Nhà xuất bản thông kê TPHCM. 20. PGS.TS Nguyễ n Thị Cành (1999), Vận đụng các mô hình toán trong phân tích và dự báo kinh tế, Nhà xuất bản thông kê TPHCM.

90

21. TS Phạm Văn Năng (2002), Sử dụng các công cụ tài chính để huy động vốn cho chiến lược phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam đến năm 2020, Nhà xuất bản thông kê Thành phố Hồ Chí Minh. 22. Ủy Ban chứng khoán Nhà nước, Công ty tài chính quốc tế-IFC (1997), Đào tạo cơ bản về thị trường chứng khoán. 23. PGS.TS Nguyễ n Thị Diễm Châu (2000), Giải pháp tạo vốn cho các doanh nghiệp trong giai đoạn đầu hình thành thị trường chứng khoán TP.HỒ CHÍ MINH, Trường Đại học Kinh tế TPHCM. 24. PGS.TS Nguyễ n Thị Diễm Châu (2003), Một số giải pháp đa dạng hoá các sản phẩm tài chính nhằm đẩy mạnh hoạt động đầu tư chứng khoán trên thị trường chứng khoán TP.Hồ CHÍ MINH, Trường Đại học Kinh tế TPHCM. 25. Ủy ban Chứng khoán: ( 2009, 2020, 2011, 2012) , Đầu tư Chứng khoán, Hà Nội 26. Bộ tài chính : (2011, 2012) , Tạp chí Tài Chính, Hà Nội B. WEBSITE

Http://www.ssc.gov.vn Http://www.vse.org.vn Http://www.bsc.com.vn Http://www.ssi.com.vn Http://www.sbsc.com.vn Http://www.kls.vn Http ://w ww.cafef.vn Http://www.nasdaq.com Http://www.vietnam.gov.vn Http://www.euronet.com Http://www.sbv.gov.vn Http://www.vietstock.vn Http://www.cophieu68.vn Http://www.chungkhoanphuongnam.com.vn Http://www.hnx.vn Http://www.hsx.vn Http://www.vndirect.vn Http://www.srtc.org.vn Http://www.mof.gov.vn/ Http://tinnhanhchungkhoan.vn/ Http://www.google.com.vn

PHỤ LỤC 01

Chỉ tiêu tài chính của các công ty chứng khoán ( Đơn vị tính : 1.000đ )

Tên công Tổng doanh Lợi nhuận sau Tổng tài sản Tài sản ngắn hạn Tổng nợ Nợ ngắn hạn Vốn chủ sở hữu Năm thu thuế ty

KLS 272,268 (173,999) 2,448,202 2,177,084 124,719 123,740 2,323,484

1,421,195 90,196 9,178,320 8,504,048 7,540,468 6,310,721 1,637,852 SBS 2010 1,503,617 688,163 8,792,895 ,366,260 3,192,576 3,050,268 5,600,319 SSI

NVMG 8,513,559 1,342,086 56,187,251 46,411,531 32,766,541 29,131,929 23,718,656

KLS 434,812 352,042 2,341,729 2,028,981 833,473 832,561 1,508,256

770,292 254,467 7,130,351 6,592,465 5,859,296 3,732,949 1,271,055 SBS 2009 1,121,558 804,080 7,076,985 4,738,111 2,227,837 1,864,617 4,849,148 SSI

NVMG 5,383,708 2,490,321 42,340,103 33,236,787 25,759,180 21,265,101 16,818,560

KLS 287,776 (350,089) 916,708 583,574 231,696 231,511 685,012

406,399 31,047 2,456,330 1,923,390 1,300,323 1,292,950 1,156,007 SBS 2008 544,054 279,810 5,620,293 2,831,855 1,712,090 935,465 3,908,202 SSI

NVMG 1,510,025 (630,049) 16,048,730 11,824,296 8,619,003 7,834,820 7,604,740

( Nguồn: http://www.cophieu68.com )

PHỤ LỤC 02 SƠ ĐỒ TỔ CHỨC BỘ MÁY NHÂN SỰ CỦA CÁC CÔNG TY CHỨNG KHOÁN TẠI VIỆT NAM

PHỤ LỤC 03 PHIẾU THĂM DÒ Ý KIẾN NHÀ ĐẦU TƯ ( NVMG: đại diện cho các công ty chứng khoán đã niêm yết )

Nhà đầu tư: ....................................................................................................................... Địa chỉ: .............................................................................................................................. Số điện thoại: ............................................. Email: .......................................................... Để phục vụ và đáng ứng ngày càng tốt hơn các nhu cầu đầu tư chứng khoán của nhà đầu tư, xin Quý nhà đầu tư vui lòng điền thông tin phía sau:

1. Sản phẩm và dịch vụ của công ty chứng khoán nào được nhà đầu tư đánh giá cao:

Rất kém Công ty  SSI  SBS  KLS  NVMG Kém     Bình thường     Tốt    

2. Thời gian nhận lệnh và mở tài khoản cho nhà đầu tư: Công ty

Chưa tốt  SSI  SBS  KLS  NVMG Tạm được     Khá     Tốt    

3. Mức phí giao dịch và phí ứng trước: Công ty

Thấp SSI SBS KLS NVMG     Trung bình     Cao    

4. Thái độ phục vụ của nhân viên: Công ty

Thấp SSI SBS KLS NVMG     Trung bình     Cao    

5. Mức độ hài lòng về sản phẩm, dịch vụ và nhân viên của công ty chứng khoán: Công ty

Thấp  SSI  SBS  KLS  NVMG Trung bình     Cao    

6. Đánh giá hình ảnh, thương hiệu của công ty chứng khoán:

Công ty Chưa tốt SSI   SBS  KLS  NVMG Tốt        

Tạm được Khá     7. Ý kiến đóng góp của nhà đầu tư (nếu có): ............................................................. ............................................................................................................................................ ............................................................................................................................................ ............................................................................................................................................ ............................................................................................................................................ ............................................................................................................................................ Xin chân thành cảm ơn và chúc nhà đầu tư thành công!