
Chống Duyhring I
Chương 8: Chân lý vĩnh cửu
Chúng tôi không đưa ra đây những mẫu lấy từ cái mớ hỗn độn của những lời ba
hoa nhạt nhẽo và những câu sấm hồ đó, rởm lại là từ những lời nhảm nhí thuần tuý
mà suốt trong năm mươi trang sách ông Đuy-rinh hiến cho độc gỉa của mình, coi
đó là một khoa học sâu đến tận gốc về những yếu tố của ý thức. Chúng tôi chỉ dẫn
ra đoạn sau đây:
"Kẻ nào chỉ có khả năng suy nghĩ bằng ngữ ngôn thôi thì kẻ đó chưa bao giờ cảm
thấy được tư duy trừu tượng, tư duy thực sự là gì."
Theo đó thì súc vật là những nhà tư tưởng trừu tượng nhất, thực sự nhất, vì tư duy
của chúng không bao giờ bị vẩn đục bởi sự can thiệp rầy rà của ngữ ngôn cả. Dẫu
sao, xét theo những tư tưởng của ông Đuy-rinh và thứ ngữ ngôn mà ông ta dùng
để diễn đạt những tư tưởng đó, thì người ta thấy rằng những tư tưởng ấy ít thích
hợp đến mức nào với bất cứ một ngữ ngôn nào và ngôn ngữ Đức cũng ít thích hợp
đến mức nào với những tư tưởng ấy.
Cuối cùng, với một cảm giác nhẹ nhõm, chúng ta có thể chuyển sang phần thứ tư,
phần này, ngoài cái mơ hồ lớn những lời lẽ mơ hồ đó ra thì ít nhất cũng còn trình
bày được đây đó một điều gì có thể hiểu được về vấn đề đạo đức và pháp quyền.
Lần này, ngay từ đầu, chúng ta đã được mời đi du hành trên các thiên thể khác:
những yếu tố của đạo đức cũng phải
"biểu hiện... một cách trùng hợp ở tất cả những sinh vật không phải loài người,
những sinh vật mà lý tính tích cực của chúng phải sắp xếp một cách có ý thức
những biểu hiện bản năng của sự sống. Vả lại, sự quan tâm của chúng ta đến
những kết luận như thế vẫn không lớn lắm... Nhưng ngoài ra đó vẫn là một ý kiến
mở rộng một cách bổ ích tầm mắt của chúng ta, nếu như chúng ta hình dung được

Chống Duyhring I
rằng trên những thiên thể khác, đời sống cá nhân và đời sống tập thể đều nhất thiết
phải xuất phải từ một sơ đồ... không thể gạt bỏ hay bỏ qua cái tổ chức cơ bản
chung của một sinh vật hành động theo lý tính".
Nếu như ở đây, hiệu lực của những chân lý của ông Đuy-rinh ngay cả đối với mọi
thế giới khác có thể có, lại được nêu lên với tư cách là một ngoại lệ ngay từ đầu,
chứ không phải ở cuối chương, thì điều đó có lý do đầy đủ của nó. Một khi đã xác
định trước hết rằng những quan niệm của ông Đuy-rinh về đạo đức và chính nghĩa
là có hiệu lực đối với tất cả các thế giới, thì người ta lại càng dễ mở rộng một cách
bổ ích hiệu lực ấy cho tất cả các thời đại. Và ở đây cũng vẫn là những chân lý
tuyệt đỉnh cuối cùng, không hơn không kém.
Thế giới đạo đức "cũng như thế giới của trí thức phổ biến... có những nguyên tắc
vĩnh hằng và những yếu tố giản đơn của nó", những nguyên tắc đạo đức "đứng
trên lịch sử và trên cả những sự khác biệt hiện nay về tính chất đấu tranh... Những
chân lý đặc thù - trong quá trình phát triển, ý thức đạo đức đầy đủ hơn, và có thể
nói là lương tâm, được hình thành nên từ những chân lý đó - có thể, trong chừng
mực chúng được nhận thức đến tận những cơ sở cuối cùng của chúng, đòi hỏi có
một hiệu lực và một tầm quan trọng giống như những chân lý của toán học và
những sự vận dụng toán học. Những chân lý thật sự thì nói chung không biến đổi...
thành thử thật là điên rồ nếu hình dung rằng sự đúng đắn của nhận thức phải tuỳ
thuộc vào thời gian và những sự thay đổi hiện thực". Vì vậy, tính xác thực của tri
thức nghiêm túc và sự vừa tầm của nhận thức thông thường - khi ở trong một trạng
thái minh mẫn, -không cho phép chúng ta được hoài nghi hiệu lực tuyệt đối của
các nguyên tắc của trí thức. "Ngay cả bản thân sự hoài nghi dai dẳng cũng đã là
một trạng thái yếu đuối bệnh tật, và chẳng qua chỉ là biểu hiện của một sự lẫn lộn
không thể cứu vãn được, một sự lẫn lộn đôi khi tìm cách tạo ra cái vẻ bề ngoài
vững chắc nào đó bằng cách nhận thức một cách có hệ thống về sự vô giá trị của
mình. Trong các vấn đề đạo đức, để phủ nhận những nguyên tắc phổ biến, người ta

Chống Duyhring I
bám vào tính chất nhiều vẻ về mặt địa lý và lịch sử của những phong tục và những
nguyên tắc và chỉ cần khoác cho nó cái tính tất yếu không thể tránh khỏi của cái
xấu và cái ác, là nó đã có thể hoàn toàn bác bỏ ý nghĩa nghiêm túc và hiệu quả
thực tế của những động cơ đạo đức trùng hợp. Cái chủ nghĩa loài nghi ăn mòn đó -
một chủ nghĩa không nhằm chống lại những học thuyết giả cá biệt nào, mà là
chống lại chính cái khả năng của loài người vươn lên tới đạo đức tự giác, - cuối
cùng sẽ trở thành cái hư vô thực sự, thậm chí trở thành một cái gì còn tệ hơn chủ
nghĩa hư vô đơn thuần... Trong cái đống hỗn độn mơ hồ những quan niệm đạo đức
đã tan rã, nó tự an ủi bằng cái hy vọng là có thể thống trị dễ dàng và mở toang tất
cả các cửa cho sự tuỳ tiện vô nguyên tắc. Nhưng nó đã lầm to: vì chỉ cần vạch ra
những số mệnh không tránh khỏi của lý tính trong sai lầm và trong chân lý, để
thông qua riêng sự so sánh ấy cũng có thể thấy rõ rằng khả năng mắc sai lầm có
tính chất quy luật tự nhiên không gạt bỏ khả năng thực hiện cái đúng".
Cho đến nay, chúng ta vẫn bình tĩnh tiếp nhận tất cả những câu nói hoa mỹ đó của
ông Đuy-rinh về những chân lý tuyệt đỉnh cuối cùng, về quyền tối cao của tư duy,
về tính xác thực tuyệt đối của của nhận thức, v.v... bởi vì vấn đề đó chỉ có thể giải
quyết được ở cái điểm mà hiện giờ chúng ta đã đến. Cho đến nay, chỉ cần nghiên
cứu xem những lời khẳng định cá biệt của triết học hiện thực đã nói một "giá trị tối
cao" và một "quyền tuyệt đối về chân lý" đến mức nào, là đủ; còn bây giờ chúng ta
đi đến vấn đề xét xem liệu những sản phẩm của nhận thức của con người nói
chung có thể có được giá trị tối cao và quyền tuyệt đối về chân lý hay không, và
nếu có thì đó là những sản phẩm nào. Khi tôi nói: "nhận thức của con người", thì
tôi nói như vậy không phải với ý định làm mất lòng những dân cư trên các thiên
thể khác mà tôi không có hân hạnh được biết mà chỉ vì súc vật cũng nhận thức,
mặc dù không có gì là tối cao cả. Con chó nhận thức người chủ của nó là thượng
đế của nó, mặc dầu người chủ này có thể là một thằng đểu cáng nhất.

Chống Duyhring I
Tư duy của con người có phải là tối cao hay không? Trước khi trả lời là phải hay
không phải, trước hết phải nghiên cứu xem tư duy của con người là gì đã. Nó có
phải là tư duy của một cá nhân không? Không phải. Nhưng nó vẫn chỉ tồn tại với
tư cách là tư duy cá nhân của hàng tỷ người trong quá khứ, hiện tại và tương lai.
Song nếu tôi nói rằng tư duy của tất cả những con người ấy, kể cả của những con
người tương lai nữa, được tổng hợp lại trong quan niệm của tôi, là tư duy tối cao,
rằng nó có khả năng nhận thức được thế giới hiện có trong chừng mực mà nhân
loại tồn tại đủ lâu dài và trong chừng mực mà nhận thức ấy không bị giới hạn bởi
những những khí quan nhận thức và bởi những đối tượng nhận thức - thì như thế
là tôi đã nói một điều khá tầm thường, hơn nữa khá vô bổ. Vì kết quả quý báu nhất
của điều đó chỉ có thể là làm cho chúng ta hết sức hoài nghi nhận thức hiện nay
của chúng ta, bởi lẽ chắc chắn rằng chúng ta hầu như chỉ mới ở bước đầu của lịch
sử nhân loại, và những thế hệ sau này sẽ uốn nắn lại chúng ta, tất phải đông hơn
rất nhiều so với những thế hệ mà nhận thấy hiện phải được chúng ta uốn nắn lại -
lắm lúc với một thái độ khá khinh miệt.
Bản thân ông Đuy-rinh cũng tuyên bố điều sau đây là một tất yếu: ý thức, và do đó
cá tư duy và nhận thức, chỉ có thể biểu hiện ở một loạt sinh vật cá biệt thôi. Chúng
ta chỉ có thể gán quyền tối cao cho tư duy của mỗi cá nhân ấy trong chừng mực
chúng ta không thấy có một quyền lực nào có thể dùng bạo lực áp đặt cho cá nhân
ấy - trong trạng thái khoẻ mạnh và tỉnh táo - một tư tưởng nào đấy. Còn vế giá trị
tối cao của những nhận thức mà tư duy của mỗi cá nhân đạt được thì tất cả chúng
ta đều biết rằng không thể nói như thế được, rằng căn cứ vào vào tất cả kinh
nghiệm từ trước đến nay của chúng ta thì những nhận thức ấy, không trừ một kinh
nghiệm nào, bao giờ cũng chứa đựng những yếu tố có thể cái tiến được nhiều hơn
nhiều so với những yếu tố không cần một sự cải tiến như thế, hay những yếu tố
đúng đắn.

Chống Duyhring I
Nói một cách khác: tính tối cao của tư duy chỉ được thực hiện trong một loạt
người tư duy cực kỳ không tối cao; nhận thức có quyền tuyệt đối nắm chân lý thì
được thực hiện trong một loạt những sai lầm tương đối; cả hai đều không thể thực
hiện được đầy đủ bằng cách nào khác ngoài cách thông qua một dẫy dài vô tận của
nhân loại.
Ở đây, chúng ta lại thấy cũng cái mâu thuẫn đã gặp ở trên kia, giữa cái tính chất
nhất thiết phải được coi là tuyệt đối của tư duy con người, với tính hiện thực của
nó trong những cá nhân có tư duy hạn chế[28], một mâu thuẫn chỉ có thể giải quyết
được trong quá trình tiến lên vô tận, trong sự nối tiếp trên thực tế là vô hạn - ít
nhất là đối với chúng ta - của các thế hệ loài người. Theo ý nghĩa đó thì tư duy của
con người vừa là tối cao vừa là không tối cao, và khả năng nhận thức của con
người vừa là vô hạn vừa là có hạn. Tối cao và vô hạn - xét theo bẩm tính, sứ mệnh,
khả năng và mục đích lịch sử cuối cùng; không tối cao và có hạn - xét theo sự thực
hiện cá biệt và thực tế trong mỗi một thời điểm nhất định.
Về những chân lý vĩnh cửu thì cũng vậy. Nếu nhân loại đạt tới chỗ chỉ vận dụng
toàn những chân lý vĩnh cửu, những kết quả của tư duy có giá trị tối cao và có
quyền tuyệt đối nắm chân lý, thì điều đó có nghĩa là nhân loại đã tới một điểm mà
tính vô tận của thế giới tri thức đã cùng kiệt xét về mặt hiện thực cũng như về mặt
tiềm năng và như thế là đã thực hiện được cái điều thần kỳ nổi tiếng là đếm được
sự hằng hà vô số.
Nhưng, chẳng phải là vẫn có những chân lý được xác lập một cách vững chắc đến
mức là đối với chúng ta, mỗi một sự nghi ngờ chúng đều có nghĩa là một sự điên
rồ, đó sao? Như hai lần hai là bốn, ba góc của một hình tam giác thì bằng hai góc
vuông, thành Pari là ở Pháp, người ta không ăn thì chết, v.v., đó sao? Như vậy,
chẳng phải là vẫn có những chân lý vĩnh cửu, những chân lý tuyệt đỉnh cuối cùng
đó sao?

