
Chống Duyhring I
Chương 10: Quyền tự do và tất yếu
"Đối với lĩnh vực chính trị và pháp lý, thì những nguyên tắc đề ra trong giáo trình
này dựa trên một sự nghiên cứu chuyên môn hết sức sâu sắc. Vì vậy... cần xuất
phát từ chỗ là... ở đây, đang nói đến sự trình bày một cách nhất quán những kết
quả đã thu được trong lĩnh vực luật học và khoa học quản lý quốc gia. Ngành
chuyên môn lúc ban đầu của tôi là luật học và không những tôi đã dành vào đó ba
năm như thường lệ để chuẩn bị về lý luận ở đại học, mà trong thời gian ba năm
thực tập xử ản sau đó, tôi vẫn tiếp tục nghiên cứu, đặc biệt là để đi sâu vào nội
dung khoa học của môn ấy... Cho nên sự phê phán của tôi đối với các quan hệ tư
pháp và đối với những thiếu sót tương ứng về pháp lý chắn chắn là không thể tiến
hành với một sự vững tin như nhau, nếu không có ý thức là đã hiểu biết được tất
cả những mặt yếu cũng như những mặt mạnh của môn học ấy".
Một người có cơ sở để nói về mình như vậy chắc phải làm cho mọi người tín
nhiệm trước, đặc biệt là nếu so sánh với
"ông Mác, người đã có lúc nghiên cứu một cách chểnh mảng môn luật học, như
ông ta đã thú nhận".
Vì vậy, chúng ta không khỏi ngạc nhiên khi thấy sự phê phán các quan hệ tư pháp
một cách vững tin như vậy lại chỉ giới hạn trong việc kể với chúng ta rằng.
"Tính chất khoa học của ngành luật học ... chưa tiến xa được mấy", rằng dân luật
nhân định là bất công vì nó thừa nhận tài sản dựa trên bạo lực, rằng "cơ sở tự
nhiên" của hình luật là sự báo thù, -
Một sự khẳng định trong đó cái mới chỉ là ở sự trá hình thần bí thành "cơ sở tự
nhiên". Những thành quả của khoa học quản lý quốc gia chỉ giới hạn ở những

Chống Duyhring I
quan hệ qua lại giữa ba người mà chúng ta đã biết, trong đó một người xưa nay
vẫn dùng bạo lực đối với hai người kia, đồng thời ông Đuy-rinh cũng nghiên cứu
hết sức nghiêm túc xem người đầu tiên đã sử dụng bạo lực và sự nô dịch là người
thứ hai hay người thứ ba.
Tuy vậy, chúng ta hãy theo dõi thêm những sự nghiên cứu chuyên môn hết sức sâu
sắc và tính khoa học sâu hơn nhờ ba năm thực tập xử án của nhà luật học vững tin
của chúng ta.
Về Lassalle, ông Đuy-rinh kể với chúng ta rằng.
Lassalle đã bị truy tố "vì kích thích mưu toan đánh cắp một cái tráp", nhưng
"không hề bị toà tuyên án phạt vì lúc ấy còn có thể áp dụng cái gọi là tha vì thiếu
tang chứng... tức là nửa tha bổng".
Vụ án Lassalle nói ở đây đã được xét xử vào mùa hè năm 1848 trước toà án ở
Koln, nơi mà bộ hình luật của Pháp đang được áp dụng, cũng giống như ở hầu
khắp các nơi khác trong tỉnh Rhein. Chỉ đối với tội nhẹ hoặc nặng về chính trị luật
Phổ[33] mới được áp dụng coi như một ngoại lệ, nhưng tới tháng tư năm 1848
ngoại lệ này cũng lại bị Camphausen xoá bỏ. Pháp luật của Pháp hoàn toàn không
hề biết cái phạm trù mơ hồ trong luật Phổ như "kích thích" người ta phạm trọng
tội, đó là chưa nói đến việc "kích thích" mưu toan phạm trọng tội, và để có thể bị
trừng phạt thì sự xúi giục này phải diễn ra "bằng quà cáp, hứa hẹn doạ dẫm, lạm
dụng chức vụ hay quyền hành, mưu mô xảo quyệt hay mánh khoé đáng trị
tội"(Code pénal[34], điều 60). Viện công tố - giống như ông Đuy-rinh, - bị chìm
ngập trong bộ luật Phổ, đã hoàn toàn không thấy sự khác biệt chủ yếu giữa điều
luật được quy định một cách rõ ràng dứt khoát của Pháp và sự mơ hồ không xác
định của luật Phổ, đã truy tố Lassalle một cách có dụng ý và đã thất bại một cách
nổi bật. Còn khẳng định rằng việc xét xử tội hình của Pháp có biết đến phạm trù
của luật Phổ - tha vì thiếu tang chứng, tức là nửa tha bổng, - thì chỉ có một kẻ hoàn

Chống Duyhring I
toàn không biết gì về luật pháp hiện đại của Pháp mới dám làm ; trong việc xét xử
tội hình, luật pháp hiện đại của Pháp chỉ biết có kết tội hay tha bổng, chứ không hề
có biện pháp nửa vời.
Như vậy, chúng ta phải nói rằng nếu như ông Đuy-rinh một lần nào đó có được bộ
Code Napoléon[35] ở trong tay thì chắc ông ta đã không thể áp dụng một cách vững
tin như vậy "lối viết sử cao nhã" đó vào trường hợp Lassalle. Do đó chúng ta bắt
buộc phải xác nhận rằng ông Đuy-rinh hoàn toàn không biết về bộ luật tư sản hiện
đại độc nhất của Pháp, một bộ luật dựa vào những thành quả ấy sang ngôn ngữ của
luật pháp, tức là bộ luật hiện đại của Pháp.
Ở một chỗ khác, khi phê phán chế độ toà án hội thẩm, phát quyết theo đa số, mà
người ta áp dụng ở khắp lục địa theo kiểu mẫu của Pháp, chúng ta được dạy như
sau :
"Phải, người ta thậm chí sẽ có thể quen với cái ý nghĩ - không phải là đã không có
trong lịch sử cho rằng việc kết án khi có những ý kiến phản đối, sẽ là một chế độ
không thể có được trong một xã hội hoàn mỹ... Tuy vậy, cái lối suy nghĩ nghiêm
túc và có tính tư tưởng sâu sắc này, như chúng ta đã chỉ ra ở trên, dường như là
không thích hợp với những hình thức cổ truyền, vì nó quá tốt đối với hình thức
ấy".
Một lần nữa, ông Đuy-rinh lại không biết rằng theo luật phổ thông của Anh, tức là
theo luật tập quán chưa thành văn, có hiệu lực từ thời xa xưa, do đó ít nhất cũng là
từ thế kỷ XIV, thì sự nhất trí của các viên thẩm phán là tuyệt đối cần thiết không
những trong các vụ kết án về tội hình mà ngay cả trong việc xét xử những vụ án
dân sự nữa. Như vậy là cách suy nghĩa nghiêm túc và có tính tư tưởng sâu sắc mà
ông Đuy-rinh cho là quá tốt đối với thế giới ngày nay, thì ở anh nó đã có hiệu lực
luật pháp ngay từ thời trung cổ tối tăm nhất, và từ Anh, nó đã được đưa sang Ai-
rơ-len, Hợp chủng quốc Mỹ, tất cả các thuộc địa của Anh, - hơn nữa những sự

Chống Duyhring I
nghiên cứu chuyên môn hết sức sâu sắc cũng chẳng hề nó một tiếng nào cho ông
Đuy-rinh biết về điều đó cả ! Như vậy là lĩnh vực tác động của sự nhất trí phán
quyết của các viên bồi thẩm những vô cùng rộng lớn hơn lĩnh vực tác động rất nhỏ
bé của bộ luật Phổ, mà nó còn rộng lớn hơn tất cả các lĩnh vực trong đó các bồi
thẩm phán quyết theo đa số, cộng lại. Không những ông Đuy-rinh hoàn toàn
không biết đến luật pháp cận đại duy nhất là luật pháp của Pháp ; ông ta cũng
không biết gì về luật Đức duy nhất, một luật pháp đã tiếp tục phát triển cho đến
ngày nay một cách độc lập đối với uy quyền của luật Rô-ma và đã lan tràn ra khắp
nơi trên thế giới, - luật pháp Anh. Tại sao không biết ? Vì lối suy nghĩ của Anh về
luật pháp.
"vẫn không đứng vững được trước nền giáo dục đã hình thành trên lãnh thổ Đức,
theo tinh thần các khái niệm thuần tuý của các nhà luật học cổ điển Rô-ma".
Ông Đuy-rinh đã nói như thế và ông ta nói tiếp :
"so với kết cấu ngữ ngôn độc đáo của chúng ta thì cái thế giới nói riêng Anh, với
mớ ngữ ngôn hỗn tạp ấu trĩ của nó có nghĩa lý gì ?".
Nói như vậy thì chúng ta chỉ có thể trả lời bằng câu hỏi của Spinoza : Ignorantia
non est argumentum, sự ngu dốt không phải là một lý do[36].
Sau tất cả những điều đó chúng ta không thể đi đến một kết luận nào khác ngoài
kết luật sau đây : những sự nghiên cứu chuyên môn hết sức sâu sắc của ông Đuy-
rinh là vùi đầu ba năm trong việc nghiên cứu lý luật về Corpus juris[37] và ba năm
nữa trong việc thực tiễn nghiên cứu luật pháp cao quý của nước Phổ. Chắc chắn là
điều đó cũng đã hoàn toàn xứng đáng và đầy đủ đối với một vị thẩm phán rất đáng
tôn kính của toà án huyện hoặc một luật sư kiểu cũ của Phổ. Nhưng khi người ta
bắt tay vào việc viết một khoa triết học pháp quyền cho tất cả mọi thế giới và mọi
thời đại thì dù sao, người ta cũng phải biết một chút ít về những quan hệ pháp luật
ở những nước như Pháp, Anh, Mỹ, là những nước trong lịch sử đã từng đóng một

Chống Duyhring I
vai trò khác hẳn với cái góc nhỏ bé của nước Đức, tại đó luật pháp Phổ đang phồn
thịnh. Nhưng chúng ta hãy xem tiếp.
"Sự trộn lẫn một cách hỗn tạp những luật pháp địa phương, hàng tỉnh, và hàng
bang, giao chéo nhau một cách hết sức tuỳ tiện theo nhiều hướng khác nhau, khi
thì với tư cách là luật tập quán, khi thì với tư cách luật thành văn, thường khoác
cho những vấn đề quan trọng nhất một hình thức thuần tuý quy tắc, - bộ sưu tập về
những kiểu mẫu hỗn loạn và mâu thuẫn ấy, trong đó cái riêng thủ tiêu cái chung,
rồi sau đó, khi có dịp thì cái chung lại thủ tiêu cái riêng, quả thật là không thể
dùng để làm cho một ai đó có thể có được... một ý thức pháp lý rõ ràng".
Nhưng tình trạng hỗn loạn này ngự trị ở đâu ? Vẫn lại trong lĩnh vực tác động của
luật pháp Phổ, nơi mà bên cạnh, bên trên và bên dưới cái luật pháp Phổ ấy, những
luật pháp của tỉnh, những quy chế của địa phương, - đây đó còn có cả luật phổ
thông và những cái tạp nhạp khác nữa, - vẫn còn có hiệu lực với những mức độ hết
sức khác nhau và làm cho tất cả những nhà luật học thực tiễn phải thốt ra tiếng kêu
thất vọng mà ông Đuy-rinh lắp lại ở đây một cách rất đồng tính. ông ta chẳng cần
phải rời xa nước Phổ thân yêu của ông ta đâu, ông ta chỉ cần đến thăm tỉnh Rhein
là có thể thấy rõ rằng ở đó, đã bẩy chục năm nay, người ta không còn nhắc đến tất
cả những cái đó nữa, - đó là chưa kể những nước văn minh khác tại đó những
trạng thái lỗi thời như thế đã bị loại bỏ từ lâu rồi.
Chúng ta đọc tiếp:
"Dưới một hình thức kém rõ ràng hơn, trách nhiệm tự nhiên của cá nhân được che
đậy bằng những quyết định và hành vi tập thể bí mật và do đó khuyết danh của
những hội đồng hoặc cơ quan chính quyền khác, chúng che lấp phần tham dự cá
nhân của mỗi thành viên".
Và ở một chỗ khác:

