CHUI CUNG NG ĐIN T,
CHUI CUNG NG ĐIN T
,
THƯƠNG MI HP TÁC VÀ
THƯƠNG MI HP TÁC VÀ
CNG THÔNG TIN DOANH NGHIP
CNG THÔNG TIN DOANH NGHIP
CHUI CUNG NG ĐIN T,
THƯƠNG MI HP TÁC VÀ
CNG THÔNG TIN DOANH NGHIP
CHUỖI CUNG ỨNG ĐIỆN TỬ, THƯƠNG MẠI HỢP TÁC VÀ CỔNG
THÔNG TIN DOANH NGHIỆP
I.Chuỗi cung ứng điện tử.
A. Các định nghĩa và khái niệm.
1.Chuỗi cung ứng.
Khái niệm về chuỗi cung ứng xuất hiện từ những năm 60 của thế kỉ XX. Khi đó,
chuỗi cung ng đơn lẻ, nhưng khi người ta kết hợp cả việc cung ứng vật tư, thuật,
nguyên vật liệu.. với việc phân phối sản phẩm, việc xây dựng các chuỗi cung ứng mang một
bộ mặt khác.Dòng các nguyên vật liệu, thông tin, tiền bạc, các dịch vụ từ các nhà cung
cấp nguyên vật liệu đầu tiên thông qua các nhà máy, kho hàng cho khách hàng cuối cùng
Chuỗi cung ứng thể hình dung như một sợi dây xích những nhà cung ứng sản
phẩm/vật tư, dịch vụ, thông tin tài chính, các tổ chức, công ty trung gian cho đến người
tiêu dùng cuối cùng là một mắt xích liên kết chặc chẽ với nhau.
Hay định nghĩa theo một cách dễ hiểu hơn đó là:
Một chuỗi cung ứng một hệ thống các tổ chức, con người, công nghệ, hoạt động,
thông tin nguồn lực liên quan đến di chuyển một sản phẩm hay dịch vụ từ nhà cung cấp
cho khách hàng. Các hoạt động chuỗi cung ứng chuyển đổi các tài nguyên thiên nhiên ,
nguyên liệu và các thành phần vào một sản phẩm thành phẩm được phân phối đến khách
hàng cuối cùng .
2. Chuỗi cung ứng điện tử.
Một chuỗi cung ứng quản lý điện tử, thường là với các công nghệ Web, công nghệ
điện toán đám mây.
3. Các bộ phận Chuỗi cung ứng : bao gồm
Chuỗi cung ứng thượng nguồn được thể hiện bằng hình thức mua sắm: Quá
trình thực hiện của một loạt các hoạt động tổ chức thu hay giành được quyền truy cập
vào các nguồn lực (vật liệu, năng, khả năng, sở vật chất) họ yêu cầu để thực hiện
các hoạt động kinh doanh cốt lõi của họ.
Chuỗi cung ứng nội bộ
Chuỗi cung ứng hạ nguồn
4. Quản lí chuỗi cung ứng (SCM)
Có thể hiểu định nghĩa của quản lí chuỗi cung ứng theo cách này: SCM là sự phối kết
hợp nhiều thủ pháp nghệ thuật khoa học nhằm cải thiện cách thức các công ty tìm kiếm
những nguồn nguyên liệu thô cấu thành sản phẩm/dịch vụ, sau đó sản xuất ra sản phẩm/dịch
vụ đó và phân phối tới các khách hàng được thực hiện có hiệu quả hiệu quả cho tất cả các
bên liên quan. SCM nhằm mục đích để giảm thiểu mức hàng tồn kho, tối ưu hóa sản xuất
tăng năng suất lao động, giảm thời gian sản xuất, hậu cần tối ưu hóa phân phối,
sắp xếp thực hiện đơn hàng,tổng thể giảm các chi phí liên quan với các hoạt động này.
Quản chuỗi cung ứng công việc không chỉ dành riêng cho các nhà quản về
chuỗi cung ứng. Tất cả những bộ phận khác của một tổ chức cũng cần hiểu về SCM bởi họ
cũng trực tiếp ảnh hưởng đến sự thành công hay thất bại của chuỗi cung ứng.
Quản chuỗi cung ng điện tử: Việc sử dụng hợp tác công nghệ để cải thiện hoạt
động của chuỗi cung ứng cũng như quản lý chuỗi cung ứng.
5. Sự thành công của một chuỗi cung ứng phụ thuộc vào:
Khả ng của tất cả các đối tác trong chuỗi cung ứng để xem sự hợp tác như
một tài sản chiến lược: đây được xem yếu tố quan trong nhất hiên nay, trong thời đại
nền kinh tế thị trường thì nguồn nhân lực được xem yếu tố quyết định cho sự phát triển
của mỗi đất nước làm sao để sự phối hợp giữa các nhân tố lao động thì đó là một vấn
đề quan trọng. vậy để quản chuỗi cung ứng hiệu quả cũng như để được thành công
thì phải đặt các đối tác quan hệ lên đầu. Đây một trong những trụ cột chính của SCM.
Việc đúng người với đúng năng bước đầu tiên tới sự hoàn hảo trong chuỗi cung
ứng.
Một chiến lược chuỗi cung ứng được xác định rõ:
Sản phẩm chức năng: sản phẩm chủ lực nhu cầu ổn định, dự đoán được yêu
cầu đơn giản, hiệu quả, chi phí thấp.
Sản phẩm sáng tạo: có xu hướng lợi nhuận cao hơn, nhu cầu biến động, và chu
kỳ đời sản phẩm ngắn. Những sản phẩm đòi hỏi một chuỗi cung ứng nhấn mạnh tốc
độ, đáp ứng, và tính linh hoạt chứ không phải là chi phí thấp.
Hoạch định chuỗi cung ứng là một công việc tất yếu trong quá trình hoạch định chiến
lược vận hành doanh nghiệp. Phạm vi của hoạch định chuỗi cung ng bắt đầu ngay từ
quá trình định hình chiến lược cho đến thực thi triển khai hoạt động kinh doanh. Nhiều
doanh nghiệp Việt Nam cho rằng hoạch định chuỗi cung ứng chẳng liên quan đến quá
trình xây dựng chiến lược kinh doanh. Đây một nhận định sai lầm! Thực tế, nếu doanh
nghiệp theo đuổi chiến lược cạnh tranh bằng giá thì chuỗi cung ứng đóng vai trò cực k
quan trọng trong tối ưu hóa chi phí. Hoặc nếu doanh nghiệp theo đuổi chiến ợc mở rộng
thị phần, chuỗi cung ứng cũng là yếu tố quyết định trong việc cung ứng hàng hóa và dịch v
đi kèm đến thị trường. vậy đê được hiệu quả trong quản chuỗi cung ứng, chúng ta
phải xác định rang chiến lược chuỗi cung ng gì??? Một chiến lược chuỗi cung ứng
bao gồm:
+ Hoạch định chiến lược nguồn cung
+ Hoạch định chiến lược sản xuất
+ Hoạch định chiến lược logistic và giao hàng.
Khả năng hiển thị thông tin dọc theo chuỗi cung ứng toàn bộ
Tốc độ, chi phí, chất lượng dịch vụ khách hàng: Thông thường hầu hết mọi
người đều quan tâm đến việc cắt giảm chi phí chuỗi cung ng đến mức thấp nhất thể.
Nhà quản trị phụ trách chuỗi cung cấp muốn chi phí thấp đế duy trì vị thế cạnh tranh, còn
người sử dụng muốn mua hàng với mức giá thấp nhất thể. Nhiều tổ chức giảm thiểu chi
phí hậu cần của họ đến những cấp độ c động đến hoạt động của tổ chức góc độ tổng
quát. Khi doanh nghiệp giảm chi phí vận chuyển sẽ giúp khả năng bán sản phẩm trên
bình diện địa rộng hơn. Các doanh nghiệp Nhật bản gợi ý rằng nếu chi phí vận chuyển
thấp sẽ làm cho giá thành của sản phẩm tính cạnh tranh hơn so với các sản phẩm được
sản xuất nội địa. Tương tự, vận tải hiệu quả giúp cho việc vận chuyển sản phẩm một cách
nhanh chóng trên khoảng cách tương đối lớn điều này dẫn đến hệ quả doanh nghiệp
không cần xây dựng các nhà kho truyền thống gần với khách hàng.
Trong khi nỗ lực cắt giảm chi phí, các tổ chức hiển nhiên phải duy tmức phục vụ
khách hàng. Cải thiện hoạt động hậu cần nghĩa rằng cung cấp sản phẩm khách hàng cần
với mức giá mức độ phục vhọ sẵn sàng chi trả. Trong nhiều trường hợp thì mức
phục vụ sẽ khác nhau nhưng nhân tố then chốt chính thời gian đặt hàng (lead time). Đây
chính là tổng thời gian giữa việc đặt ng nguyên vật liệu cho đến khi nhận. Đương nhiên
mọi người thích làm cho thời gian này càng ngắn càng tốt khi thể. Khi khách hàng
quyết định mua sản phẩm, họ mong muốn sớm nhận được chúng; nhà cung cấp muốn
khách hàng hài lòng với dịch vụ nhanh chóng chứ không phải chạy lòng vòng hoặc kẹt
đâu đó trong chuỗi cung cấp. Một cách lý tưởng là thời gian đặt hàng nên bằng không khi có
thể một cách tiếp cận đối với điều này chính dịch chuyển nguyên vật liệu đồng bộ.
Điều này tạo ra sự sẵn sàng thông tin cho tất cả các thực thể trong chuỗi cung cấp cùng
một thời điểm, thể các doanh nghiệp thể phối hợp việc dịch chuyển nguyên vật liệu,
hơn là phải ngồi đợi thông tin đến hoặc đi từ chuỗi cung cấp.
Một nhân tố khác ảnh hưởng đến sự thỏa mãn của khách hàng chính sản phẩm
riêng biệt. dụ thay vì mua một cuốn sách chuẩn, bạn thể mô tả nội dung mà bạn muốn
nhà xuất bản sẽ phát hành cuốn sách theo yêu cầu. Điều này gọi sản xuất theo yêu cầu
khách hàng khối lượng lớn (mass customization), kết hợp lợi ích của sản xuất khối lượng
lớn với tính linh hoạt của sản phẩm theo yêu cầu. Việc này sử dụng B2C khiến cho chuỗi
linh hoạt và giúp cho dịch chuyển nguyên vật liệu nhanh chóng hơn cũng như đáp ứng được
những yêu cầu hoặc điều kiện khác biệt.
Hãng máy tính Dell một trong số những công ty đầu tiên sử dụng sản xuất theo
yêu cầu khối lượng lớn. Họ không sản xuất một chiếc máy tính chuẩn, nhưng đợi cho đến
khi khách hàng đặt hàng trên trang web của công ty. Khi đó họ sản xuất chiếc máy tính cho
một
đơn hàng cụ thể. Công tác hậu cần đảm bảo tất cả những nguyên vật liệu cần thiết luôn sẵn
sàng cho hoạt động sản xuất, và phân phối sản phẩm hòan thành một cách nhanh chóng đến
với khách hàng.
Dell liên hệ mật thiết với nhà cung cấp họ phát triển thành một “stích hợp thực
sự” nơi tất cả nhà cung cấp lẫn Dell trở thành những bộ phận cấu thành của cùng một
công ty. Điều này chứng tỏ sự thành công với Dell, công ty sản xuất yêu cầu 50 linh kiện
chính, nhưng liệu điều này còn chứng tỏ sự thành công với công ty sản xuất ô
khoảng 3000 linh kiện? Sản xuất linh hoạt sẽ tạo ra những áp lực nghiêm ngặt lên chuỗi
cung cấp, nhưng chương trình 3DayCar gợi ý rằng khoảng 80% xe hơi Anh có thể được
sản xuất cho đơn đặt hàng vào năm 2010. vậy chúng ta cũng cần phải cân nhắc
sự phối hợp giữa tốc độ, chi phí, chất lượng và dịch vụ khách hàng.
Lồng ghép các chuỗi cung ứng chặt chẽ hơn: Nếu tổ chức chỉ chăm chú vào hoạt
động tác nghiệp riêng biệt của thì không cần thiết phải ranh giới giữa chúng, điều
này làm cản trở dòng nguyên vật liệu dẫn đến việc tăng chi phí. Tích hợp bên ngoài loại bỏ
những trở ngại ranh giới này nhằm cải thiện thành tích của cả chuỗi cung cấp.
Christopher khuyên c doanh nghiệp nên vận dụng điều này ông phát biểu rằng” Tất c