CÁC KỸ NĂNG CẦN CÓ CỦA NGƯỜI HƯỚNG DẪN
MỤC TIÊU
1. Phân tích được 5 vai trò của người hướng dẫn thực hành lâm sàng.
2. Trình bày được 5 k năng thiết yếu của người hướng dẫn lâm sàng.
3. Thảo luận đưa ra được hình mẫu người hướng dẫn lý tưởng trong đào tạo thực
hành lâm sàng cho điều dưỡng viên mới.
NỘI DUNG
Người hướng dẫn lâm sàng phải thực hiện vai trò kép, vừa là người hướng dẫn
lâm sàng vừa điều dưỡng viên chuyên nghiệp. Do đó vai trò các các k năng
cần của người hướng dẫn lâm sàng bao gồm các k năng của người dạy-học
thuyết thực hành lâm sàng cũng như k năng của người điều dưỡng chuyên
nghiệp hành nghề chăm sóc người bệnh và khách hàng.
1. VAI TRÒ CỦA NGƯỜI HƯỚNG DẪN THỰC HÀNH LÂM SÀNG
Trong công tác hướng dẫn thực hành lâm sàng cho điều dưỡng viên mới, việc
tích hợp kiến thức, k năng, thái độ đã học được trước đó (trong trường, thực tế…) là
rất quan trọng đgiúp điều dưỡng viên mới nâng cao năng lực thực hành nghề điều
dưỡng. Do đó, không giới hạn năng lực người hướng dẫn. Người hướng dẫn rất
cần những năng lực bản, chuẩn mực với cách là khuôn mẫu, thực hành chăm
sóc, hỗ trợ sao cho điều ỡng viên mới thể chủ động học tập từng ớc. Hơn
nữa ngoài năng lực chung, người hướng dẫn cần nhận thức vai trò trách nhiệm
theo yêu cầu tương ứng với từng vị trí.
Người ớng dẫn thực hành m ng phải người gần i thân cận nhất
với điều ng viên mới kh năng dìu dắt sao cho điều dưỡng viên mới
trưởng thành hơn mỗi ngày. Người ớng dẫn thực hành lâm sàng vai trò chung
như sau:
1.1. Hướng dẫn, hỗ trợ người học
Người hướng dẫn phải là một mô hình mẫu để người học noi theo.
Người hướng dẫn lâm sàng cần kết nối giữa những điều dưỡng viên mới
kết nối người điều dưỡng viên mới với những người khác trong quá trình học tập.
Đảm bảo sự thân thiện, công bằng phát huy tính chủ động của điều
dưỡng viên mới trong thực hành lâm sàng. Người ớng dẫn cần chủ động trao đổi
với người học về mục tiêu, kết quả mong chờ lập kế hoạch cụ thể cho từng
nhân người học để đạt được mục tiêu và kết quả mong chờ đã đề ra.
Người hướng dẫn phải luôn ln đồng nh với điều dưỡng viên mới để theo
i, giúp đỡ, đặtu hỏi, cho phép người học được quyn chăm sóc người bệnh.
Người hướng dẫn phải luôn luôn khuyến khích, động viên người học kịp
thời: “đúng rồi đó”, “cứ tiếp tục đi”. Đưa ra nhận xét phản hồi ngay khi cần.
Người hướng dẫn cần cho phép và trao quyn để người học thể hiện vai trò,
thái độ và hiểu biết về nghề nghiệp cùng các nhân viên y tế khác.
1.2. Đánh giá năng lực thực hành của người học
Người hướng dẫn sử dụng các công cụ để ợng giá người học trong quá
trình học tập nhằm hỗ trợ người học hình thành năng lực thực hành lâm sàng. Trong
quá trình đào tạo, người ớng dẫn cần thảo luận vi điều dưỡng viên mới về việc
tự lượng giá kiến thức và thực hành của điều ỡng viên mới. Thông qua việc đánh
giá người hướng dẫn sẽ xác định được mặt mạnh, mặt yếu của người học. Tuy nhiên
việc đánh giá cần đảm bảo tính chính xác, minh bạch và đưa ra nhận xét phản hồi
phù hợp tới người học.
Người ớng dẫn cần phải xác định việc đánh giá người học như một hoạt
động học tập để hỗ trợ người học hoàn thiện được năng lực của mình.
1.3. Làm hình mẫu trong vic ra quyết định, giải quyết vấn đề quản lãnh đạo
Người hướng dẫn với kiến thức, k năng kinh nghiệm nghề nghiệp của
mình để xử công việc được giao đồng thời hỗ trợ điều dưỡng viên mới trong việc
ra quyết định, chứng tỏ trách nhiệm cũng như các căn cứ của việc đưa ra các quyết
định đó. Người hướng dẫn cần thể hiện năng lực của mình trong việc giải quyết các
vấn đề liên quan và hỗ trợ điều dưỡng viên mới giải quyết các vấn đề đó.
Người ớng dẫn cần chỉ đạo lãnh đạo điều dưỡng viên mới trong thực
hiện công việc, đồng thời cũng hỗ trợ và giúp đỡ người bệnh; thể hiện và phát huy
khả năng lãnh đạo công việc trong nhóm người học hoặc trong hướng dẫn chăm sóc
cho người bệnh.
Người hướng dẫn cần thể hiện năng lực chuyên môn kiến thức rộng rãi
của mình trong thực hành lâm ng hình mẫu đối với điều dưỡng viên mi
trong việc cập nhật và nâng cao kiến thức, kng của mình.
1.4. Điều chỉnh môi trường học tập
Người ớng dẫn cần phổ biến mục tiêu đào tạo điều ỡng viên mới đến tất
cả các nhân viên khác trong khoa/cơ sy tế để mọi người đều hiểu vchương trình
hỗ trợ điều đưỡng viên mới hoàn thiện được kỹ năng của mình.
1.5. Xây dựng môi trường văn hóa trong đào tạo lâm sàng
Trong đào tạo thực hành lâm sàng, không chỉ có người ớng dẫn trực tiếp
hướng dẫn điều dưỡng viên mới tại khoa phòng, tất cả các nhân viên tại khoa
cơ sở y tế cũng tham gia vào quá trình đào tạo điều dưỡng viên mới.
Người hướng dẫn lâm sàng không chỉ hình mẫu để điều dưỡng viên mới
cảm nhận được tầm quan trọng của công việc chăm sóc sự tự hào đối với ngh
điều dưỡng. Người ớng dẫn cần thiết lập mối quan hệ thân thiện, tôn trọng người
bệnh y dựng môi trường hỗ trợ điều dưỡng viên mới cũng như tạo dựng mối
quan hệ tốt đẹp giữa những người có liên quan để thúc đẩy động cơ học tập của điều
dưỡng viên mới.
2. KỸ NĂNG NĂNG CHUN MÔN
2.1. Thực hiện Quy trình điều dưỡng và các kỹ thuật chăm sóc người bệnh
Quy trình điều dưỡng một phương pháp tổng hợp nhằm giúp người điều
dưỡng người bệnh xác định được nhu cầu cần chăm sóc, lên kế hoạch và thực
hiện chăm sóc cũng như là đánh giá kết quả chăm sóc.
Các bước trong quy trình điều ỡng đều liên hvới nhau khi thực hiện
quy trình điều dưỡng, người điều dưỡng luôn lấy người bệnh làm trung tâm.
Quy trình Điều dưỡng là một loạt các hoạt động theo một kế hoạch đã được
định trước, trực tiếp hướng tới một kết quả chăm sóc riêng biệt.
Quy trình điều ỡng giúp cho người điều dưỡng thực hiện các hành động
sau đây:
Thu thập đầu đủ thông tin của người bệnh (nhận định)
Xác định ràng các điểm mạnh những vấn đề người bệnh đang gặp
phải (chẩn đoán điều dưỡng).
y dựng một kế hoạch chăm sóc toàn diện cho một nhân cụ thể để đạt
được mục tiêu và các kết quả mong đợi. Các can thiệp điều ỡng nhằm
hỗ trợ người bệnh đạt được các mục tiêu kết quả mong chờ đó (lập kế
hoạch thực hiện).
Thực hiện kế hoạch chăm sóc (thực hiện kế hoạch)
Đánh g hiệu qu của kế hoch chăm c đi với vic đt đưc mục
tiêu đ ra.
Trong mỗi ớc của quy trình điều dưỡng, người điều dưỡng người bệnh
phải luôn cùng nhau thực hiện. Quy trình chăm sóc Việt Nam ta tiến hành 5 bước,
đó là:
1. Nhận định: Xác định các vấn đề về sức khỏe của người bệnh
2. Chẩn đoán điều dưỡng: Vấn đề cần chăm sóc và lý do
3. Lập kế hoạch chăm sóc: y dựng kế hoạch để giải quyết các vấn đề của
người bệnh
4. Thực hiện kế hoạch chăm sóc: Thực hiện các biện pháp hỗ trợ & giúp đỡ để
giải quyết các vấn đề của NB.
5. Đánh giá: Xác định hiệu quả của các can thiệp chăm sóc
Hình 2. Quy trình điều dưỡng
Người hướng dẫn lâm sàng cần phải làm quen với quá trình thăm khám, quan
sát, theo dõi, thu thập thông tin toàn diện từ mỗi người bệnh dựa trên các bước quy
trình điều dưỡng để đưa ra quyết định kế hoạch chăm sóc người bệnh phù hợp với
đặc điểm mang tính duy nhất của mỗi người bệnh.
Đối với việc thực hiện các quy trình kỹ thuật chuyên môn, người hướng dẫn
cần dựa vào các quy trình kỹ thuật do Bộ Y tế đã ban hành để có cơ sở pháp lý và cập
nhật các hướng dẫn mới nhất về tiến bộ trong lĩnh vực chăm sóc điều dưỡng. Trong
quá trình dạy-học lâm sàng người hướng dẫn cần nêu tấm gương về tuân thủ các quy
trình kỹ thuật và thực hànhh đúng phạm vi hoạt động chuyên môn được cho phép.
2.2. Bảo đảm an toàn người bệnh và kiểm soát nhiễm khuẩn
2.2.1 Bảo đảm an toàn người bệnh
Mục tiêu an toàn người bệnh theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO) là làm giảm
tối thiểu nguy cơ gây tổn hại liên quan đến chăm sóc y tế.
Chương 2 Điều 7 Thông tư 19/2013/ về Hướng dẫn thực hiện quản lý chất
lượng dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh trong các bệnh viện quy định:
1. Thiết lập chương trình và xây dựng các quy định cụ thể bảo đảm an toàn
người bệnh và nhân viên y tế với các nội dung chủ yếu sau:
a) Xác định chính xác người bệnh, tránh nhầm lẫn khi cung cấp dịch vụ;
b) An toàn phẫu thuật, thủ thuật;
c) An toàn trong sử dụng thuốc;
d) Phòng và kiểm soát nhiễm khuẩn bệnh viện;
Xác định hiệu quả
của các can thiệp
chăm sóc
e) Phòng ngừa rủi ro, sai sót do trao đổi, truyền đạt thông tin sai lệch giữa nhân
viên y tế;
f) Phòng ngừa người bệnh bị ngã;
g) An toàn trong sử dụng trang thiết bị y tế.
2. Bảo đảm i trường làm việc an toàn cho người bệnh, khách thăm và nhân
viên y tế; tránh tai nạn, rủi ro, phơi nhiễm nghề nghiệp.
3. Thiết lập hệ thống thu thập, báo cáo sai sót chuyên môn, sự cố y khoa tại các
khoa lâm sàng và toàn bệnh viện, bao gồm báo cáo bắt buộc và tự nguyện.
4. Xây dựng quy trình đánh giá sai sót chuyên môn, sự cố y khoa để xác định
nguyên nhân gốc, nguyên nhân tính hệ thống nguyên nhân chủ quan của nhân
viên y tế; đánh giá các rủi ro tiềm ẩn có thể xảy ra.
5. Xử sai sót chuyên môn, sự cố y khoa các hành động khắc phục đối
với nguyên nhân gốc, nguyên nhân tính hệ thống nguyên nhân chủ quan để
giảm thiểu sai sót, sự cố và phòng ngừa rủi ro.
Người hướng dẫn cần nắm bắt cụ thể điều dưỡng viên mới hiểu đến đâu,
thể làm được đến đâu, đồng thời việc xây dựng một bầu không khí môi trường
thân thiện sao cho điều dưỡng viên mới có thể dễ dàng hỏi và tham khảo ý kiến.
Điều dưỡng viên mới là những người chưa có kinh nghiệm lâm sàng dễ y ra
sai sót gồm có: (1) Thiếu kiến thức (kinh nghiệm không đủ), (2) Không tuân thủ quy
trình, (3) Làm theo suy nghĩ, (4) Tách rời giữa “mục tiêu bằng chứng” với “hành
động (thực hiện)”, (5) Thiếu nhận thức về sự nguy hiểm, (6) Không thể (không) báo
cáo và tư vấn.
Người hướng dẫn cần kiểm tra bộ công cụ đánh giá kiểm tra xem điều
dưỡng viên mới học được kiến thức và kỹ thuật đến mức độ nào tại thời điểm bắt đầu
đào tạo tại mỗi mốc thời điểm tiến hành đánh giá, đồng thời phải biết được mục
tiêu cần đạt khi kết thúc đào tạo thực hành lâm sàng.
2.2.2. Kiểm soát nhiễm khuẩn
Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO) “Nhiễm khuẩn bệnh viện (NKBV) là những
nhiễm khuẩn mắc phải trong thời gian người bệnh điều trị tại bệnh viện nhiễm
khuẩn này không không hiện diện hoặc cũng như không nằm trong giai đoạn bệnh
tại thời điểm nhập viện. NKBV thường xuất hiện sau 48 giờ kể từ khi người bệnh
nhập viện”.
Nhiễm khuẩn liên quan đến sở khám bệnh, chữa bệnh (KBCB) không chỉ
chỉ số chất lượng chuyên môn, còn chỉ số an toàn của người bệnh, chỉ số đánh
giá sự tuân thủ về thực hành của nhân viên y tế, chỉ số đánh giá hiệu lực của công tác
quản lý và là một chỉ số rất nhạy cảm đối với người bệnh và xã hội.