
PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TRONG ĐÀO TẠO
THỰC HÀNH LÂM SÀNG CHO ĐIỀU DƯỠNG VIÊN MỚI
MỤC TIÊU
1. Trình bày được 4 nội dung cơ bản trong việc dạy-học theo mục tiêu.
2. Giải thích được đặc điểm của phương pháp đào tạo dựa trên năng lực.
3. Phân tích được đặc điểm học tập của người trưởng thành.
4. Áp dụng hiệu quả các phương pháp dạy học tích cực trong đào tạo điều dưỡng
viên mới.
5. Thực hiện được kỹ năng hỗ trợ điều dưỡng viên mới.
NỘI DUNG
1. DẠY HỌC THEO MỤC TIÊU
1.1. Xây dựng mục tiêu cho bài dạy-học
Khi viết mục tiêu cho từng bài dạy-học, người hướng dẫn cần có thông tin đối
tượng học là ai, họ đã biết gì, làm được gì về nội dụng của bài sắp giảng. Sau khi
học xong, họ cần phải biết được gì và làm được gì, đồng thời biết yêu cầu của nghề
nghiệp, nhu cầu xã hội, cơ sở của khóa học có như vậy mới viết mục tiêu học tập tốt
được. Những lưu ý khi vết mục tiêu:
Chọn động từ mở đầu cho thích hợp với yêu cầu của bài dạy-học. Thông
thường mỗi mục tiêu dạy-học chỉ nên có 1 động từ.
Mục tiêu phải lượng giá được, do vậy mục tiêu cần ghi con số cụ thể nếu có
thể. Ví dụ kể được 5 bước của quy trình điều dưỡng hoặc trình bầy được 4 mức độ
loét do tỳ đè.
Mỗi tiết giảng chỉ nên có 1-2 mục tiêu vì nếu nhiều quá mục tiêu sẽ ảnh
hưởng tới việc xa rời nội dung cốt lõi.
1.2. Xác định nội dung cốt lõi
Nội dung cốt lõi là những nội dung chính cần đưa vào nội dung dạy-học.
Chú ý không được bỏ sót nội dung cốt lõi trong nội dung dạy-học.
Với mỗi mục tiêu cụ thể cần xác định các nội dung cốt lõi cần dạy-học. Mỗi
mục tiêu cụ thể có thể có một hay nhiều nội dung cốt lõi thuộc mục tiêu đó.
1.3. Chọn phương pháp dạy-học để thực hiện mục tiêu
Phương pháp dạy-hoc phải dựa vào mục tiêu và kết quả đầu ra của chương
trình: nếu dạy-học kiến thức thì dùng phương pháp thuyết trình, nếu dạy-học cách

giải quyết vấn đề cần thảo luận nhóm, nếu dạy-học thái độ có thể lựa chọn đóng vai
hoặc dạy-học đưa ra quyết định cần áp dụng phương pháp giải quyết tình huống.
Việc lựa chọn phương pháp phụ thuộc vào nhiều yếu tố: như số lượng học
viên, phương tiện dạy-học, thời gian dạy-học, sở trường của người hướng dẫn, trình
độ và kinh nghiệm của học viên, môi trường và động cơ học tập của học viên.
1.4. Lượng giá, đánh giá theo mục tiêu
Căn cứ vào mục tiêu học tập mà xây dựng công cụ lượng giá theo các mục
tiêu, tổ chức lượng giá phải khách quan, tin cậy, công bằng.
Công cụ lượng giá phải khách quan, đa dạng, phủ kín được các mục tiêu để
tránh việc học lệch, học tủ.
Lượng giá, đánh giá học viên phải đảm bảo tính tin cậy và khách quan.
Nội dung lượng giá chú trọng cả về kiến thức, kỹ năng, thái độ của điều dưỡng
viên mới.
2. PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC DỰA TRÊN NĂNG LỰC
Theo Frank và cộng sự (2010) định nghĩa về đào tạo dựa trên năng lực cho
đào tạo y khoa: Đào tạo dựa trên năng lực (CBE) là phương pháp tiếp cận nhằm
chuẩn bị cho người nhân viên y tế hành nghề, đó là định hướng cơ bản để khi tốt
nghiệp phải đạt được các khả năng kết quả đầu ra và được thể hiện năng lực của
mình, xuất phát từ việc phân tích các nhu cầu của xã hội và người bệnh. Đào tạo
dựa trên năng lực bớt chú trọng vào đào tạo dựa trên thời gian mà tăng cường trách
nhiệm lớn hơn vào việc thực hành nghề nghiệp, tính linh hoạt và lấy người học làm
trung tâm.
Đào tạo dựa trên năng lực đặt ra mục tiêu là người học thể hiện việc học tập
và phát triển kỹ năng thông qua đánh giá thực hiện thành công. Điều này đối lập với
những chương trình giảng dạy trước đây thường tập trung vào việc đưa ra giáo
trình từ phía giảng viên kết hợp với đánh giá việc học bằng kỳ thi cuối kỳ. Kết
quả và quá trình đều được nhấn mạnh trong chương trình đào tạo dựa trên năng
lực hay theo khả năng (Harden, Crosby & Davis, 1999).
2.1. Năng lực là gì
Khái niệm năng lực (competency) có nguồn gốc tiếng La tinh “competentia”.
Ngày nay khái niệm năng lực được hiểu nhiều nghĩa khác nhau. Năng lực được
hiểu như sự thành thạo, khả năng thực hiện của cá nhân đối với một công việc.
Khái niệm năng lực được dùng ở đây là đối tượng của tâm lý, giáo dục học. Có
nhiều định nghĩa khác nhau về năng lực. Năng lực là một thuộc tính tâm lý phức
hợp, là điểm hội tụ của nhiều yếu tố như tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, kinh nghiệm,
sự sẵn sàng hành động và trách nhiệm.
Trong chương trình dạy học dựa trên năng lực, khái niệm năng lực được sử
dụng như sau:

Năng lực liên quan đến bình diện mục tiêu của dạy học: mục tiêu dạy học
được mô tả thông qua các năng lực cần hình thành;
Trong chương trình, những nội dung học tập và hoạt động cơ bản được
liên kết với nhau nhằm hình thành các năng lực;
Năng lực là sự kết nối tri thức, hiểu biết, khả năng, mong muốn...;
Mục tiêu hình thành năng lực định hướng cho việc lựa chọn, đánh giá mức
độ quan trọng và cấu trúc hóa các nội dung và hoạt động và hành động dạy
học về mặt phương pháp;
Năng lực mô tả việc giải quyết những đòi hỏi về nội dung trong các tình
huống...;
Các năng lực chung cùng với các năng lực chuyên môn tạo thành nền tảng
chung cho công việc giáo dục và dạy học;
Mức độ đối với sự phát triển năng lực có thể được xác định trong các tiêu
chuẩn nghề; Đến một thời điểm nhất định nào đó, người học có thể / phải đạt được
những gì?
2.2. Phân biệt phương pháp dạy học truyền thống và dạy học dựa trên năng lực
Truyền thống Theo năng lực
Mục đích
đào tạo
Dạy học theo nội dung, kiến thức (content-
based education) tập trung vào việc tích lũy
kiến thức, nhấn mạnh tới các năng lực nhận
thức và việc vận dụng kiến thức tập trung
vào việc thực hành kỹ năng không hướng
tới việc chứng minh khả năng đạt được.
Dạy học tập trung vào phát triển các năng
lực cần thiết để học sinh có thể thành công
trong cuộc sống cũng như trong công việc
(Chyung, Stepich & Cox, 2006) [8].
Mục tiêu
dạy học
Nội dung kiến thức mà thày muốn cung
cấp là vấn đề cốt lõi trong dạy học theo
truyền thống.
Chất lượng đầu ra đóng vai trò quan trọng
nhất đối với giảng dạy theo năng lực.
Phương
pháp học
Sinh viên phải tham dự tất cả các module
mà giảng viên đưa ra.
Cho phép người học bỏ qua những module
về năng lực mà người học đã nắm vững
thông qua kết quả đánh giá trong quá trình
học hoặc kết quả đánh giá ban đầu.
Phương
pháp dạy
Lấy người thầy làm trung tâm, sinh viên
là người nhận kiến thức từ thầy.
Lấy học sinh làm trung tâm và giáo viên
giữ vai trò như người hướng dẫn.
Hình thức
đánh giá
Tập trung đo lường kiến thức thông qua
các bài thi viết và nói (Chang, 2006).
Đánh giá kiến thức trong việc vận dụng một
cách hệ thống và các năng lực đạt được cần
phải đánh giá thông qua nhiều công cụ và
hình thức trong đó có cả quan sát và thực
hành trong các tình huống mô phỏng
(Kaslow, 2004).
Kết quả
đầu ra
Không đáp ứng đúng và đủ với nhu cầu
của thị trường lao động và xã hội.
Tập trung vào đầu ra gắn liền với nhu cầu
của thị trường lao động và xã hội, hoặc cấp
học trên.
(Nguồn: Tổng hợp bởi nhóm tác giả)

2.3. Dạy - học dựa trên năng lực
Dạy - học dựa trên năng lực (Competency based education - CBE) là phương
pháp dạy học hướng tới việc đo lường chính xác kiến thức, kĩ năng và thái độ của
người học sau khi kết thúc mỗi chương trình học (Guskey, 2005). Trong chương
trình dạy học dựa trên năng lực, mục tiêu dạy học của chương trình được mô tả
thông qua các nhóm năng lực.
Nội dung dạy học dựa trên năng lực không chỉ giới hạn trong tri thức và
kỹ năng chuyên môn mà gồm những nhóm nội dung nhằm phát triển các lĩnh vực
năng lực:
Học nội dung
chuyên môn Học phương pháp Học giao tiếp
xã hội
Học tự trải nghiệm -
đánh giá
- Các tri thức chuyên
môn (các khái niệm,
phạm trù, quy luật,
mối quan hệ...)
- Các kỹ năng chuyên
môn
- Ứng dụng, đánh giá
chuyên môn
- Lập kế hoạch học
tập, kế hoạch làm
việc.
- Các phương pháp nhận
thức chung: Thu thập, xử
lý, đánh giá, trình bày
thông tin.
- Các phương pháp
chuyên môn
- Làm việc trong nhóm
- Tạo điều kiện cho sự
hiểu biết về phương
diện xã hội,
- Học cách ứng xử,
tinh thần trách
nhiệm, khả năng giải
quyết xung đột.
- Tự đánh giá điểm
mạnh, điểm yếu.
- XD kế hoạch phát
triển cá nhân.
- Đánh giá, hình thành
các chuẩn mực giá trị,
đạo đức và văn hóa,
lòng tự trọng...
Năng lực chuyên môn Năng lực phương pháp Năng lực xã hội Năng lực nhân cách
(Nguồn: Phương pháp giảng dạy Y - Dược học, Trương Việt Dũng và Phí Văn Thâm, 2010, Bộ Y tế)
Phương pháp dạy học dựa trên năng lực không chỉ chú ý tích cực hoá người học
về hoạt động trí tuệ mà còn chú ý rèn luyện năng lực giải quyết vấn đề gắn với
những tình huống của cuộc sống và nghề nghiệp, đồng thời gắn hoạt động trí tuệ
với hoạt động thực hành, thực tiễn. Tăng cường việc học tập trong nhóm, đổi mới
quan hệ giảng viên và học viên theo hướng cộng tác có ý nghĩa quan trọng nhằm
phát triển năng lực xã hội. Bên cạnh việc học tập những tri thức và kỹ năng riêng lẻ
của các môn học chuyên môn cần bổ sung các chủ đề học tập phức hợp nhằm phát
triển năng lực giải quyết các vấn đề phức hợp.
Theo quan điểm phát triển năng lực, việc đánh giá kết quả học tập không lấy
việc kiểm tra khả năng tái hiện kiến thức đã học làm trung tâm của việc đánh giá.
Đánh giá kết quả học tập cần chú trọng khả năng vận dụng sáng tạo tri thức trong
những tình huống ứng dụng khác nhau.

3. HỌC TẬP CỦA NGƯỜI TRƯỞNG THÀNH
3.1. Đặc điểm học tập của người trưởng thành
Trước hết khác với trẻ em, người trưởng thành là những người đã có những
kiến thức và trải nghiệm nhất định vì vậy giảng viên không thể chỉ cung cấp kiến thức
đơn thuần theo ý giảng viên muốn mà cần phải hiểu rõ người học đã biết gì để tránh
dạy những điều họ đã biết. Do vậy, việc lượng giá nhu cầu đào tạo là bước đầu tiên
rất quan trọng của chu trình đào tạo người trưởng thành.
Việc tạo cơ hội để người học chủ động tham gia vào quá trình học, chia
sẻ kinh nghiệm với nhau và với giảng viên là cách tốt nhất giúp người học là người
trưởng thành phát huy được những kinh nghiệm mà họ đã có trong công việc và
cuộc sống, đồng thời giúp họ có cơ hội áp dụng hoặc suy nghĩ nhằm tìm cách áp
dụng những điều đã học vào công việc của mình.
Người trưởng thành có nhu cầu được biết lý do cần phải học một điều gì đó. Do
vậy, khi dạy-học, giảng viên cần làm rõ ý nghĩa thực tiễn của những điều người học
cần học, hoặc có liên hệ với các công việc họ đang làm thì học viên sẽ dễ hiểu hơn,
dễ tiếp nhận hơn và sẽ có hứng thú hơn trong học tập.
Người trưởng thành có nhu cầu tự định hướng cao. Lượng giá nhu cầu của
học viên trước khoá học giúp giảng viên biết rõ những kiến thức, kỹ năng học
viên đã có kinh nghiệm và những gì họ còn khiếm khuyết, cần bổ sung. Từ đó xác
định được những kiến thức, kỹ năng, thái độ nào cần tập trung dạy-học trong khoá
đào tạo. Giảng viên có thể xác định được mục tiêu học tập sát hơn và đào tạo sẽ có
hiệu quả hơn.
Người trưởng thành đi học có động cơ rõ ràng. Động cơ này có thể xuất phát
từ nhu cầu muốn tiến bộ, từ nhu cầu công việc của bản thân họ hoặc do yêu cầu của
THIẾT KẾT CHƯƠNG TRÌNH
PHẢI SANG TRÁI
THỰC HIỆN TỪ TRÁI SANG PHẢI
KẾT QUẢ ĐẦU
RA BÀI HỌC
KẾT QUẢ
ĐẦU RA CÁC
MÔN HỌC
KẾT QUẢ
ĐẦU RA
CHƯƠNG
TRÌNH ĐÀO
TẠO
CHUẨN
NĂNG
LỰC

