108
NGHỀ ĐIỀU DƯỠNG VỚI CÔNG TÁC CHĂM
SÓC SỨC KHỎE NHÂN DÂN
(Bài đọc thêm)
Sức khoẻ vốn quý nhất của mỗi con người và mỗi gia đình. Người càng yếu,
người trở về già hiểu rõ hơn giá trị của sức khoẻ. Đầu cho sức khoẻ là đầu tư cho sự
phát triển giống nòi, hội, đất nước và mang lại chất lượng cuộc sống cho mỗi các
nhân, gia đình. Tuổi thọ của người Việt Nam ngày càng được cải thiện đồng nghĩa với
tỷ lệ người cao tuổi ngày một tăng dẫn đến nhu cầu chăm sóc sức khoẻ ngày càng cao
và vai trò của người cán bộ y tế càng nặng nề.
Nói đến chăm sóc sức khoẻ, chúng ta không thể không nhắc tới người điều dưỡng
nghề điều dưỡng. Họ lực lượng chính mang dịch vchăm sóc sức khoẻ tới cộng
đồng, tới vùng khó khăn, vùng dân tộc ít người, vùng xa xôi hẻo lánh. Có thể nói, người
đầu tiên đón em chào đời người hộ sinh. Người nâng giấc, chăm sóc, an ủi người
bệnh lúc đau yếu, những giờ phút cuối đời tại bệnh viện chính người điều dưỡng.
vậy, Tổ chức Y tế Thế giới đánh giá dịch vụ chăm sóc sức khoẻ do người điều dưỡng-
hộ sinh cung cấp là trụ cột của hệ thống y tế.
Chăm sóc bệnh nhân nặng:
Trong suốt thời gian dài, kể từ khi nời Pháp du nhập y học hiện đại vào Việt
Nam, cho đến thập kỷ của những năm 1990, điều dưỡng Việt Nam mới được coi là một
nghề, nó được thể hiện qua hệ thống đào tạo chuyên ngành, hệ thống quản lý ngành dọc
và sự hình thành phát triển hội nghề nghiệp.
Trước năm 1990, người điều dưỡng có tên gọi Y với chức năng phụ thuộc
vai trò phụ giúp, thực hiện y lệnh của thày thuốc là chính. Họ chỉ được đào tạo ngắn hạn
dưới một m (sơ học) theo phương pháp cầm tay chỉ việc chính. Từ năm 1968,
người Y tá tại phía Bắc Việt Nam được đào tạo chính quy ở trình độ trung học với thời
gian 2,5 m cho những nời đã tốt nghiệp trung học sở (7/10 năm) sau đó
(1975) tốt nghiệp trung học phổ thông (10/10). Trong khi đó, tại Phía Nam, người Y
được đào tạo theo hệ thống y tế của Mỹ theo chương trình Cán sự điều dưỡng (3 năm).
Năm 1975, thống nhất hai miền Bắc-Nam, điềuỡng được đào tạo theo 2 chương trình
học (dưới 2 năm) và trung học (2,5 năm). Năm 1985, 1986 với mong muốn người y
Việt Nam có trình độ như y của các nước Châu Âu để họ thể đảm đương được
vai trò chủ động, độc lập hơn trong chăm sóc, đáp ứng được sự phát triển của y học hiện
đại và nhu cầu chăm sóc sức khoẻ nhân dân. Bộ Y tế phối hợp với Bộ Giáo dục đào tạo
đã thực hiện một chương trình đào tạo thí điểm y tá trình độ đại học tại chức 4 năm
cho những y tá đã tốt nghiệp y tá trung học, có 5 năm kinh nghiệm công tác và vượt qua
kỳ thi tuyển đại học tại chức cấp quốc gia. Hai khoá thí điểm y tá cấp cao đầu tiên được
thực hiện tại Đại học Y khoa Hà Nội và Đại học Y dược Thành phố Hồ Chí Minh 5
năm sau, Bộ Y tế Bộ Giáo dục đào tạo đã tổng kết, rút kinh nghiệm quyết định
đưa vào đào tạo điều dưỡng chính quy 4 năm từ 1995 tại hai trường trên. Hiện nay, Việt
Nam đang thực hiện 4 chương trình đào tạo điều dưỡng: y thôn bản (1 năm) điều
dưỡng trung học (2 năm), điều dưỡng cao đẳng (3 năm), cử nhân điều dưỡng (4 năm)
và thạc sĩ điều dưỡng (2 năm).
109
Sự phát triển của hệ thống đào tạo điều dưỡng tại Việt Nam một trong những
đóng góp quan trọng cho phát triển nguồn nhân lực điều dưỡng Việt Nam điều
kiện đi trước để thực hiện CSNBTD. Theo niên giám thống y tế 2008 của Bộ Y tế,
cả nước n 80 ngàn điều dưỡng, hộ sinh với 7,5% ở trình độ cao đẳng, đại học trở
lên. 82% trình độ trung học khoảng 10,5% trình độ học. Slượng điều ỡng
ở trình độ trên đại học rất thấp, cả nước khoảng 70 điều dưỡngbằng thạc và tiến
sĩ, họ công tác chủ yếu lĩnh vực đào tạo quản điều dưỡng cấp Trung ương,
tỉnh/thành phố và các trường đào tạo điều dưỡng. Những năm tới, con số này sẽ tăng lên
rất nhanh, bởi hiện nay, Trường Đại học Y dược Thành phố Hồ Chí Minh đã đào tạo
đến khoá thứ 3 thạc sĩ điều dưỡng, sắp tới Đại học Y Hà Nội, Đại học Điều dưỡng Nam
Định sẽ chính thức đào tạo thạc trong nước. Bộ Y tế đang chủ trương đào tạo điều
dưỡng thực hành tại các bệnh viện hạng đặc biệt với ngành đào tạo điều dưỡng
chuyên khoa I, chuyên khoa II.
Về hệ thống tổ chức, nghề Điều dưỡng đã được Nhà nước quan tâm và phát triển
ở tất cả các cấp quản lý của ngành y tế. Hiện tại một điều dưỡng đang giữ chức v Phó
Cục trưởng Cục Quản khám của bệnh, nơi một Phòng Điều dưỡng với tất cả các
thành viên là điều dưỡng. Các Sở Y tế có Điều dưỡng trưởng Sở Y tế, các bệnh viện có
Phòng Điều dưỡng. Các trường y tế khoa hoặc bộ môn điều dưỡng. Một số bệnh viện,
trường y tế lãnh đạo điều dưỡng. Như vậy, người điều dưỡng Việt Nam đã được
Nhà nước, ngành y tế thừa nhận và họ đang góp phần quan trọng trong việc đề xuất
xây dựng chính sách cho điều dưỡng-hộ sinh.
Về Hội nghề nghiệp, Hội Điều dưỡng Việt Nam được thành lập m 1990, tới
nay đã 20 năm, 20 năm qua không phải dài nhưng quá trẻ so với nhiều hội y khoa
khác trong nước còn rất trẻ so vi các Hội điều dưỡng nước ngoài. Song, lịch sử phát
triển ngành nghề điều dưỡng Việt Nam từ năm 1990 đến nay gắn liền với sự phát triển
Hội Điều dưỡng Việt Nam. Hội Điều dưỡng Việt Nam với khoảng 60 ngàn hội viên đã
và đang đóng vai trò quan trọng trong tư vấn xây dựng chính sách, phản biện và bảo vệ
quyền lợi hợp pháp cho người điều dưỡng Việt Nam. Nếu nói đến ngạch công chức,
ngạch lương, chương trình đào tạo điều dưỡng, các quy trình chuyên môn cho điều
dưỡng, các danh hiệu thi đua cao quý “Thày thuốc ưu tú, thày thuốc nhân dân” cho
người điều dưỡng cán bộ y tế khác…đều có vai trò vận động của Hội Điều dưỡng
Việt Nam.
Về thực hành chăm sóc, thể nói chương trình đào tạo ảnh hưởng tác động
rất lớn tới thực hành nghề nghiệp. Lâu nay, chương trình đào tạo điều dưỡng được xây
dựng dựa trên mô tả công việc và xác định chức năng, nhiệm vụ của người y thực
hiện y lệnh, phụ thuộc vào chỉ định của thày thuốc nên công tác chăm sóc của điều
dưỡng chưa đáp ứng được cầu bản của người bệnh. Hầu hết công tác chăm sóc
bản cho người bệnh được người nhà đảm nhiệm. Để khắc phục tình trạng này, năm 1993,
Bộ trưởng Bộ Y tế đã ra Quyết định 526/QĐ-BYT ban hành chế độ trách nhiệm của y
tá trong việc chăm sóc người bệnh tại bệnh viện và công văn số 3722/BYT-ĐTr hướng
dẫn triển khai quyết định trên. Hai văn bản nói trên đã đề cập đến khái niệm “Chăm sóc
người bệnh toàn diện” (CSNBTD) và quy định trách nhiệm của y tá là chăm sóc người
bệnh cả về thể chất chứ không chỉ tập trung vào việc thực hiện y lệnh điều trị.
Năm 1996, do nhu cầu chất lượng chăm sóc người bệnh và củng cố phát triển hệ
thống quản điều dưỡng, Thông 11/1996/TT-BYT về hướng dẫn tổ chức thực hiện
110
CSNBTD củng cố hệ thống điều dưỡng trưởng được ra đời. Một năm sau (1997),
công tác CSNBTD được thể chế hoá thành Quy chế chăm sóc người bệnh toàn diện
(CSNBTD) trong Quy chế bệnh viện. Tại Quy chế này, Bộ Y tế đã đưa ra khái niệm
CSNBTD là sự chăm sóc, theo dõi người bệnh của bác sĩ và điều dưỡng trong suốt thời
gian nằm viện tại bệnh viện nhằm đáp ứng nhu cầu bản của nguời bệnh cả về thể
chất, tinh thần hội. Quy chế cũng quy định nội dung CSNBTD dựa vào mức đ
phụ thuộc của người bệnh tới nhân viên y tế theo phân cấp chăm sóc giao trách
nhiệm cụ thể của từng cá nhân trong chăm sóc, bao gồm cả bác sĩ, điều dưỡng, hộ lý, y
công, người bệnh và người nhà người bệnh.
Năm 2003, Chỉ thị 05/2003/BYT-CT của Bộ trưởng Bộ Y tế đã yêu cầu mọi
cán bộ y tế đều có trách nhiệm thực hiện CSNBTD, các bệnh viện phải tăng cường công
tác chăm sóc người bệnh toàn diện thông qua 5 hoạt động chính: (1) Kiện toàn mạng
lưới điều dưỡng trưởng từ Sở Y tế đến tận khoa-phòng trong bệnh viện, (2) Thành lập
Ban chỉ đạo chăm sóc người bệnh toàn diện bao gồm các thành phần liên quan để tăng
cường chỉ đạo CSTD, (3) Yêu cầu Giám đốc bệnh viện phải đầu cho công tác chăm
sóc toàn diện qua đào tạo, bổ sung nguồn lực và phát động phong trào thi đua, (4) Giao
trách nhiệm cho các trưởng khoa lâm sàng tổ chức thực hiện CSNBTD, xoá bỏ hình
phân công chăm sóc theo công việc mà thay vào đó là mô hình phân công chăm sóc theo
đội hoặc nhóm thay cho chăm sóc theo công việc, và (5) Giao trách nhiệm cho các khoa,
đơn vcận lâm sàng (xét nghiệm, dược, vật -trang thiết bị, kiểm soát nhiễm khuẩn,
dinh dưỡng) cung cấp dịch vụ tại các khoa lâm sàng để giành thời gian cho người điều
dưỡng chăm sóc người bệnh nhiều hơn.
Phòng Điều dưỡng của Bộ Y tế phối hợp với Hội Điều dưỡng Việt Nam đang rà
soát lại các quy chế, văn bản liên quan đến điều dưỡng để xây dựng dự thảo Thông tư
quy định tổ chức thực hiện công tác chăm sóc người bệnh và tăng cường hệ thống quản
lý điều dưỡng. Để có cơ sở xây dựng dự thảo này, tháng 7/2009, Phòng Điều dưỡng-tiết
chế thuộc Cục Quản khám, chữa bệnh của Bộ Y tế đã tiến hành khảo sát qua chọn
mẫu ngẫu nhiên 96 bệnh viện trong toàn quốc về công tác điều dưỡng, trong đó nội
dung CSNBTD, kết quả cho thấy như sau:
1. Kết quả đạt được:
a. Các sở y tế, các bệnh viện đã triển khai thực hiện các văn bản chỉ đạo của Bộ Y tế v
CSNBTD và đã có nhiều tiến bộ, thể hiện:
- Thành lập Ban chỉ đạo CSNBTD do làm trưởng ban, ĐDT bệnh viện m
thư ký thường trực.
- Củng cố hệ thống quản lý điều dưỡng.
- Tổ chức mô hình phân công chăm sóc theo đội (gồm cả bác sĩ, điều dưỡng, học
sinh, sinh viên, người bệnh hoặc người nhà người bệnh và cả nhân viên y tế khác) hoặc
chăm sóc theo nhóm (bao gồm 2-3 điều dưỡng trở lên). Nhiều bệnh viện bố trí cho điều
dưỡng làm việc theo ca kíp tại các khoa trọng điểm như hồi sức cấp cứu, chăm sóc sau
phẫu thuật, khoa chăm sóc đặc biệt để đảm bảo chăm sóc người bệnh cả ban ngày
đêm.
- Bổ sung trang thiết bị, phương tiện phục vụ chăm sóc tăng cường sự tiện nghi
cho người bệnh khi nằm viện, sự thuận tiện cho nhân viên y tế trong công tác.
- Tăng cường đào tạo, tập huấn để nâng cao nhận thức, trình độ cho điều dưỡng
về CSNBTD và nghiệp vụ chuyên môn.
111
- Tổ chức thực hiện những nội dung CSNBTD, tăng cường sự đáp ứng nhu cầu
chăm sóc bản của người bệnh, đánh giá sự hài lòng của người bệnh nhằm cải thiện
chất lượng dịch vụ chăm sóc.
b. Quyền lợi của người bệnh thông qua những nội dung chăm sóc tới người bệnh:
- Chăm sóc y tế: những hoạt động chuyên môn phục vụ cho chẩn đoán, điều trị,
chăm sóc của thày thuốc, điều dưỡng được cải thiện.
- Chăm sóc thể chất: cung cấp những phương tiện phục vụ cá nhân tại bệnh viện,
sự tiện nghi trong khi nằm viện, những thực nh chăm sóc trợ giúp nhân như vsinh
thân thể, vệ sinh môi trường buồng bệnh, cung cấp đồ vải, tiện nghi buồng bệnh, dịch
vụ ăn uống trong bệnh viện…
- Chăm sóc tinh thần: thông qua giao tiếp, tinh thần thái độ phục vụ người bệnh,
những trợ giúp tâm lý, thông tin giáo dục sức khoẻ. Tỷ lệ người bệnh hài lòng khi s
dụng dịch vụ y tế và điều trị tại bệnh viện đang được cải thiện dần.
2. Tồn tại, thách thức:
- Một số bệnh viện thành lập Ban chỉ đạo CSNBTD nhưng ban này chưa hoạt
động thường xuyên, hoặc chưa thực sự thực hiện mà giao phó việc triển khai CSNBTD
cho phòng Điều dưỡng của bệnh viện. Tại Chỉ thị 05/2003/BYT-CT, Bộ Y tế đã yêu cầu
các bệnh viện xoá bỏ hình phân công chăm sóc theo công việc, nhưng cho tới thời
điểm khảo sát (7/2009) vẫn còn 16% bệnh viện vẫn đang thực hiện hình chăm c
theo công việc với lý do là thiếu nhân lực.
- Quá tải bệnh nhân tại các bệnh viện (18%), đặc biệt bệnh viện tuyến tỉnh và
trung ương dẫn đến sự quá tải trong công tác của mọi nhân viên y tế và hạn chế tiếp cận
được mục tiêu CSNBTD.
- Quá tải bệnh nhân đã làm tăng tình trạng thiếu nhân lực vốn có, đặc biệt là thiếu
điều dưỡng. Tỷ lệ điều dưỡng/bác thấp (1,27/1) khiến cho người điều dưỡng phải
gồng mình để thực hiện y lệnh điều trị của bác sĩ, chưa nói đến việc giành thời gian hỗ
trợ tình cảm nâng giấc người bệnh. Thói quen phụ thuộc của người điều dưỡng, s
quá tải công việc, sự thiếu nhân lực là rào cản chính trong thực hiện CSNBTD hiện nay.
- Trình độ điều dưỡng còn thấp, tỷ lệ Điều dưỡng tốt nghiệp trình độ cao đẳng-
đại học dưới 10% tỷ lệ điều dưỡng trung học > 80% dẫn đến tính chủ động trong
chăm sóc, khả năng nhận định và ra quyết định độc lập trong chăm sóc kéo theo hiệu
xuất, chất lượng chăm sóc điều dưỡng hạn chế.
- Công tác hành chính, giấy tờ của điều dưỡng chiếm tỷ lệ thời gian tương đương
với thời gian trực tiếp chăm sóc người bệnh (28%). Bởi hiện nay, hầu hết các bệnh viện
của chúng ta đang sử dụng sổ sách và phương pháp ghi chép truyền thống là chính, các
thủ tục thanh toán viện phí tại các khoa phòng cũng ghánh nặng cho điều dưỡng, họ
phải dành quá nhiều thời gian vào các thủ tục hành chính bởi thiếu hệ thống thư ký y
khoa.
- Nhận thức của cán bộ, sự tự ty, an phận của nhân viên y tế về người điều dưỡng
cũng phần nào ảnh hưởng tới mức độ bao phủ và mở rộng CSNBTD tại các bệnh viện.
Đối tượng chăm sóc của ngành y tế bao gồm các đối tượng từ người trẻ đến người
cao tuổi và mọi tầng lớp trong xã hội. Tổ chức Y tế Thế giới (2009) cho biết dân số Việt
Nam hiện nay khoảng 86 triệu người với tuổi thọ trung bình 72, nữ 75 nam
70 tuổi. Tại Hội thảo “Thách thức về già hoá dân số ở Việt Nam” do Tổng cục dân số -
Kế hoạch hóa gia đình diễn ra sáng 1/10 tại Hà Nội, TS. Nguyễn Quốc Anh - Giám đốc
112
Trung m Thông tin - liệu dân số cho biết: đánh giá trước đây cho thấy Việt Nam
sẽ già hoá dân số vào năm 2015, nhưng thực tế hiện nay lại thể hiện dân số nước ta sẽ
già hoá vào m 2010. Căn cứ số liệu của điều tra biến động dân số năm 2008, tỷ lệ
người 60 tuổi trở lên đã là 9,9%; tỷ lệ này ở người 65 tuổi trở lên là 7,5% (cao hơn quy
định dân số già trên 7%). Qua phân tích của TS Nguyễn Đình Cử, hiện nay hơn
80% người cao tuổi Việt Nam sống nông thôn. Trong đó, chỉ khoảng 16-17% hưởng
lương hưu hoặc mất sức, n 10% các cụ hưởng trợ cấp người công với đất nước.
Một phần lớn còn lại tự lao động kiếm sống hoặc nhờ sự hỗ trợ của con cháu gia
đình. Trong khi đó, ở nông thôn ruộng đất không còn nhiều; năng suất, thu nhập thấp, ít
tiết kiệm phòng khi bất trắc tuổi già. PGS-TS Phạm Thắng - Viện trưởng Viện Lão
khoa quốc gia - nhận định: Xu hướng số người cao tuổi tăng lên sẽ m tăng gánh nặng
kinh tế - hội để duy trì ổn định cuộc sống khoẻ mạnh của họ. Nhu cầu chăm sóc người
cao tuổi (y tế, hội, tài chính) sẽ một thách thức lớn. Người cao tuổi nhu cầu
chăm sóc sức khoẻ nhiều hơn, trong khi chi phí cho đối tượng này cũng cao gấp 7-8 lần
so với trẻ em. Đứng trước thực trạng trên, người điều dưỡng hội nghề nghiệp phải
xác định sứ mệnh, nhiệm vụ của mình chăm sóc sức khoẻ cho người bệnh tại các cơ sở
y tế, cho người dân ở cộng đồng và đặc biệt là cho những người cao tuổi.
Trong bài này, tác giả muốn trao đổi với bạn đọc quan điểm về “Chăm sóc sức
khoẻ lấy con người làm trung mmà Tổ chức Y tế Thế giới đang quan m. Nên lưu
ý rằng, con người ở đây bao gồm cả người sử dụng dịch vụ y tế và người cung cấp dịch
vụ y tế. Xác định rõ điều này, các cơ sỏ y tế cần quan tâm tới những nội dung sau đây:
- Tầm nhìn của chăm sóc lấy con người làm trung m là: Những nhân, gia
đình và cộng đồng được hệ thống y tế chăm sóc bảo đảm chất lượng, đáng tin cậy
đáp ứng nhu cầu của con người một cách toàn diện mọi lúc mọi i.
- Điều cốt yếu của chăm sóc y tế là lấy người bệnh làm trung tâm. Để làm được
như vậy, các cơ sở y tế cần thay đổi từ mô hình chăm sóc truyền thống tức là người cán
bộ y tế chỉ quan tâm đến thực hành. Nay mô hình chăm sóc phải quan tâm đến kỹ năng
giao tiếp, sự trao quyền cho người bệnh ra quyết định chăm sóc, điều trị thông qua việc
hướng dẫn, động viên, họ tự quản ra quyết định những vấn đề liên quan đến sức
khoẻ của bản thân.
- Cần xác định, phương pháp tiếp cận lấy người bệnh làm trung tâm trong chăm
sóc sức khoẻ không phải phương pháp chăm sóc xa xỉ, tốn kém sự cần thiết.
Theo Mahatma Gandhi (vị anh hùng dân tộc của ấn Độ) “Khách hàng người khách
quan trọng nhất của cơ sở y tế chúng ta. Họ không phụ thuộc vào chúng ta mà chúng ta
phụ thuộc vào họ. Họ không m gián đoạn ng việc của chúng ta họ mục tiêu
của chúng ta. Họ không phải người ngoài cuộc đối tác, đối tượng cần quan
tâm phục vụ của chúng ta. Không phải chúng ta cho họ đặc ân mà họ đang cho chúng ta
đặc ân bởi họ đang tạo cơ hội công ăn việc làm cho chúng ta”.
Với những quan điểm trên, tác giả hy vọng, trong thời gian tới người ngh
Điều dưỡng Việt Nam sẽ được các quan thẩm quyền, được cán bộ y tế người
dân nhìn nhận rõ hơn, đầu tư phát triển nhiều hơn để họ có thể đóng góp sức lực, trí tuệ
cho sự nghiệp chăm sóc sức khoẻ của người dân Việt nam.
ThS. Nguyễn Bích Lưu - Trưởng phòng Điều dưỡng Cục QLKCB, Phó Chủ tịch
Hội Điều dưỡng Việt Nam Văn phòng SYT.