intTypePromotion=1
ADSENSE

Chuyển đổi số trong đào tạo du lịch thông qua E-Learning

Chia sẻ: AtaruMoroboshi _AtaruMoroboshi | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:10

6
lượt xem
1
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Bài viết "Chuyển đổi số trong đào tạo du lịch thông qua E-Learning" tập trung vào phân tích bối cảnh hội nhập tác động tới nguồn nhân lực du lịch, đồng thời nêu lên thực trạng đào tạo nguồn nhân lực nước ta hiện nay. Từ đó đề xuất một số giải pháp đào tạo nguồn nhân lực du lịch đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Mời các bạn cùng tham khảo!

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Chuyển đổi số trong đào tạo du lịch thông qua E-Learning

  1. CHUYỂN ĐỔI SỐ TRONG ĐÀO TẠO DU LỊCH THÔNG QUA E-LEARNING Nguyễn Thị Lan Hạnh Trường Đại học Sài Gòn Tóm tắt: Thế giới đang trong giai đoạn bắt đầu của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 dựa trên nền tảng cách mạng số kết hợp công nghệ, dẫn đến sự thay đổi chưa có từng có tiền lệ của tất cả các ngành kinh tế. Chuyển đổi số không chỉ làm thay đổi toàn bộ hệ thống kinh tế - xã hội mà nó còn ảnh hưởng lĩnh vực giáo dục đào tạo. Thực trạng nguồn nhân lực du lịch của Việt Nam dồi dào về số lượng song nhiều hạn chế về chất lượng, đặc biệt là nhóm nhân lực chất lượng cao. Nhu cầu về nhân lực cho phát triển trong bối cảnh hội nhập đã trở thành một tiêu chuẩn đầu ra đối với các trường đại học. Bên cạnh đó, những thay đổi về nội dung, phương pháp đào tạo, cấu trúc chương trình và phương thức quản lý giáo dục đại học càng trở nên cấp thiết trong bối cảnh mới. E-learning là một trong các giải pháp ứng dụng công nghệ thông tin trong giáo dục. Sự thay đổi về công nghệ cũng như sự phát triển của hệ thống Internet đã tạo ra sự bắt buộc thay đổi trong các yếu tố hoặc bộ phận cấu thành hệ thống giáo dục đại học. Bài viết tập trung vào phân tích bối cảnh hội nhập tác động tới nguồn nhân lực du lịch, đồng thời nêu lên thực trạng đào tạo nguồn nhân lực nước ta hiện nay. Từ đó đề xuất một số giải pháp đào tạo nguồn nhân lực du lịch đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Từ khóa: Chuyển đổi số, E-learning, đào tạo du lịch 1. Đặt vấn đề Ngày 03/6/2020, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 749/QĐ- TTg về phê duyệt Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030: “Việt Nam trở thành quốc gia số, ổn định và thịnh vượng, tiên phong thử nghiệm các công nghệ và mô hình mới; đổi mới căn bản, toàn diện hoạt động quản lý, điều hành của Chính phủ, hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, phương thức sống, làm việc của người dân, phát triển môi trường số an toàn, nhân văn, rộng khắp”. Chuyển đổi số sẽ làm thay đổi thế giới, các quốc gia đi đầu trong ứng dụng và phát triển công nghệ luôn trở thành các quốc gia thịnh vượng và phát triển. Trong quá trình toàn cầu hóa đang diễn ra mạnh mẽ thì vấn đề hội nhập kinh tế quốc tế trở thành yêu cầu cấp thiết cho sự phát triển đất nước. Đối với sự phát triển của một quốc gia thì cần có các nguồn lực gồm tài nguyên thiên nhiên, khoa học công nghệ, vốn đầu tư… trong đó nguồn nhân lực là yếu tố quan trọng và có tính chất quyết định. Nguồn nhân lực là yếu tố cấu thành lực lượng sản 284
  2. xuất và có khả năng tạo ra của cải vật chất. Cùng với những thay đổi to lớn của Cách mạng công nghiệp 4.0 mang lại thì cũng xuất hiện những yêu cầu mới đối với nguồn nhân lực trong sự đổi mới tư duy hội nhập, trong phương pháp làm việc và kỹ năng nghề nghiệp. Theo thống kê của Bộ Lao động – Thương binh và xã hội, dự báo trong giai đoạn 2017 - 2025, lực lượng lao động Việt Nam sẽ tăng bình quân 1,28%/ năm, tương đương với hơn 700.000 người/ năm. Nhưng tính trong năm 2018, trong tổng số 48,7 triệu người trong độ tuổi lao động chỉ có hơn 20% lao động được đào tạo từ các trình độ sơ cấp trở lên. Nguồn nhân lực du lịch của nước ta tuy nhiều về số lượng nhưng còn thiếu và yếu về chất lượng vì vậy, hệ thống đào tạo nguồn nhân lực du lịch của Việt Nam cần chuyển đổi nhanh và mạnh hơn nữa để thích ứng với thị trường lao động. Để đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực chất lượng cao, bên cạnh các mô hình đào tạo truyền thống thì việc ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi mô hình đào tạo trực tuyến (e-learning) là một tất yếu của giáo dục đại học. 2. Nội dung nghiên cứu 2.1. Cơ sở lý thuyết Theo Tổ chức dữ liệu quốc tế (International Data Corporation - IDC) thì Chuyển đổi số (Digital Transformation) là việc sử dụng dữ liệu và công nghệ số để thay đổi một cách tổng thể và toàn diện tất cả các khía cạnh của đời sống kinh tế - xã hội, tái định hình cách chúng ta sống, làm việc và liên hệ với nhau. Hiện nay, định nghĩa về chuyển đổi số chưa được chuẩn hóa trên hệ thống văn bản pháp luật, mỗi tổ chức, doanh nghiệp đưa ra các định nghĩa của riêng mình, tuy nhiên, nhìn ở góc độ tổng quát: Chuyển đổi số là việc sử dụng công nghệ để thay đổi một cách tổng thể các lĩnh vực kinh tế - xã hội trong đời sống thông qua hệ thống dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo và tự động hóa từ đó tăng khả năng tiếp cận thị trường. Thuật ngữ E-learning đã trở nên quen thuộc trong vài thập kỷ gần đây, e- learning là viết tắt của Electronic Learning, dùng để mô tả việc học tập dựa trên nền tảng công nghệ thông tin và truyền thông với các ứng dụng hỗ trợ việc giảng dạy và học tập như phần mềm kiểm tra, các công cụ học tập đa phương tiện (video, ebook…) và các phương thức học liệu mới (internet, phát thanh, truyền hình, CD – VCD…). E-learning đã được đề cập trong thông tư số 12/2016/TT-BGDĐT về Quy định ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, tổ chức đào tạo qua mạng đó là “hình thức học tập qua đó người học có thể tự học mọi lúc, học mọi nơi thông qua các học liệu điện tử đa phương tiện (lời giảng, lời thuyết minh, âm thanh, hình ảnh, video, đồ họa…). Các hình thức học tập như m-learning (học thông qua thiết bị di động: điện thoại thông minh, máy tính bảng, màn hình tương tác), u-learning (học thông qua các phương thức tương tác thực tế ảo diễn ra bất kỳ 285
  3. nơi nào), hay smart-learning (phương tiện học tập thông minh) đều là các hình thái của học tập điện tử e-learning. Còn theo PGS.TS. Lê Huy Hoàng thì “E- learing là một loại hình đào tạo chính quy hay không chính quy hướng tới thực hiện tốt mục tiêu hoc tập, trong đó có sự tương tác trực tiếp giữa người dạy với người học cũng như giữa cộng đồng học tập một cách thuận lợi thông qua công nghệ thông tin và truyền thông". Chuyển đổi số trong giáo dục Đại học có nhiều ưu điểm như cho phép giảng viên cập nhật nội dung giảng dạy thường xuyên, nhanh chóng và có thể đánh giá mức độ nhận thức của người học thông qua hệ thống tự đánh giá; người học có thể chủ động sắp xếp kế hoạch học tập, học mọi lúc mọi nơi, học viên có thể đăng ký khối lượng học tập phù hợp với khả năng và thời gian biểu cá nhân; giúp tiết kiệm chi phí quản lý… Nhưng bên cạnh đó, ứng dụng E-learning cũng bộc lộ một số hạn chế như đòi hỏi về sự phát triển của hệ thống hạ tầng viễn thông, người dạy và người học phải sử dụng được các ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ việc học tập và giảng dạy. Ngoài ra, sự tương tác trực tiếp giữa người học và người dạy giảm đi cũng ảnh hưởng đến cảm xúc và sự hứng thú học tập của học viên. Quan trọng hơn cả, e-learning chưa thể thay thế được các hoạt động liên quan đến hình thành và rèn luyện kỹ năng đặc biệt là kỹ năng thao tác và vận động. 2.2. Tác động của bối cảnh chuyển đổi số tới đào tạo du lịch tại Việt Nam Thế giới đang trong giai đoạn bắt đầu của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 dựa trên cách mạng số kết hợp nhiều công nghệ, dẫn đến sự thay đổi lớn trong mô hình kinh tế - xã hội của các quốc gia. Chuyển đổi số tác động tới tất cả các ngành nghề trong xã hội, do vậy, lĩnh vực giáo dục đào tạo cũng cần phải thay đổi để không bị tụt hậu, không bị “bỏ lại phía sau”. Ngành du lịch trên Thế giới nói chung và tại Việt Nam nói riêng đang đứng trước ngưỡng cửa của toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng. Theo nghiên cứu của Microsoft và IDG tại khu vực Châu Á – Thái Bình Dương, năm 2017, các sản phẩm và dịch vụ số đóng góp 6% GDP, chuyển đổi số làm tăng năng suất lao động 15%, 85% công việc trong khu vực sẽ bị biến động. Xu thế chuyển đổi số của ngành du lịch Việt Nam được thể hiện rõ qua các chỉ số tăng trưởng du lịch, các mối quan hệ hợp tác, các dự án đầu tư trong lĩnh vực du lịch. Năm 2019, lượng khách du lịch quốc tế đến Việt Nam đạt trên 18 triệu lượt, tăng 16,2% so với năm 2018 (Thúy Hà, 2019). Ngoài ra, Việt Nam cũng tích cực mở rộng quan hệ hợp tác trên phạm vi toàn thế giới. Việt Nam là một trong những nước được hưởng nhiều lợi ích từ việc hội nhập kinh tế khu vực so với các nước khác bởi nền kinh tế Việt Nam phụ thuộc nhiều vào ngoại thương. Nhưng bên cạnh đó, tiêu chuẩn dành cho người lao động cũng được nâng cao hơn với các tiêu chí tuyển dụng về kiến thức chuyên môn, 286
  4. hệ thống kỹ năng như kỹ năng giao tiếp, sử dụng vi tính, kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng tìm và xử lý thông tin. Thời gian vừa qua, ngành du lịch Việt Nam đã có nhiều cách huy động, khai thác và phát huy nguồn vốn thông qua các phương thức cụ thể: tăng cường đầu tư theo phương thức các chương trình hành động quốc gia, các năm du lịch, trong đó có việc tập trung đầu tư đồng bộ từ việc quy hoạch phát triển, đầu tư cơ sở hạ tầng, đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật, dịch vụ du lịch và triển khai các hoạt động xúc tiến quảng bá cho vùng hoặc địa phương theo từng chủ đề; thu hút các nguồn vốn đầu tư nước ngoài thông qua các nguồn đầu tư trực tiếp FDI, các nguồn vốn viện trợ phát triển ODA. Nhiều khu du lịch, nhiều khách sạn cao cấp, khu nghỉ dưỡng cao cấp, nhiều hãng lữ hành quốc tế được đầu tư và khai thác kinh doanh hiệu quả. Nhiều thương hiệu du lịch lớn như ACCOR, SHERATON, HILTON, NIKKO…đến từ các cường quốc về du lịch đã đầu tư tại Việt Nam, qua đó, diện mạo của cơ sở vật chất du lịch tại Việt Nam đã được thay đổi. Nhiều cơ sở kinh doanh du lịch có chất lượng đạt chuẩn quốc tế đã được vận hành và dần nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch Việt Nam. Đối với sự phát triển của một quốc gia thì cần có các nguồn lực gồm tài nguyên thiên nhiên, khoa học công nghệ, vốn đầu tư… trong đó nguồn nhân lực là yếu tố quan trọng và có tính chất quyết định. Nguồn nhân lực là yếu tố cấu thành lực lượng sản xuất và có khả năng tạo ra của cải vật chất. Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới (World bank, 2015), chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam hiện nay đạt mức 3,79/10 điểm. Hiện tại, cả nước mới có trên 1,3 triệu lao động du lịch, trong đó chỉ có 42% được đào tạo về du lịch, 38% được đào tạo từ các ngành khác chuyển sang và khoảng 20% chưa qua đào tạo chính quy mà chỉ được huấn luyện tại chỗ. Chính vì thế, số lao động có chuyên môn, kỹ năng cao vừa thiếu, vừa yếu, nhưng số lao động chưa đáp ứng được yêu cầu lại dư thừa (Hồ Hạ, 2018). Điều đó đã trở thành một trong những hạn chế của du lịch Việt Nam khi bước vào kỉ nguyên toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế. Bên cạnh đó, Đại dịch Covid-19 đã tác động mạnh mẽ tới đời sống, công việc, học tập của tất cả người dân trên toàn thế giới, 213 quốc gia và vùng lãnh thổ bị ảnh hưởng bởi Covid-19; 1,2 tỷ học sinh – sinh viên phải học trực tuyến, hơn 100 quốc gia phải thực hiện giãn cách xã hội, làm việc tại nhà. Điều đó đã trở thành cú hích mạnh mẽ để đẩy nhanh quá trình chuyển đổi số giúp phòng chống dịch bệnh và phục hồi kinh tế. 2.3. Lợi ích của chuyển đổi số trong đào tạo du lịch tại Việt Nam Chuyển đổi số mang lại nhiều lợi ích trong công tác đào tạo của các cơ sở giáo dục từ điều hành đến kết quả đào tạo như tăng khả năng tương tác, thực hành; tiếp cận được nhiều dữ liệu kiến thức trong thời gian ngắn hơn; giảng viên 287
  5. đánh giá học viên nhanh chóng và chính xác hơn nhờ hệ thống báo cáo xuyên suốt quá trình học tập và rèn luyện của sinh viên. Qua đó, hiệu quả đào tạo và tính cạnh tranh của các cơ sở giáo dục được nâng cao. Tăng cường trải nghiệm của học viên: Du lịch là ngành đào tạo đòi hỏi sinh viên cần thực hành, thực tế, thực tập nghề nghiệp nhiều để rèn luyện kỹ năng nghiệp vụ. Tuy nhiên, hệ thống cơ sở vật chất phục vụ đào tạo nghiệp vụ của các cơ sở giáo dục tại Việt Nam chưa đáp ứng được nhu cầu của thị trường lao động. Chuyển đổi số trong giáo dục đào tạo ngành du lịch sẽ giúp sinh viên có thể thực hành trong các phòng thực tế ảo, tăng trải nghiệm thực tế. Tăng cường sự minh bạch, hiệu quả quản trị và tăng năng suất lao động: Nhờ chuyển đổi số mà lãnh đạo nhà trường sẽ dễ dàng theo dõi tình hình hoạt động của các phòng ban, dễ dàng truy xuất báo cáo về mọi mặt hoạt động của doanh nghiệp, giúp quản lý dễ dàng hơn. Sử dụng hệ thống tự động để thực hiện các công việc không đòi hỏi chuyên môn cao, từ đó, nhân viên có thời gian để nâng cao chuyên môn, nghiệp vụ và thực hiện các công việc có giá trị gia tăng cao. Bên cạnh đó, chuyển đổi số còn giúp người quản lý dễ dàng đánh giá chất lượng công việc của nhân viên thông qua hệ thống tiêu chí đánh giá rõ ràng, minh bạch. Kết nối các phòng ban, giúp hỗ trợ sinh viên nhanh chóng hơn: Thiếu liên kết thông tin giữa các phòng ban và sinh viên là vấn đề thường gặp tại các cơ sở giáo dục. Điều này dẫn đến hiện tượng trì trệ công việc, tác đông không tốt tới sinh viên như: khả năng tương tác, nhận phản hồi thông tin 2 chiều giữa nhà trường và sinh viên yếu, thông tin từ nhà trường tới học viên chậm hơn, hỗ trợ sinh viên có hoàn cảnh khó khăn chưa kịp thời…Áp dụng chuyển đổi số nghĩa là nhà trường tạo ra một nền tảng kết nối được tất cả các phòng ban nội bộ, từ đó rút ngắn thời gian giải quyết các vấn đề phát sinh từ sinh viên, đồng thời giảm tải được các thủ tục hành chính trong quá trình hoạt động. 2.4. Thực trạng ứng dụng E-learning trong đào tạo du lịch tại Việt Nam 2.4.1. Điểm mạnh Chính phủ số: Ngày 03/6/2020, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 749/QĐ-TTg về phê duyệt Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030. Trong đó đề ra mục tiêu 100% cơ sở dữ liệu quốc gia được hoàn thành và kết nối, chia sẻ trên toàn quốc; Việt Nam sẽ ra nhập nhóm 70 nước dẫn đầu về Chính phủ điện tử (EGDI); 60-90% hồ sơ công việc các cấp được xử lý trên môi trường mạng. Điều đó đã tạo nền tảng về hệ thống chính sách cộng nghệ số giúp định hướng ứng dụng cách mạng công nghiệp 4.0 vào các lĩnh vực kinh tế - xã hội và đào tạo. 288
  6. Việt Nam có nhiều chính sách vĩ mô từ Đảng và Nhà nước về thúc đẩy ứng dụng công nghệ thông tin trong giáo dục đại học. Thông tư số 12/2016/TT- BGDĐT ngày 22 tháng 4 năm 2016 về Quy định ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, tổ chức đào tạo qua mạng. Trong đó quy định một số nội dung liên quan đến thiết kế web dạy trực tuyến đào tạo qua mạng, hệ thống máy chủ và hạ tầng kết nối mạng internet, hệ thông quản lý học tập, kho học liệu số và đội ngũ nhân sự. Ngoài ra, Đề án 117/QĐ-TTg ngày 25 tháng 01 năm 2017 của Thủ tướng Chính phủ đã nêu rõ tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong giáo dục và đào tạo; xây dựng và triển khai Chính phủ điện tử, hệ thống dịch vụ công trực tuyến, hệ thống bồi dưỡng giáo viên trực tuyến của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Bên cạnh đó, công văn số 4966/BDGĐT-CNTT ngày 31 tháng 10 năm 2019 về việc triển khai nhiệm vụ ứng dụng CNTT đối với các cơ sở giáo dục đại học, các trường CĐ sư phạm và Trung cấp sư phạm. Đây là hệ thống các chính sách nhằm xây dựng hệ sinh thái điện tử trong giáo dục đào tạo. Xã hội số: Mục tiêu đến năm 2025, định hướng đến năm 2030, >50% dân số có tài khoản thanh toán điện tử; phổ cập dịch vụ mạng di động 4G/5G và điện thoại di động thông minh, từ đó giúp Việt Nam là 1 trong 40 nước dẫn đầu về an ninh, an toàn mạng (GCI). Theo thông tin từ Hiệp hội Thương mại điện tử Việt Nam cho thấy, tốc độ tăng trưởng thương mại điện tử của Việt Nam năm 2017 đạt trên 25% và con số này có thể được duy trì trong giai đoạn 2018 – 2020. Đáng chú ý là tốc độ tăng trưởng của du lịch trực tuyến lên đến 50% (Ngọc Hà, 2018) Hạ tầng số: Việt Nam có hạ tầng viễn thông 2G, 3G, 4G phủ sóng trên cả nước với hệ thống hơn 150.00 trạm BTS, thống kê đến hết ngày 30/6/2017 Việt Nam có 64 triệu người dùng Internet, tương ứng với 67% dân số cả nước. Những con số trên cho thấy, hạ tầng viễn thông – Internet đang là bệ phóng cho sự phát triển kinh tế và hội nhập quốc tế của Việt Nam (Hữu Tuấn, 2017). Việt Nam là quốc gia có số lượng người sử dụng internet lớn thứ 6 Châu Á và thứ 12 trên thế giới, ngoài ra, dân số Việt Nam là dân số trẻ, dễ dàng tiếp cận và thích nghi với môi trường mới, số lượng người dưới 30 tuổi năm 2014 là 45.462 triệu người, chiếm 50,2% dân số (Tổng cục thống kê, 2016). Vì vậy, Việt Nam được đánh giá là quốc gia có tiềm năng phát triển E-learning lớn. Hệ thống đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực du lịch: Cơ sở đào tạo, dạy nghề du lịch các cấp trình độ được hình thành và mở rộng. Cơ cấu đa dạng về loại hình sở hữu, cấp đào tạo, dạy nghề và ngành nghề. Theo số liệu thống kê của Viện nghiên cứu Phát triển du lịch: tính đến tháng 8/2010, cả nước có 284 cơ sở tham gia đào tạo du lịch trong đó có 62 trường Đại học, 80 trường Cao đẳng, 117 trường Trung cấp, 2 công ty đào tạo và 23 trung tâm đào tạo nghề. Điều này cho thấy, lực 289
  7. lượng lao động trong lĩnh vực du lịch đang dần được chuẩn hóa, được trang bị kiến thức và kĩ năng cho quá trình hội nhập và phát triển (Lan Hương, 2016). 2.4.2. Điểm yếu Nguồn vốn đầu tư: Đầu tư cho giáo dục, đào tạo được coi là yếu tố then chốt thúc đẩy phát triển kinh tế nhanh và bền vững. Nguồn lực đầu tư cho việc giảng dạy e-learning là một vấn đề quan trọng bởi công nghệ nhanh lạc hậu và thường thay đổi. Bảng1. Cơ cấu chi ngân sách cho giáo dục đào tạo theo các cấp học Đơn vị: % Cấp học 2008 2009 2010 2011 2012 2013 2014 GD mầm non và GD phổ 70.4 70.9 69.7 69 69.2 69 69.2 thông Dạy nghề 10 9.8 9.7 9.9 9.7 9.7 9.7 Trung cấp chuyên nghiệp 3.3 3.2 3.4 3.6 3.5 3.5 3.5 Cao đẳng, Đại học 12 11.7 11.7 12 12.4 12.4 12.4 Giáo dục thường xuyên 1.2 1.5 1.8 1.7 1.6 1.8 1.6 Giáo dục đào tạo khác 3 2.9 3.7 3.8 3.6 3.6 3.6 Nguồn: Cổng thông tin điện tử Bộ Giáo dục và Đào tạo Nhìn vào bảng thống kê trên có thể nhận thấy được, kinh phí đầu tư cho giáo dục ở trình độ Đại học, Cao đẳng và Trung cấp chuyên nghiệp chi từ ngân sách nhà nước đã có tăng qua các năm, tuy nhiên vẫn còn còn tương đối hạn chế, trung bình chỉ chiếm khoảng 15% tổng ngân sách nhà nước chi cho giáo dục. Về chương trình đào tạo: Chuyển đổi số với sự xuất hiện của công nghệ thực tế ảo và tương tác thực tại ảo đòi hỏi hệ thống đào tạo phải thay đổi chương trình và phương thức đào tạo. Chương trình đào tạo du lịch hiện nay vẫn còn thiên về giảng dạy lí thuyết, chậm đổi mới, nội dung chương trình đào tạo hiện nay vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu và xu thế lao động CMCN 4.0 (Lan Hương, 2016). Đội ngũ giảng viên giảng dạy: Trong điều kiện hội nhập hiện nay, ngoài yếu tố tích hợp tiêu chuẩn trong nước và quốc tế đối với chuyên môn nghiệp vụ thì khả năng sử dụng thành thạo ngoại ngữ và công nghệ thông tin để nâng tầm trong công tác giảng dạy là yêu cầu bắt buộc đối với giảng viên. Tuy nhiên phần lớn số lượng giảng viên ở các trường có đào tạo về du lịch được đào tạo từ các ngành khác, việc giảng dạy về du lịch chủ yếu dựa vào vốn kiến thức tự học, tổng hợp từ nhiều nguồn, từ kinh nghiệm của các Thầy Cô. Đội ngũ giảng viên nghề chưa đồng đều về trình độ và năng lực. Đây là một điểm yếu đối với đội ngũ giảng dạy. 290
  8. Cơ sở vật chất kĩ thuật phục vụ giảng dạy: Đặc điểm của đào tạo du lịch là đào tạo nghề, bên cạnh đó thời đại chuyển đổi số, công nghệ phục vụ du lịch phát triển nhanh và thay đổi theo từng ngày nên rất cần các cơ sở thực hành, thực tế. Tuy nhiên, các trang thiết bị kĩ thuật phục vụ đào tạo thường rất đắt tiền và nhanh chóng thay đổi khiến các cơ sở đào tạo thường khó theo kịp sự phát triển của ngành, dẫn đến việc đào tạo du lịch hiện nay đang phổ biến tình trạng “tay không bắt giặc”. Điều này ảnh hưởng lớn tới chất lượng nguồn lao động do không thể bắt kịp với nhu cầu của công việc. 2.5. Đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo ngành du lịch thông qua E-learning Xây dựng và phát triển nguồn học liệu mở (OER): Tài nguyên giáo dục mở là tài liệu giảng dạy, học tập, sách giáo khoa, bài nghiên cứu, video, tài liệu tương tác, cơ sở dữ liệu, phần mềm… được đăng tải cho phép người khác truy cập, sử dụng ít hạn chế hoặc không hạn chế. Nguồn học liệu mở mang lại nhiều lợi ích cho giáo dục trực tuyến như thường xuyên được cập nhật theo thực tế từ người mọi hoặc người dạy, làm giảm chi phí đào tạo nhưng vẫn đảm bảo chất lượng giảng dạy, có khả năng huy động được cả giáo viên và học viên vào việc sáng tạo và sử dụng OER. Đây là một trong những ứng dụng nền tảng góp phần xây dựng hệ sinh thái giáo dục mở. Đẩy mạnh xây dựng hệ thống quản lý học tập: nhằm giúp người học có thể tự học tập, tự đánh giá, nắm bắt được tiến trình, kết quả học tập của bản thân từ đó xây dựng được kế hoạch học tập thích hợp. Ngoài ra, hệ thống quản lý học tập còn giúp cơ sở đào tạo quản lý điểm, tiến trình học tập của người học, các hoạt động của giảng viên và cố vấn học tập trên môi trường mạng. Bên cạnh đó, đây còn là diễn đàn trao đổi và các công cụ hỗ trợ để người học có thể kết nối với giảng viên, các đơn vị chức năng của cơ sở đào tạo để giải quyết các vấn đề, vướng mắc liên quan trong quá trình học tập trực tuyến. Nâng cao chất lượng đào tạo: Nội dung giảng dạy e-learning cần phải được đầu tư và phát triển để thực sự trở thành đào tạo trực tuyến e-content. Có thể dễ dàng nhận thấy rằng, nội dung chương trình đào tạo hiện nay chưa phù hợp sử dụng trong nền tảng e-learning. Vì vậy, nội dung bài học cần được cập nhật nhanh chóng, hiệu quả, tăng cường các hoạt động tương tác cho phép học viên tranh luận nội dung bài giảng qua các bài tập thảo luận thay vì chỉ tiếp nhận thông tin một chiều. Các trường đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong đào tạo và giảng dạy như công nghệ 3D, 3600 … giúp sinh viên có thể tương tác, thực tập nghề nghiệp ngay tại phòng thực hành, thí nghiệm, qua đó tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình phân tích và giải quyết tình huống. Du lịch là ngành kinh tế tổng hợp, do đó việc xây dựng khung chương trình đào tạo cần được tính đến yếu tố hội nhập để đảm bảo các chương trình khung đào tạo phù hợp với chuẩn mực 291
  9. đào tạo khu vực và quốc tế. Chương trình đào tạo phải được xây dựng theo hướng mở, dễ dàng chuyển đổi và cập nhật theo sự phát triển của xã hội. Phát triển hệ thống các khóa học trực tuyến mở rộng (Massive Online Open Courses – MOOCs) sẽ tối ưu hóa năng lực, sở thích và điều kiện của từng cá nhân. Cần tăng thời gian thực hành, thực tập tại các doanh nghiệp nhằm giúp sinh viên tiếp cận với công việc trong tương lai, hạn chế tình trạng doanh nghiệp phải đào tạo lại sau khi tuyển dụng. Nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên: Vai trò của giảng viên rất quan trọng trong việc phát triển e-learning vì giảng viên không chỉ nắm bắt được phương pháp học tập mà còn phải là người tạo ra bài giảng phục vụ cho việc tự học của học viên. Giảng viên cần được đào tạo về khả năng ứng dụng công nghệ thông tin, có khả năng sử dựng các phương tiện dạy học hiện đại và quan trọng nhất là phải có năng lực tự học, tự nghiên cứu khoa học. Đây chính là nền tảng quan trọng để người giảng viên không bị tụt hậu so với thời đại. Giảng viên cần thường xuyên cập nhật kho dữ liệu học tập gồm bài giảng, giáo trình điện tử, dữ liệu đa phương tiện, đặc biệt là các phần mềm mô phỏng giúp sinh viên dễ dàng hình dung về điểm đến du lịch hoặc công việc trong tương lai. Ngoài ra, cần chú trọng nâng cao trình độ tin học, ngoại ngữ và ứng dụng công nghệ thông tin để giáng viên đủ khả năng giảng dạy, tự nghiên cứu, trao đổi chuyên môn trực tiếp với chuyên gia nước ngoài, tham dự hội nghị, hội thảo, diễn đàn quốc tế và học tập, tu nghiệp ở nước ngoài. Đầu tư về cơ sở vật chất kỹ thuật: cần đầu tư cơ sở kỹ thuật hiện đại, đồng bộ, đáp ứng được yêu cầu của đào tạo trực tuyến trong bối cảnh 4.0 như đường truyền internet tốc độ cao, điện toán đám may, máy tính, mạng nội bộ, phần mềm trí tuệ nhân tạo, phần mềm phục vụ e-learning, website, thư viện điện tử, hệ thống đào tạo trực tuyến, phòng học đa phương tiện, phòng chuyên môn hóa, hệ thống thiết bị ảo mô phỏng, thiết bị thực tế ảo, thiết bị dạy học thuật và các phần mềm ảo mô phỏng thiết bị dạy học thực tế. Sự phát triển của E-learning đòi hỏi sự phát triển nhanh chóng của công nghệ như AI, IoT và BigData. Để đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực chất lượng cao cho thời đại hội nhập quốc tế, cần thiết lập hệ sinh thái đại học hoàn chỉnh bao gồm giảng dạy – nghiên cứu – chuyển giao công nghệ. Điều đó sẽ giúp cơ sở đào tạo chủ động xây dựng chương trình phù hợp với yêu cầu thực tiễn của công việc tại địa phương, giúp nâng cao trình độ nguồn nhân lực du lịch. Tăng cường liên kết, hợp tác giữa nhà trường và doanh nghiệp: Cần đẩy mạnh đào tạo tại chỗ theo nhu cầu của doanh nghiệp. Doanh nghiệp sẽ là nơi thực hành, thực tập của các cơ sở đào tạo, đồng thời, doanh nghiệp sẽ cử các chuyên gia tham gia giảng dạy, hướng dẫn thực hành, thực tập để đào tạo nhân lực theo mục tiêu và yêu cầu cụ thể của từng doanh nghiệp. Thực hiện ký kết hợp đồng 292
  10. đào tạo giữa doanh nghiệp và cơ sở đào tạo theo nguyên tắc đặt hàng, đào tạo theo nhu cầu doanh nghiệp sẽ giảm chi phí đào tạo lại của doanh nghiệp và nâng cao chất lượng đào tạo. 3. Kết luận Với định hướng chiến lược đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước, song song với đó là sự kiện toàn thế giới đang chuyển mình bước vào thời kì chuyển đổi số, du lịch Việt Nam đang được đặt giữa những cơ hội lớn lao và những thách thức không nhỏ. Vấn đề đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu xã hội không chỉ là bài toán đối với ngành du lịch mà còn là trăn trở của nhiều ngành nghề tại Việt Nam. Bước vào kỷ nguyên kinh tế số, đào tạo du lịch tại Việt Nam có những ưu thế và hạn chế nhất định, tuy nhiên, chuyển đổi là xu thế tất yếu, không thể thay đổi, phù hợp với quy luật phát triển và tiến hóa. Nếu quyết tâm phát huy mặt tích cực và khắc phục những vấn đề còn tồn tại để biến thách thức thành cơ hội thì việc tối ưu hóa ứng dụng các công cụ truyền thông trực tuyến sẽ góp phần cho thắng lợi của định hướng chiến lược đã đề ra, các cơ sở đào tạo du lịch Việt Nam cùng với nền kinh tế đất nước sẽ song hành trên con đường phát triển bền vững. Tài liệu tham khảo [1]. Bộ Thông tin và Truyền thông (2019), Dự thảo Đề án Chuyển đổi số quốc gia, Hà Nội. [2]. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2016), Thông tư số 12/2016/TT-BGDĐT Quy định ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, tổ chức đào tạo qua mạng, Hà Nội. [3]. Vũ Quốc Thông (2018), “Các nhân tố ảnh hưởng đến sự thành công cho đào tạo trực tuyến ở các trường Đại học Việt Nam”, Kỷ yếu hội thảo “Nền kinh tế số trước bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4”, NXB Thông tin và truyền thông, TPHCM. [4]. Thúy Hà, (27/12/2019), Việt Nam đón trên 18 triệu lượt khách quốc tế năm 2019. http://baovanhoa.vn/du-lich/artmid/416/articleid/25015/viet-nam-don-tren-18-trieu- luot-khach-quoc-te-nam-2019 [5]. Ngọc Hà, “Chạm tay chọn tour du lịch: Cơn sốt mới ở Việt Nam”, Báo vietnamnet.vn , ngày 9/4/2018. Nguồn: http://vietnamnet.vn/vn/kinh-doanh/dau-tu/du-lich-tren-con-tau- 4-0-nhung-toa-cham-toa-nhanh-438718.html [6]. Hồ Hạ (7/7/2018). “Nhân lực du lịch: vừa thiếu, vừa yếu”. Kinh tế & đô thị. Nguồn: http://kinhtedothi.vn/nhan-luc-du-lich-vua-thieu-vua-yeu-320283.html [7]. Lan Hương. (21/11/2016). “Đào tạo du lịch tại các trường Đại học và Cao đẳng – hội nhập và phát triển”. Viện nghiên cứu phát triển du lich. Nguồn: http://www.itdr.org.vn/vi/nghiencuu-traodoi/1291-dao-tao-du-lich-tai-cac-truong-dai- hoc-va-cao-dang-hoi-nhap-va-phat-trien.html [8]. Hữu Tuấn, “Hạ tầng Internet – Viễn thông: Nền tảng cho hội nhập kinh tế số”, Báo Đầu tư online, ngày 22/11/2017. Nguồn: https://baodautu.vn/ha-tang-internet---vien-thong- nen-tang-cho-hoi-nhap-kinh-te-so-d72961.html 293
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2