1
CƠ SỞ SINH LÝ HỌC CỦA OXY LIỆU PHÁP
Từ khi các phương pháp đo đạc nồng độ oxy trong máu một cách tiện lợi,
các dụng cụ cung cấp oxy cũng được cải tiến. Ta thể làm phân áp oxy trong động
mạch (PaO2) từ 60 mmHg lên 600 mmHg bằng oxy, trong khi khó có một loại thuốc
nào được hiệu quả như thế. Nhưng tác hại của phân áp oxy cao lên cơ thể cũng đã
được chứng minh, do đó việc sử dụng oxyng phải thn trọng như dùng thuốc.
Nắm vững các sở sinh học của oxy liệu pháp để sdụng oxy một ch
hữu hiệu, an toàn, hợp lý nhất là một vấn đề quan trọng.
1. DƯỢC LÝ HỌC CỦA OXY
1.1 Cách cho oxy
Oxy ch thcho qua đường hấp được hấp thụ qua màng phế nang mao
mạch mà vào u. Ngoài phòng mổ, oxy tờng được cho bằng hthống không thở
lại theo 2 cách:
Hệ thống lưu lượng cao: có thể quyết định được FiO2, gọi cao có thể cung
cấp toàn bộ lượng khí thở cho bệnh nhân.
Hệ thống u lượng thấp: FiO2 bị thay đổi theo kiểu thở của bệnh nhân, thấp
bệnh phải hít ktrời vào thêm.
Do vậy ta thể cách cho oxy bằng h thống lưu lượng cao n tiêm thuốc
bằng đường tĩnh mạch; còn cách cho bằng h thống lưu lượng thấp là đường tiêm bắp.
1.2 Sự hấp thu
Mức hấp thu oxy vào máu tùy thuộc o 3 yếu tố: (a) FiO2, (b) mối tương quan
giữa thông khí tưới máu tại phổi (V/Q) (c) nồng độ oxy trong máu tĩnh mạch
trộn ( 2
O
V).
1.3 Sự phân phối oxy
Oxy được phân phối cho c mô được tưới máu. Oxy sẽ khuếch tán từ mạch máu
vào mô kẽ và đến tế bào.
1.4 Chuyển hóa và thải oxy
Oxy được dùng trong chuyển a các chất trong tế bào. Sn phẩm cuối ng
CO2 nước. Trong quá trình chuyển a có những chất trung gian gốc tự do, có
thgây đc hại cho mô nếu bị tích lũy.
2. MỤC ĐÍCH CỦA OXY LIỆU PHÁP
Dựa trên những hiệu quả sinh lý mà oxy liệu pháp thđem lại, 3 mục đích
chính của oxy liệu pháp trong lâm sàng như sau:
2.1 Điều trị gim oxy máu
Do phân áp oxy trong phế nang được gia ng, một số trường hợp giảm oxy máu
được điều trị hiệu quả bằng oxy liệu pháp. d: giảm thông khí phế nang, khó
khuếch tán qua màng phế nang – mao mạch.
2.2 Làm giảm công hô hấp
2
Khi thiếu oxy máu mô, hệ hô hấp sẽ bkích thích. Do đó oxy liệu pháp sẽ
giúp cơ thể đạt đến mức O2 trong phế nang với một công hô hấp nhỏ hơn.
2.3 Làm giảm công cơ tim
Khi thiếu oxy máu và mô, tim cũng gia tăng cung lượng tim để bù đp. Oxy liệu
pháp khi cải thiện được ợng oxy trong máu mô, sgiảm bớt công việc của
tim.
3. CÁC CÁCH CHO OXY
3.1 Ch số để theo dõi lượng oxy cho vào
Muốn đánh glượng oxy cho vào đã đầy đủ hay chưa, việc điều trị bằng oxy
hiệu quả hay không, các bác dựa vào triệu chứng lâm sàng và kết quả phân tích khí
trong máu. Tuy nhn, cách đánh giá trên phải dựa trên sở một ợng oxy cho vào
cơ thcũng phức tạp, bởi vì:
Phân áp oxy trong phế nang là trị số tiêu biểu nhất nhưng lại chịu nhiều sự biến
đổi theo chu k hấp, sự phân phối khí máu phế nang, nơi và lúc lấy mẫu, nên
không thể được chn.
Phân áp oxy trong phế quản tuy có thlấy được một cách chính xác nhưng lại
y tổn thương.
Do đó trị số có thể phản ánh lượng oxy cho vào vừa chính xác, vừa tiện lợi, đó
là nồng độ oxy trong khí hít vào (fractional inspired oxygen concentration – FiO2).
Sau đây chúng ta sẽ xét đến các phương pháp cho oxy vào thể đặc biệt chú
trọng đến nồng độ oxy trong khí hít vào – FiO2.
3.2 Các phương pháp cho oxy
Ngày nay các phương pháp cho oxy dựa trên nguyên tắc không thở lại chia
làm hai loại: hệ thống lưu lượng cao hthống lưu ợng thấp (high-flow and low-
flow systems).
Hệ thống lưu lượng cao hthống đủ sc cung cấp luồng khí cho nhu cầu khí
hít vào, còn hthống lưu lượng thấp phải nhờ thêm ktrời mới đ cho nhu cầu khí
hít vào.
Tuy nhiên, cần phân biệt giữa lưu lượng và nồng độ oxygen trong khí hít vào. Hệ
thống lưu lượng thấp không nghĩa chcung cấp được những nồng độ oxy trong
khí hít vào thấp và ngược lại. Đây một điểm dễ gây nhầm lẫn.
3.2.1 Hệ thống oxy lưu lượng cao
hệ thống oxy lưu lượng cao thể cung cấp đầy đủ khí hít vào cho bệnh
nhân, nên bệnh nhân ch cần thở khí do máy cung cấp mà thôi. Hệ thống oxy lưu
ợng cao có thể cung cấp nồng độ oxy trong khí hít vào từ thấp đến cao.
Hầu hết trong hthống oxy lưu lượng cao đều dùng dụng c Venturi. Dụng cụ
này dựa trên nguyên tắc Bernouli tức một luồng khí vận tốc nhanh sẽ y nên
một áp lực âm bên thành và sẽ t khí trời vào theo nó. (Hình 1)
3
Hình 1: Nguyên tắc của dụng cụ Venturi: khi cho oxy (oxygen source) với áp lực cao đi
qua một lỗ nh, áp lực âm tạo ra sẽ hút khí tri vào qua các lỗ hút bên ng
(Entrainment port EP) kích thước EP ng lớn (A hình) khí tri vào ng
nhiều, FiO2 càng nhỏ và ngược lại (B – hình)
Như vậy, trong dng cụ Venturi của h thống oxy lưu lượng cao, nồng độ oxy hít
vào (FiO2) được quyết đnh bởi kích thước của lỗ hút (EP); còn lưu lượng toàn bộ khí
thì được quyết đnh bởi lưu lượng oxy đưa vào dụng cụ.
FiO2 từ 0,24 đến 0,40 thường được sử dụng với mask có l hút khí.
FiO2 lớn hơn 0,40 thường được cung cấp bởi các nebulires th tích lớn.
c bộ phận chứa khí cũng quan trọng, nhưng yếu tố chủ yếu để giữ cho FiO2
hằng định u lượng toàn bộ khí. Để đảm bo được FiO2 hằng định, nên cho máy
cung cấp mt lưu lượng toàn bộ khí gấp 4 lần thông khí phút của bệnh nhân (bảng 1)
Bảng 1: Bng ước tính FiO2 và lưu lượng toàn b khí trong hệ thống oxy
lưu lượng cao
FiO2 Khí trời/ 100% oxy
0,24 25/1
0,28 10/1
0,34 5/1
0,40 3/1
0,60 1/1
0,70 0,6/1
Ví d: muốn cung cấp FiO2 = 0,40 ở một bệnh nhân có thông khí phút 6 l/phút thì
lưu ợng toàn bộ k cần cho là 24 l/phút. Muốn vậy, dùng oxy nguyên chất với lưu
ợng là 6 l/phút.
4
Hệ thống oxyu lượng cao có những ưu điểm rất quan trọng:
- Nếu biết sử dụng đúng cách, hthống này sẽ cung cấp oxy với FiO2 hằng đnh
biết trước được. Có thể kiểm tra FiO2 bằng máy phân tích oxy.
- toàn bộ khí hít o được cung cp nên nhiệt độ ẩm đkhí thkiểm soát
được.
- CO2 không bị tích tụ
Khuyết điểm phải mua dụng c Venturi, tạo nên luồng gió và tiếng ồn m một
số bệnh nhân khó chịu, làm ẩm khí kém ở FiO2 tối đa.
vậy, ng hthống oxy lưu lượng cao phương pháp tốt nhất trong tất cả các
cách ca oxy liệu pháp.
3.2.2 Hệ thống oxy lưu lượng thấp
Hệ thống y không cung cấp đkhí hít vào cho bnh nhân, nên một phần khí lưu
thông (VT) phải được hít bằng khí trời. Oxy được cho qua ống thông ở mũi trước.
Như đã nhấn mạnh trên, tuy gọi hệ thống oxy lưu lượng thấp, nhưng FiO2
cung cấp bởi hệ thống này có thể từ 21% lên đến 80% hay hơn nữa.
Tuy nhiên FiO2 cung cp theo phương pháp này chịu nhiều sự biến đổi tùy vào:
Kích cỡ của các khoang chứa oxy.
u lượng ca oxy cung cấp thấp (l/phút)
Kiểu hô hấp ca bệnh nhân.
Do vậy FiO2 không thbiết được một cách chính xác. Nhưng phương pháp
này rất thông dụng quen dùng, bnh nhân dễ chu, rẻ tiền sẵn hơn dụng c
Venturi.
Để minh họa sự biến động mch ca FiO2 theo kiểu thở của bệnh nhân, chúng ta
hãyt 2 ví dụ sau đây:
Ví dụ 1:
Một người nhp thở 20 lần/ phút, khí lưu thông là 500 ml, thời gian hít vào
1 giây, thời gian thở ra 2 giây. Khoang chứa thbao gồm i, hầu i và hu
họng bằng khoảng 1/3 khoảng chết cơ thể tức khoảng 50 ml.
Khi cho oxy đi qua ống thông mũi với u lượng 6l/phút (100 ml/giây), chúng
ta có thể tính ra FiO2 như sau: trong c hít vào 1 giây, trong 500 ml khí hít vào có: 50
ml O2 nguyên chất từ khoang chứa cơ thể.
100 ml O2 nguyên chất theo ống thông mũi đi vào.
350 ml khí trời, chứa 20% oxy, tức là 70 ml O2 nguyên chất.
Vậy tổng cộng ta 220ml oxy trong tổng 500ml khí hít vào mỗi lần (thtích
khí lưu thông).
Vậy FiO2bằng 220/500 tức bng 0,44.
Ví dụ 2:
Nếu cùng một bệnh nhân như trên nhưng thông khí phế nang giảm chỉ còn 250
ml, thì trong 1 giây hít vào có:
50 ml O2 nguyên chất từ khoang chứa cơ thể.
5
100 ml O2 nguyên chất theo ống thông mũi đi vào.
100 ml khí trơ, chứa 20% oxy, tức 20ml O2 nguyên chất.
Vậy ta tổng cộng 170 ml oxy trong tổng số 250 ml khí t vào mỗi lần (thể
tích khí lưu thông). Vậy FiO2 bằng 170/250 tức 0,68.
Hai ví dụ trên cho thấy trong hthống oxyu lượng thấp thay đổi mạnh mtùy
vào thể tích khí lưu thông, tần s hô hấp, thông khí phút và kiểu thở.
Do vậy hệ thống oxy u ợng thp chỉ có thể cung cấp cho bệnh nhân một loại
khí FiO2 ổn định một khi kiểu thở của bệnh nhân n định hệ thống này th
cung cấp mt FiO2 rất cao (bảng 2).
Dùng ống thông mũi trước thì lưu lượng khí tối đa nên 6l/phút cao hơn nữa
chúng ta cũng không thể ng thêm FiO2 được vì khoang chứa cơ thể đã đầy.
Muốn tăng thêm FiO2 với hệ thống y, ta phải tăng thêm thể tích của khoang
chứa oxy, bằng cách dùng mask chụp trên mũi miệng bệnh nhân. Các giá trị FiO2
tương ứng với các u lượng oxy khi ng dụng cụ này được ước nh trong bảng 2,
khi kiểu thở của bệnh nhân là bình thường.
Khi dùng mask lưu lượng oxy không được để dưới 5 l/phút, nếu không, khí th
ra sẽ bị ứ đọng trong mask. Các giá trị FiO2 tương ứng với các lưu lượng oxy khi dùng
hthống oxy lưu lượng thấp với mask được ưc tính trong bảng 2, khi kiểu thcủa
bệnh nhân bình thường. Kiểu thở của bệnh nhân cũng ảnh hưởng đến FiO2 như khi
dùng ống thông.
Muốn FiO2 cao n 0,60 ta lại phải tăng thêm bình khoang chứa oxy bằng cách
gắn thêm một túi dtrữ na. Đây một i dự trữ oxy nên kng bao giờ được để
xẹp khi hít vào. Với lưu lượng oxy 100% từ 6 đến 10 l/phút, hthống mask bình
chứa khí thcho FiO2 từ 0,60 đến hơn 0,80 (bảng 2). Vì là hệ thống oxy lưu ợng
thp nên FiO2y cũng bị thay đi theo kiểu thở của bệnh nhân.
Nói tóm lại, với 2 hệ thống oxy ch yếu, ta thể chọn lựa đthể một
ợng oxy hằng định và có thể biết trước được và bao giờ cũng phải đánh giá kiểu thở.
Với một người có kiểu thở bất thường ta nên dùng hệ thống oxyuợng cao. Chỉ có
khi nào lượng oxy cho vào được hằng đnh biết trước thì các triệu chứng m sàng
kết quả phân tích khí máu mới giúp ích vào việc điều trị được.
Các phương pháp sau đây ng thể dùng để cho oxy nhưng m thông dụng
hơn:
3.2.3 Cho oxy xuyên khí quản
Dùng một catheter đâm xuyên qua thành trước kqun đu ống nằm ngay
trên chỗ phân đôi khí quản. Đây một cách cho oxy hữu hiệu, nhất là bnh nhân
phải dùng oxy dài ngày. Nhưng có thể bị nhiễm tng.
3.2.4 Lều hay lồng ấp
Chdùng cho trẻ em không chịu được mask. Nồng đ oxy có thlên đến 0,50.
Bất tiện thời gian đđược FiO2 mong muốn lâu (> 20 phút), CO2 bị đọng, nhiệt
độ gia tăng, oxy bị thoát đi khi mở lều.
3.2.5 Dùng với máy giúp thở