
Cổ tích ngày nay
Xưa rất xa xưa, có ba chú tiểu chân quê vừa lên tỉnh, kịp lúc xuân sang nên phố phường
rộn rịp tươi vui.
Ba chú tiểu dáo dác nhìn bốn bề xao động trong cặp mắt nai ngơ ngác. Dọc theo lề
đường, ánh đèn xanh đỏ lập lòe về đêm khiến cho các chú đi từ ngạc nhiên này tới bất
ngờ khác. Và cứ thế, xe đưa các chú đến chùa như đã định.
Cũng như ở quê, chùa chiền cũng Phật, cũng trống chuông, khánh, mõ… Có khác chăng
là sự nguy nga tráng lệ và những nền gạch bóng loáng tựa gương soi. Các chú tiểu mở to
cặp mắt, phóng tầm nhìn về thế giới mới. Tưởng như trời đất Sài thành đã thu gọn trong
tầm tay. Nào ngờ, một sự cố bất chợt xảy ra ngoài trí tưởng tượng.
Số là chỏm chúng tôi cùng trang lứa nên được sống chung một phòng. Dù là có ba chiếc
giường hẳn hoi nhưng chúng tôi cứ như nam châm hạng ngoại hít chụm vào nhau rồi bày
ra những trò thi thố, đùa vui, tinh ngịch, không kém hồn nhiên đạo vị nhưng đầy cơ khổ.
Chỏm tôi nhớ rất rõ, có một đêm sắp đến giao thừa, chúng tôi bàn tính nhau thi ngồi thiền
với điều kiện “hễ ai xả thiền trước là người ấy thua”. Thế là cả ba cùng chụm lại một
chiếc giường có tủ chắn, lưng xoay vào nhau, đoan thân kiết già tỉnh tọa. Ấy vậy mà
chúng tôi vẫn không ngừng tích cực liếc mắt sang ngang, trộm canh chừng kiểm tra nhau
và xem huynh kia đã xả thiền chưa.
Cứ người này sợ thua người kia nên mặc dù nói thiền mà chẳng định gì cả, hễ người kia
còn ngồi yên thì điệu đây cũng chẳng chịu thua kém, cứ thế mà ngồi thiền mãi, ngồi
mãi… cho đến tận khuya.
Cuối cùng, huynh lớn nhất lại không chịu nỗi cuộc “đua ngồi thiền” nữa nên đành xả
thiền và tuyên bố chịu thua; ngã gục kế tiếp là chỏm Nhì, và chiến thắng sau rốt vẫn
thuộc về chỏm tôi.

Dù không có cảm giác thanh thản như những giờ thiền chính hiệu, nhưng trong tôi cứ
bùng lên niềm hân hoan của người chiến thắng, hãnh diện về chiến công oanh liệt của
mình.…
Bất chợt, một ánh sáng vàng rực rỡ lóe lên bên ngoài song cửa sổ, cả thảy chúng tôi
ngước nhìn ra và ngỡ ngàng hết sức, chỏm chúng tôi cũng suy đoán thật nhiều và cuối
cùng đưa ra quyết định vững chắc, đó là: “do chúng tôi tinh tấn ngồi thiền đến tận khuya,
mà Hộ pháp thì thường đi tuần ban đêm để hộ trì những người gắng công tu tập, thế nên
quý Ngài thấy chúng tôi tinh tấn tọa thiền bèn hiển linh”.
Chúng tôi lòng mừng khấp khởi, tin chắc rằng mình đã chứng quả nên không ai bảo ai, cả
ba cùng hướng ra cửa sổ mà lạy, miệng lâm râm khấn nguyện mọi điều mong ước trên
đời. Lúc ấy, chỏm tôi cũng bận bịu khẩn cầu quá nên không kịp lắng nghe nhị vị sư
huynh đã khấn nguyện những gì.
Riêng chỏm tôi lúc ấy, cứ mỗi lạy là cầu cho cha mẹ bình yên, thoát khổ; bản thân mình
thì tu hành được giải thoát và mọi người cũng đều được giác ngộ, an vui. Mặc dù thích đủ
thứ nhưng không dám khấn nguyện quá ba điều, vì chỏm chúng tôi e rằng tham quá sẽ
không còn được chứng quả và hết được Hộ pháp hiển linh.
Chúng tôi hè nhau mà sì sụp lạy, không ai thèm quan tâm đến ai nữa. Lạy mãi, lạy mãi…
cho đến khi yêu cầu mới của chỏm Nhì đề ra: “kể từ bây giờ, đốm sáng đầu tiên xuất hiện
là quả chứng của chỏm Cả; đốm sáng kế tiếp là quả chứng của chỏm Nhì, và đốm sáng
cuối cùng là của chỏm Út tôi”.
Tất cả đang quỳ chắp tay ở tư thế sẵn sàng để đón nhận quả vị tu chứng của mình, thì
bổng vụt lên một đốm sáng màu đỏ rực, chúng tôi quyết định đó là quả chiến thắng (vì
màu đỏ vốn dĩ là màu của chiến thắng cơ mà); đốm thứ hai lóe lên, và chúng tôi thẩm
định một lần nữa đó là quả hy vọng, vì là ánh sáng màu xanh. Cuối cùng, đến quả vị của
chỏm tôi, thật bất ngờ vì đó là màu vàng của đạo pháp.
Chúng tôi sướng rơn cả mình mẩy, vì từ đây mỗi người trong chúng tôi đều đã được đắc
quả. Chỏm chúng tôi cùng giao ước với nhau rằng: sáng mai ra, không ai được kể chuyện

chứng quả đêm nay hết, vì như thế sẽ không nên, đắc quả là phải hiện thân như người
bình thường, nếu không như vậy sẽ bị tổn phước, và nhất là cái miệng hở của chỏm tôi lại
càng phải hết sức cẩn thận. Bàn bạc đâu vào đấy rồi, chúng tôi lại hè nhau hướng ra song
cửa mà lạy nữa.
Đêm quá khuya và đốm sáng mỗi lúc bắn lên không trung một nhiều. Chỏm Nhì thôi
không lạy nữa và nằm xuống ngủ, điệu tôi quay sang đánh thức dậy bảo: “chứng quả rồi
mà còn ham ngủ nữa, dậy lạy đi”. Thế nhưng điệu Nhì vẫn không chịu nghe, cứ nằm ì ra
đấy. Còn lại hai huynh đệ tôi miệng niệm hồng danh Phật và cứ lạy hoài cho đến khi phát
minh mới tung ra từ chỏm Nhì.
Chỏm ta phát vào đùi một cái đét rõ to rồi tuyên bố: “A!, mấy chú ơi, đây không phải là
Hộ pháp đi tuần đâu, tên lửa đó, chứ Hộ pháp đâu mà đi tuần đông quá vậy”.
Thế là niềm tin đắc quả phút chốc bỗng dưng sụp đỗ hoàn toàn, và điệu chúng tôi tiu
nghỉu lê về giường của mình vùi ngủ mãi tận đến sáng mồng một Tết, quên cả đón giao
thừa...
Thời thơ ấu đã đi qua, chỏm chúng tôi cũng lớn dần theo năm tháng. Giờ đây, quay
ngược về quá khứ, chúng tôi mới “tỏ ngộ” ra rằng, những đốm sáng tung lên trời ấy
không phải là quả chứng “A la hán” hay tên lửa gỉ gì cả, mà chỉ là những đốm pháo bông
đón Tết mà thôi.
Ôi! Những nét hồn nhiên và trong sáng
Uế trược nào vấy được tuổi thơ ngây?

