intTypePromotion=1
ADSENSE

Đặc điểm lâm sàng của ung thư tế bào hắc tố tại Bệnh viện Da liễu Trung ương và Bệnh viện K Trung ương

Chia sẻ: Ni Ni | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:5

45
lượt xem
0
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Bài viết nghiên cứu đặc điểm lâm sàng của ung thư tế bào hắc tố tại Bệnh viện Da liễu TW và Bệnh viện K TW. Nghiên cứu mô tả cắt ngang, hồi cứu 60 bệnh nhân (BN) bị ung thư tế bào hắc tố (TBHT). Mời các bạn cùng tham khảo nội dung chi tiết của tài liệu.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Đặc điểm lâm sàng của ung thư tế bào hắc tố tại Bệnh viện Da liễu Trung ương và Bệnh viện K Trung ương

TẠP CHÍ Y DƯỢC HỌC QUÂN SỰ SỐ 2-2014 - KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CHƯƠNG TRÌNH KHCN KC.10/11-15<br /> <br /> ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG CỦA UNG THƯ TẾ BÀO HẮC TỐ<br /> TẠI BỆNH VIỆN DA LIỄU TRUNG ƯƠNG VÀ<br /> BỆNH VIỆN K TRUNG ƯƠNG<br /> Trần Hậu Khang*; Nguyễn Thị Ngọc Mai*; Nguyễn Hữu Sáu**<br /> TÓM TẮT<br /> Nghiên cứu mô tả cắt ngang, hồi cứu 60 bệnh nhân (BN) bị ung thư tế bào hắc tố (TBHT). Kết quả:<br /> tuổi trung bình: 56,4 ± 15; tỷ lệ nữ/nam = 1,6/1; 60% BN là nông dân; 66% tổn thương ở chi dưới,<br /> gót chân (23,4%), gan chân (12,8%), mu chân và kẽ chân (8.5 %); thể u: 36,7%; thể đầu cực: 33,3%,<br /> thể dubreuilh: 3,3%; thể nông: 5%; 60,7% BN có di căn hạch bạch huyết; 48,3% BN ở giai đoạn III.<br /> * Từ khóa: Ung thư tế bào hắc tố; Ung thu da.<br /> <br /> clinical features, histopathological findings of<br /> patients with melanoma at National Hospital of<br /> Dermato-Verenology and k hospital<br /> Summary<br /> A retrospective traversal study was carried out on 60 patients with malignant melanoma at National<br /> Hospital of Dermatology and National Hospital of Cancers. Results: mean age: 56.4 ± 15. Female/male<br /> ratio = 1,6/1; 60% of patients was farmer, 66% of patients had lesions on the foot, in which 23% was on<br /> the heel, 12.8% on the plantar, 8.5% on the other area of the foot. Nodular melanoma accounted for<br /> 36.7%, acral melanoma 33.3%, lentigo maligna melanoma 3.3%; superficial 5%; 60.7% of patients had<br /> lymph node metastasis and 48.3% of patients was at the III stage of AJCC classification.<br /> * Key words: Malignant melanoa; Skin cancer.<br /> <br /> ĐẶT VẤN ĐỀ<br /> Ung thư TBHT là một loại u ác tính của<br /> TBHT, nguy hiểm nhất trong các loại ung<br /> thư da do tỷ lệ di căn và tử vong cao. Loại<br /> ung thư này chỉ chiếm khoảng 5% trong số<br /> các loại ung thư da, nhưng lại là nguyên<br /> nhân của 75% số người tử vong do ung thư<br /> da gây nên [5].<br /> Tỷ lệ mắc ung thư TBHT khác nhau ở<br /> mỗi quốc gia, chủng tộc. Bệnh phổ biến ở<br /> các nước phương Tây, những người có làn<br /> da sáng màu. Việt Nam là một trong những<br /> <br /> nước có tỷ lệ mắc ung thư TBHT thấp.<br /> Theo ghi nhận năm 1993, tỷ lệ mới mắc<br /> ung thư TBHT tại Hà Nội là 0,3 - 0,4/<br /> 100.000 dân [2]. Thực tế cho thấy, hầu hết<br /> BN bị ung thư TBHT đều được chẩn đoán ở<br /> giai đoạn muộn. Một trong những nguyên<br /> nhân chủ yếu là do nhận thức kém về bệnh<br /> của cả người bệnh và thầy thuốc. Nghiên<br /> cứu này được thực hiện nhằm: Nghiên cứu<br /> đặc điểm lâm sàng của ung thư TBHT tại<br /> Bệnh viện Da liễu TW và Bệnh viện K TW.<br /> <br /> * Bệnh viện Da liễu TW<br /> ** Trường Đại học Y Hà Nội<br /> Người phản hồi (Corresponding): Nguyễn Hữu Sáu (nguyenhuusau@yahoo.com)<br /> Ngày nhận bài: 25/12/2013; Ngày phản biện đánh giá bài báo: 7/1/2014<br /> Ngày bài báo được đăng: 23/1/2014<br /> <br /> 107<br /> <br /> TẠP CHÍ Y DƯỢC HỌC QUÂN SỰ SỐ 2-2014 - KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CHƯƠNG TRÌNH KHCN KC.10/11-15<br /> <br /> ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP<br /> NGHIÊN CỨU<br /> Nghiên cứu dựa trên hồ sơ bệnh án của<br /> BN được chẩn đoán ung thư TBHT điều trị<br /> nội trú tại Bệnh viện Da liễu TW và Bệnh<br /> viện K TW từ 1 - 2008 đến 12 - 2012 dựa<br /> vào lâm sàng và xét nghiệm mô bệnh học.<br /> Thu thập và phân tích các th«ng tin về tuổi,<br /> giới, nghề nghiệp, tiền sử mắc bệnh, biểu<br /> hiện lâm sàng, thể lâm sàng, giai đoạn bệnh<br /> dựa vào phần mềm SPSS 16.0. Các biến<br /> định tính được mô tả dưới dạng phần trăm<br /> (%). Mô tả biến định lượng dưới dạng trung<br /> bình ± độ lệch.<br /> KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ<br /> BÀN LUẬN<br /> * Phân bố BN theo tuổi (n = 60):<br /> 20 - 29 tuổi: 2 BN (3,3%); 30 - 39 tuổi:<br /> 8 BN (13,3%); 40 - 49 tuổi: 12 BN (20%); 50<br /> - 59 tuổi: 13 BN (21,7%); 60 - 69 tuổi:<br /> 9<br /> BN (15%); 70 - 79 tuổi: 11 BN (18,3%);<br /> 80 - 89 tuổi: 4 BN (6,7%); 90 - 99 tuổi:<br /> 1 BN (1,7%).<br /> Qua nghiên cứu 60 BN ung thư TBHT,<br /> chúng tôi thấy: tuổi thấp nhất 21, cao nhất<br /> 96 tuổi, trung bình 56 tuổi. Lứa tuổi mắc<br /> bệnh nhiều nhất 50 - 59 tuổi (21,7%). Điều<br /> đó chứng tỏ ung thư TBHT ít gặp ở người trẻ.<br /> * Ph©n bè theo giíi:<br /> <br /> Làm ruộng<br /> <br /> Trong số 60 BN nghiên cứu, 23 BN (38%)<br /> nam và 37 BN (62%) nữ, tỷ lệ nữ/nam là 1,6/1.<br /> * Ph©n bè theo nghÒ nghiÖp<br /> <br /> 17<br /> <br /> Hưu trí<br /> <br /> 3<br /> <br /> Hành chính<br /> <br /> 2<br /> <br /> Tự do<br /> Nội trợ<br /> <br /> 1<br /> <br /> Bộ đội<br /> <br /> 1<br /> 0<br /> <br /> 10<br /> <br /> 20<br /> <br /> 30<br /> <br /> 40<br /> <br /> Biểu đồ 2: Phân bố theo nghề nghiệp.<br /> Theo nghề nghiệp, bệnh ít gặp nhất là nhân<br /> viên hành chính (5%), nghề tự do (3,3%), bộ<br /> đội (1,7%), sau đó là những người ở độ tuổi<br /> hưu trí (28,3%). Nông dân chiếm tỷ lệ cao<br /> nhất (60,7%). Những người làm ruéng phải<br /> tiếp xúc với ánh nắng mặt trời nhiều nhất,<br /> chịu ảnh hưởng bởi các tia bức xạ cực tím<br /> của ánh nắng mặt trời, một tác nhân gây ung<br /> thư [6].<br /> Bảng 1: Phân bố vị trí tổn thương ung thư.<br /> n = 47<br /> <br /> Chi<br /> dưới<br /> <br /> Biểu đồ 1: Phân bố theo giới.<br /> <br /> 36<br /> <br /> Đầu-mặt-cổ<br /> <br /> 4<br /> <br /> 8,5<br /> <br /> Thân mình<br /> <br /> 4<br /> <br /> 8,5<br /> <br /> Chi trên<br /> <br /> 8<br /> <br /> 17<br /> <br /> Đùi<br /> <br /> 3<br /> <br /> 6,4<br /> <br /> Cẳng chân<br /> <br /> 1<br /> <br /> 2,1<br /> <br /> Mu chân<br /> <br /> 4<br /> <br /> 8,5<br /> <br /> Gót chân<br /> <br /> 11<br /> <br /> 23,4<br /> <br /> Gan chân<br /> <br /> 6<br /> <br /> 12,8<br /> <br /> Ngón chân<br /> <br /> 2<br /> <br /> 4,3<br /> <br /> Kẽ chân<br /> <br /> 4<br /> <br /> 8,5<br /> <br /> 66<br /> <br /> Ung thư hắc tố gặp nhiều nhất ở chi dưới<br /> (66%), trong đó ở gót chân (23,4%), gan chân<br /> (12,8%), mu chân và kẽ chân chiếm tỷ lệ<br /> ngang nhau 8,5%. Trong một nghiên cứu ở<br /> New Zealand về vị trí tổn thương, ung thư<br /> TBHT xuất hiện nhiều nhất ở thân mình<br /> (nam giới) và chi dưới (phụ nữ) [6]. Nghiên<br /> cứu của Bùi Thị Bắc (1999) còng gặp ung<br /> thư hắc tố ở chi dưới chiếm tỷ lệ cao [1].<br /> Bảng 2: Phân bố thể lâm sàng (n = 60).<br /> <br /> 8<br /> <br /> TẠP CHÍ Y DƯỢC HỌC QUÂN SỰ SỐ 2-2014 - KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CHƯƠNG TRÌNH KHCN KC.10/11-15<br /> <br /> n<br /> Ung thư<br /> TBHT<br /> ở da<br /> <br /> Thể nông<br /> <br /> 3<br /> <br /> 5<br /> <br /> Thể u<br /> <br /> 22<br /> <br /> 36,7<br /> <br /> Thể đầu cực<br /> <br /> 20<br /> <br /> 33,3<br /> <br /> Thể của Dubreuilh lentigo<br /> maligna melanoma<br /> <br /> 2<br /> <br /> 3,3<br /> <br /> 78,3<br /> <br /> Thể niêm mạc (Mucosal Melanoma)<br /> <br /> 9<br /> <br /> 15<br /> <br /> Hạch không có u nguyên phát<br /> <br /> 4<br /> <br /> 6,7<br /> <br /> 60<br /> <br /> 100<br /> <br /> Tổng<br /> <br /> 42% trường hợp biểu hiện là cục u trên<br /> da. Các trường hợp ung thư hắc tố thể phần<br /> lớn đều xuất hiện trên nền da thường, từ<br /> một vết nhỏ màu đen rồi hình thành cục<br /> u, phát triển to ra, sùi loét, dễ chảy máu.<br /> 2<br /> BN từ một nốt ruồi, sau đó phát triển lồi lên<br /> trên mặt da thành cục nhỏ màu đen sậm, lớn<br /> dần. Tuy nhiên, có những trường hợp khối u<br /> xuất hiện trên da, nhưng không biến đổi màu<br /> sắc, chỉ biểu hiện như một khối rắn chắc<br /> trên da, không đau. Trường hợp này,<br /> thường chẩn đoán nhầm ở các bệnh viện<br /> địa phương, chỉ cắt bỏ khối u đơn thuần mà<br /> không làm giải phẫu bệnh lý. 3 BN khối u<br /> không thay đổi màu sắc. 1 BN nổi một cục u<br /> ở mặt trước cánh tay, lồi vào trong da, chắc,<br /> lớn dần trong vòng 3 tháng, kích thước<br /> khoảng 2 cm, được chẩn đoán là u xơ chai.<br /> Đã phẫu thuật cắt bỏ tại Bệnh viện Giao<br /> thông vận tải, làm giải phẫu bệnh sau mổ<br /> nghi ngờ ung thư và chuyển tới Bệnh viện K.<br /> Thể đầu cực trong nghiên cứu chiếm<br /> 33,3%; tương tự ở các nước châu Á khác.<br /> Tại Trung Quốc, thể đầu cực là loại phổ biến<br /> nhất (41,8%), sau đó là thể u (19,7%) [9]. Ở<br /> Đài Loan, 58% trường hợp ung thư hắc tố<br /> đầu cực, 30,4% thể u, 10,5% thể nông và<br /> 1,1% thể lentigo maligna melanoma<br /> (malanoma Dubreuilh) [4]. Có sự khác biệt<br /> về tỷ lệ phân bố thể bệnh ở những quốc gia<br /> như Úc, New Zealand và các nước châu Âu<br /> với tỷ lệ mắc thể nông, thể u, lentigo maligna<br /> melanoma, thể đầu cực chiếm > 70%, 15%,<br /> 13% và 2 - 3% [4, 7].<br /> <br /> Ung thư hắc tố thể đầu cực có nhiều biến<br /> đổi, do da dày ở những vị trí như gan chân,<br /> đầu móng, hay vùng gót chân, biểu hiện là<br /> một vết loét hoặc một mảng tăng sắc tố.<br /> Thông thường, các tổn thương dưới móng<br /> thường bắt đầu là vết nâu đen dọc trên<br /> móng, sau đó có dấu hiệu Hutchinson đặc<br /> trưng (vết sắc tố lan rộng ra hai bên rìa<br /> móng, vượt qua ranh giới móng để lan đến<br /> nếp gấp móng). Tuy nhiên, trường hợp vết<br /> nâu-đen xuất hiện ở dưới móng tay trong<br /> thời gian đầu, BN hay nhầm với một vết bầm<br /> tụ máu. Đến khi khối u phát triển sùi lên làm<br /> hỏng móng chân, móng tay, lúc ấy BN mới<br /> đến viện. Với những trường hợp như thế,<br /> cần hỏi kỹ tiền sử chấn thương trong thời<br /> gian gần nhất. Vết tụ máu dưới móng xuất<br /> hiện sau chấn thương, bị đẩy lùi dần ra ngọn<br /> móng, mờ dần đi và biến mất hoàn toàn sau<br /> 2 - 3 tháng. Khi có các dấu hiệu vết tụ máu<br /> không mất đi mà lan rộng ra, vết sọc bất<br /> thường ở móng mở rộng ra hai bên móng,<br /> hoặc vết sắc tố đậm dần, nên kiểm tra kỹ,<br /> tránh bỏ sót một ung thư hắc tố. Tổn thương<br /> ở móng cũng có thể nhầm với nấm móng,<br /> hoại tử thiếu máu cục bộ, u hạt sinh mủ.<br /> Trường hợp xuất hiện ở gót chân trên<br /> nền da thường một vết nâu đen, hoặc có thể<br /> là một nốt ruồi nhỏ BN không để ý, sau một<br /> thời gian lớn dần, lan rộng ra xung quanh, bờ<br /> không đều, có thể gây loét chảy máu. Gót<br /> chân là vị trí tổn thương hay gặp nhất ở chi<br /> dưới, do đây là vị trí hay được cọ sát, dễ<br /> chấn thương, đi chân trần tiếp xúc với hóa<br /> chất nông nghiệp [3]. Tuy nhiên, chẩn đoán<br /> th-êng muộn, khi tổn thương dễ có thể nhầm<br /> với các vết bầm máu do chấn thương, viêm<br /> loét nhiễm khuẩn mạn tính, tổn thương loét<br /> gót do bệnh lý đái tháo đường, thần kinh, đặc<br /> biệt là các tổn thương của ung thư hắc tố có<br /> màu sắc không đặc trưng, dễ bỏ qua, cần<br /> phải làm giải phẫu bệnh để chẩn đoán. Mặt<br /> khác, có thể do vùng da gót chân dày làm lu<br /> mờ bản chất thương tổn, vị trí gót và gan<br /> chân ít được chú ý cũng góp phần làm chẩn<br /> 9<br /> <br /> TẠP CHÍ Y DƯỢC HỌC QUÂN SỰ SỐ 2-2014 - KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CHƯƠNG TRÌNH KHCN KC.10/11-15<br /> <br /> đoán bệnh muộn. Tổn thương hắc tố ở chân<br /> có tiên lượng xấu hơn so với tổn thương ở<br /> vị trí khác ở chi dưới.<br /> Trường hợp khối u không nằm ở những<br /> vị trí trên là một thách thức đối với bác sỹ.<br /> Đó là thể ung thư hắc tố hiếm gặp như ung<br /> thư hắc tố niêm mạc, ung thư hắc tố không<br /> thấy khối u nguyên phát. Những trường hợp<br /> này phụ thuộc hoàn toàn vào kết quả mô<br /> bệnh học. Do vậy, khi chẩn đoán bệnh đã ở<br /> giai đoạn muộn. Trong nghiên cứu của<br /> chúng tôi, 2 BN đến viện do ra máu âm đạo<br /> bất thường. Soi âm đạo thấy tổn thương<br /> khối u màu đen, dễ chảy máu ở thành trước<br /> âm đạo. 1 BN sờ thấy khối lồi ra ở âm hộ và<br /> được chẩn đoán nhầm là polyp âm đạo.<br /> Khối u ở niêm mạc mũi xoang khiến BN ngạt<br /> mũi dần dần một bên, kéo dài gần 1 tháng,<br /> sau đó, BN thấy đau mũi, bên mũi ngạt sưng<br /> lên và chảy máu. BN đã đi khám ở Bệnh<br /> viện Tai Mũi Họng thấy có khối u màu đen<br /> trong hốc mũi, phẫu thuật lấy khối u, sinh<br /> thiết chẩn đoán là ung thư TBHT. Trường<br /> hợp khối u xuất hiện ở niêm mạc miệng, BN<br /> nhìn thấy một chấm nâu nhỏ trên lợi hàm<br /> trên, lớn dần trong vòng 4 tháng, tạo thành<br /> một vết màu nâu-đen kích thước khoảng 1,5<br /> cm, màu sắc không đều, ở ngoài màu nâu,<br /> ở giữa có chấm màu đen. Trường hợp khối<br /> u ở niêm mạc mắt làm BN thấy mắt bên phải<br /> nhìn mờ dần, sau đó có cảm giác đau tức<br /> trong mắt. BN được phẫu thuật cắt bỏ nhãn<br /> cầu, sau sinh thiết phát hiện là ung thư<br /> TBHT.<br /> Bảng 3: Đánh giá di căn hạch bạch huyết.<br /> n<br /> Cổ<br /> 1 vùng Chẩm<br /> hạch<br /> Góc hàm<br /> <br /> 2<br /> 2<br /> 1<br /> 27<br /> <br /> Nách<br /> <br /> 3<br /> <br /> Bẹn<br /> <br /> 19<br /> <br /> 79,4% 100%<br /> <br /> Khoeo<br /> <br /> 1<br /> <br /> Hạch ổ bụng<br /> <br /> 1<br /> <br /> 2 vùng Hạch bẹn và chậu<br /> hạch<br /> Hạch bẹn 2 bên<br /> Hạch bẹn và<br /> khoeo cùng bên<br /> <br /> 2<br /> 2<br /> <br /> 7<br /> <br /> 20,6%<br /> <br /> 3<br /> <br /> 34/60 BN (60,7%) có di căn hạch bạch<br /> huyết. Trong đó, di căn một chặng hạch<br /> 27/34 BN (79,4%) và di căn hai chặng hạch<br /> 7/34 (20,6%). 4 trường hợp nghi ngờ di căn<br /> đến gan, phổi. 4 trường hợp vào viện sờ<br /> thấy hạch bạch huyết mà không tìm thấy tổn<br /> thương nguyên phát trên da, niêm mạc<br /> được chẩn đoán nhờ vào sinh thiết hạch,<br /> cho kết quả nh- sau: các tế bào biểu mô<br /> xâm nhập hạch, là tế bào nhân to nhỏ không<br /> đều, vành nhân méo mó, kiềm tính cao, chất<br /> nhiễm sắc thô, hạt nhân rõ. Các tế bào biểu<br /> mô này đứng thành đám lộn xộn, mất cực<br /> tính.<br /> * Giai đoạn lâm sàng theo AJCC (American<br /> Joint Committee on Cancer):<br /> Giai đoạn I: 13 BN (21,7%); giai đoạn II:<br /> 12 (20%); giai đoạn III: 29 BN (48,3%); giai<br /> đoạn IV: 6 BN (10%).<br /> Giai đoạn lâm sàng III chiếm tỷ lệ cao nhất<br /> (48,3%). Giai đoạn IV chiếm tỷ lệ thấp (10%).<br /> BN được chẩn đoán hầu hết ở giai đoạn muộn.<br /> Nghiên cứu trước đó của Bùi Thị Bắc cho<br /> kết quả tương tự [1]. Điều này có thể giải<br /> thích do BN đến khám muộn, ung thư đã<br /> tiến triển ở giai đoạn muộn. 38/60 BN đến<br /> viện được xác định có di căn, trong đó 4 BN<br /> vừa có di căn hạch vừa di căn xa đến các<br /> cơ quan gan, phổi, da và 7 BN có di căn 2<br /> chặng hạch. Các phương tiện chẩn đoán<br /> hình ảnh như siêu âm, chụp cộng hưởng từ,<br /> PET CT giúp xác định di căn hạch, cơ quan<br /> được tốt hơn. BN được phát hiện muộn có<br /> nhiều nguyên nhân khác nhau, do vị trí không<br /> điển hình của tổn thương, thiếu nhận thức<br /> và chủ quan về bệnh, do chẩn đoán sai và<br /> điều trị không đúng cách ở các tuyến dưới…<br /> khiến cho bệnh ở giai đoạn muộn tại thời<br /> <br /> 10<br /> <br /> TẠP CHÍ Y DƯỢC HỌC QUÂN SỰ SỐ 2-2014 - KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CHƯƠNG TRÌNH KHCN KC.10/11-15<br /> <br /> điểm chẩn đoán. Điều này ảnh hưởng đến<br /> hiệu quả điều trị và thời gian sống của BN.<br /> KẾT LUẬN<br /> <br /> 3. Adele Green, Margaret McCredie et al. A<br /> case-control study of melanomas of the soles<br /> and palms (Australia and Scotland). Cancer<br /> Causes & Control. 1999, 10 (1), pp.21-25.<br /> <br /> Qua nghiên cứu 60 BN ung thư TBHT,<br /> chúng tôi rút ra một số nhận xét sau:<br /> <br /> 4. Chang JW, Yeh KY et al. Malignant<br /> melanoma in Taiwan: a prognostic study of 181<br /> cases. Melanoma Res. 2004, 14 (6), pp.537-541.<br /> <br /> - Lứa tuổi trung niên 50 - 59 mắc bệnh<br /> nhiều nhất (21,7%), tiếp theo lµ lứa tuổi 40<br /> - 49 (20%), trung bình 56 tuổi.<br /> <br /> 5. Jerant AF, Johnson JT et al. Early detection<br /> and treatment of skin cancer. Am Fam Physician.<br /> 2000, 62 (2), pp.357-368, pp.375-376, pp.381-382.<br /> <br /> - Tỷ lệ mắc bệnh của nữ gấp 1,6 lần nam.<br /> - Nông dân mắc bệnh cao nhất, có thể do<br /> đặc thù nghề nghiệp phải làm việc ngoài<br /> nắng nhiều.<br /> - 83,9% có biểu hiện bệnh trên da, trong<br /> đó vị trí thường gặp nhất ở chi dưới (66%),<br /> đặc biệt phần gót chân và gan chân.<br /> - Thể lâm sàng gặp nhiều nhất là thể u và<br /> thể đầu cực.<br /> - Bệnh phần lớn được chẩn đoán ở giai<br /> đoạn muộn, 48,3% ở giai đoạn III, do đó tiên<br /> lượng bệnh không khả quan.<br /> <br /> 6. Katsambas A, Nicolaidou E. Cutaneous<br /> malignant melanoma and sun exposure. Recent<br /> developments in epidemiology. Arch Dermatol.<br /> 1996, 132 (4), pp.444-450.<br /> 7. Markovic SN, Erickson LA et al. Malignant<br /> melanoma in the 21st Century, Part 2: Staging,<br /> Prognosis, and Treatment. Mayo Clin Proc. 2007,<br /> 82 (4), pp.490-513.<br /> 8. Zhihong Chi, 1Siming Li et al. Clinical<br /> presentation, histology, and prognoses of malignant<br /> melanoma in ethnic Chinese: A study of 522<br /> consecutive cases. BMC Cancer. 2011, Vol 11:85.<br /> 1471-2407/11/85.<br /> <br /> - 56,7% BN có di căn ung thư tới hạch<br /> bạch huyết, 1 BN di căn gan, 1 BN di căn phổi,<br /> 2 BN di căn dưới da.<br /> TÀI LIỆU THAM KHẢO<br /> 1. Bùi Thị Bắc. Nghiên cứu đặc điểm lâm<br /> sàng và hình thái học u hắc tố ác tính. Trường<br /> Đại học Y Hà Nội. 1999, tr.26-27.<br /> 2. Nguyễn Đức Hùng, Phó Đức Mẫn, Cung<br /> Thị Tuyết Anh, Nguyễn Văn Sơn, Vũ Văn Vũ,<br /> Nguyễn Mạnh Quốc. Dịch tễ học ung thư hiện<br /> nay tại Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh phía<br /> nam Việt Nam. Y học Việt Nam. 1993, tập 173,<br /> số 17, tr.31-37.<br /> <br /> 11<br /> <br />
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2